G.Đ.P.T Huyền Quang Phật Pháp · Tam Tạng Kinh Điển Tăng Chi Bộ · AN 11.14
Lòng Tin Để Lại Dấu Vết Gì

Kinh Subhùti

Subhūti Sutta — AN 11.14 · Pāli · Việt · Anh

Tam TạngTạng KinhTrung BộKinh Subhùti

Làm sao BIẾT một người thật sự có lòng tin? Thế Tôn dạy: lòng tin phải ĐỂ LẠI DẤU VẾT (saddhāpadāna) — thấy được nơi NẾP SỐNG hằng ngày. Rồi Ngài kể ra MƯỜI MỘT tiêu chuẩn.

  • Bộ — Tăng Chi Bộ, Chương Mười Một Pháp, Phẩm Tùy Niệm (Anussativagga), kinh 14
  • Nhân vật — Tôn giả Subhūti dẫn theo một Tỷ-kheo tên Saddha
  • Chi tiết — vị ấy là con của nam cư sĩ Sudatta, vì lòng tin mà xuất gia
  • Đọc kèmAN 11.13, AN 11.11 (cùng phẩm) và AN 8.4

Bài kinh trả lời một câu hỏi rất thiết thực: làm sao biết một người thật sự có lòng tin? Đức Phật dạy rằng lòng tin không phải chỉ là lời nói hay cảm xúc, mà phải để lại "dấu vết" — saddhāpadāna, bản Việt dịch là "tiêu chuẩn về lòng tin của một người có lòng tin" — thấy được nơi nếp sống hằng ngày. Ngài kể ra mười một điều: (1) có giới, sống chế ngự với giới bổn Pātimokkha, thấy nguy hiểm trong những lỗi nhỏ nhặt; (2) nghe nhiều, thọ trì, tụng đọc, quán sát và thể nhập giáo pháp với chánh kiến; (3) làm bạn với thiện, thân hữu với thiện, giao thiệp với thiện; (4) là người dễ nói, kham nhẫn và khéo chấp nhận lời giáo giới; (5) siêng năng khéo léo trong mọi công việc lớn nhỏ của các vị đồng Phạm hạnh, "vừa đủ để làm, vừa đủ để tổ chức"; (6) ưa pháp, lời nói dễ thương, hân hoan lớn trong thắng Pháp thắng Luật; (7) tinh cần tinh tấn đoạn trừ bất thiện, không bỏ rơi gánh nặng đối với các thiện pháp; (8) chứng bốn Thiền không khó khăn, không mệt nhọc, không phí sức; (9) nhớ được nhiều đời quá khứ; (10) với thiên nhãn thanh tịnh siêu nhân thấy chúng sanh sống chết theo hạnh nghiệp; (11) đoạn tận các lậu hoặc, chứng và trú tâm giải thoát, tuệ giải thoát. Nghe xong, Tôn giả Subhūti thưa rằng tất cả những tiêu chuẩn ấy đều có nơi vị Tỷ-kheo đang ngồi đó, và vị ấy "được thấy là có chúng". Đức Phật khen "Lành thay, lành thay", rồi bảo Subhūti hãy sống chung với vị Tỷ-kheo ấy, và mỗi khi muốn đến yết kiến Như Lai thì hãy cùng vị ấy đi đến. Đối với Huynh Trưởng Gia Đình Phật Tử, bài kinh cho một thước đo rất cụ thể: bốn điều đầu — giữ giới, học hiểu giáo pháp, chọn bạn lành, dễ nghe lời góp ý — cùng với siêng làm việc chung và ưa pháp, là những điều đoàn sinh có thể thực tập ngay. Các điều sau thuộc phần tu chứng sâu, nêu lên để thấy lòng tin chân chánh đưa tới đâu.

Bố cục bài kinhTheo đúng thứ tự trong kinh văn

  • Duyên khởi: Subhūti dẫn một Tỷ-kheo đến yết kiến — Tôn giả Subhūti cùng vị Tỷ-kheo có lòng tin đến đảnh lễ Thế Tôn. Thế Tôn hỏi tên; Subhūti thưa vị ấy là con một nam cư sĩ có lòng tin, đã vì lòng tin xuất gia (đoạn 1).
  • Thế Tôn nêu vấn đề và Subhūti thỉnh pháp — Thế Tôn hỏi vị ấy có được thấy là sống trong những tiêu chuẩn về lòng tin không; Subhūti thưa "nay là thời cho vấn đề này" và thỉnh Thế Tôn thuyết; Thế Tôn bảo hãy nghe và khéo tác ý (đoạn 2–3).
  • Mười một tiêu chuẩn về lòng tin (saddhāpadāna) — Lần lượt: có giới; nghe nhiều; làm bạn với thiện; dễ nói; khéo léo tinh cần trong công việc của các vị đồng Phạm hạnh; ưa pháp; tinh cần tinh tấn; chứng bốn Thiền; túc mạng minh; thiên nhãn minh; lậu tận minh. Mỗi điều đều kết bằng câu "đây là tiêu chuẩn về lòng tin của một người có lòng tin" (đoạn 4–14).
  • Subhūti xác nhận vị Tỷ-kheo có đủ các tiêu chuẩn ấy — Subhūti lặp lại từng điều một và thưa rằng tất cả đều có trong vị Tỷ-kheo này, và vị này được thấy là có chúng (đoạn 15–26).
  • Thế Tôn ấn khả — "Lành thay, lành thay", Thế Tôn dạy Subhūti hãy an trú cùng vị Tỷ-kheo ấy và cùng vị ấy đến yết kiến Như Lai (đoạn 27).

Mỗi đoạn ghi nguyên văn Pāli, rồi bản Việt, rồi bản tiếng Anh. Số bên trái là số đoạn trong kinh, để đối chiếu được.

AN 11.14:1.3
Saddho nāmāyaṁ, bhante, bhikkhu, sudattassa upāsakassa putto, saddhā agārasmā anagāriyaṁ pabbajito”ti.
Bạch Thế Tôn, Tỷ-kheo này có lòng tin, con một người nam cư sĩ có lòng tin, đã vì lòng tin xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình.
“Sir, the name of this mendicant is Saddha. He is the son of the layman Sudatta, and has gone forth out of faith from the lay life to homelessness.”
AN 11.14:2.2–2.4
“Etassa, bhagavā, kālo; etassa, sugata, kālo, yaṁ bhagavā saddhassa saddhāpadānāni bhāseyya. Idānāhaṁ jānissāmi yadi vā ayaṁ bhikkhu sandissati saddhāpadānesu yadi vā no”ti.
Bạch Thế Tôn, nay là thời cho vấn đề này! Bạch Thiện Thệ, nay là thời cho vấn đề này, để Thế Tôn thuyết các tiêu chuẩn về lòng tin của một người có lòng tin; nay con sẽ biết được: “Vị Tỷ-kheo này có được thấy là sống trong những tiêu chuẩn về lòng tin của một người có lòng tin hay không? “
“Now is the time, Blessed One! Now is the time, Holy One! Let the Buddha speak on the evidence of faith. Now I will find out whether or not this mendicant Saddha exhibits the various evidences of faith.”
AN 11.14:4.1–4.2
“Idha, subhūti, bhikkhu sīlavā hoti, pātimokkhasaṁvarasaṁvuto viharati ācāragocarasampanno aṇumattesu vajjesu bhayadassāvī, samādāya sikkhati sikkhāpadesu. Yampi, subhūti, bhikkhu sīlavā hoti …pe… samādāya sikkhati sikkhāpadesu, idampi, subhūti, saddhassa saddhāpadānaṁ hoti.
Ở đây, này Subhùti, Tỷ-kheo có giới, sống chế ngự với sự chế ngự của giới bổn Pàtimokkha, đầy đủ oai nghi chánh hạnh, thấy nguy hiểm trong những lỗi nhỏ nhặt, chấp nhận và tu học trong các học pháp. Này Subhùti, vị Tỷ-kheo nào có giới, sống chế ngự với sự chế ngự của giới bổn Pàtimokkha, đầy đủ oai nghi chánh hạnh, thấy nguy hiểm trong những lỗi nhỏ nhặt, chấp nhận và tu học trong các học pháp. Này Subhùti, đây là tiêu chuẩn về lòng tin của một người có lòng tin.
“Firstly, a mendicant is ethical, restrained in the monastic code, conducting themselves well and resorting for alms in suitable places. Seeing danger in the slightest fault, they keep the rules they’ve undertaken. When a mendicant is ethical, this is evidence of faith.
AN 11.14:6.1–6.2
Puna caparaṁ, subhūti, bhikkhu kalyāṇamitto hoti kalyāṇasahāyo kalyāṇasampavaṅko. Yampi, subhūti, bhikkhu kalyāṇamitto hoti kalyāṇasahāyo kalyāṇasampavaṅko, idampi, subhūti, saddhassa saddhāpadānaṁ hoti.
Lại nữa, này Subhùti, Tỷ-kheo làm bạn với thiện, thân hữu với thiện, giao thiệp với thiện. Này Subhùti, Tỷ-kheo nào làm bạn với thiện, thân hữu với thiện, giao thiệp với thiện. Này Subhùti, đây là tiêu chuẩn về lòng tin của một người có lòng tin.
Furthermore, a mendicant has good friends, companions, and associates. When a mendicant has good friends, this is evidence of faith.
AN 11.14:7.1–7.2
Puna caparaṁ, subhūti, bhikkhu suvaco hoti sovacassakaraṇehi dhammehi samannāgato khamo padakkhiṇaggāhī anusāsaniṁ. Yampi, subhūti, bhikkhu suvaco hoti sovacassakaraṇehi dhammehi samannāgato khamo padakkhiṇaggāhī anusāsaniṁ, idampi, subhūti, saddhassa saddhāpadānaṁ hoti.
Lại nữa, này Subhùti, Tỷ-kheo là người dễ nói, thành tựu những pháp tác thành người dễ nói, kham nhẫn và khéo chấp nhận những lời giáo giới. Này Subhùti, Tỷ-kheo nào dễ nói, thành tựu những pháp tác thành người dễ nói, kham nhẫn và khéo chấp nhận những lời giáo giới. Này Subhùti, đây là tiêu chuẩn về lòng tin của một người có lòng tin.
Furthermore, a mendicant is easy to admonish, having qualities that make them easy to admonish. They’re patient, and take instruction respectfully. When a mendicant is easy to admonish, this is evidence of faith.
AN 11.14:8.1
Puna caparaṁ, subhūti, bhikkhu yāni tāni sabrahmacārīnaṁ uccāvacāni kiṅkaraṇīyāni tatra dakkho hoti analaso tatrupāyāya vīmaṁsāya samannāgato alaṁ kātuṁ alaṁ saṁvidhātuṁ.
Lại nữa, này Subhùti, Tỷ-kheo phàm có những công việc gì cần phải làm, hoặc lớn, hoặc nhỏ, đối với các vị đồng Phạm hạnh, ở đây, vị ấy khéo léo và tinh cần, thành tựu sự quán sát các phương tiện, vừa đủ để làm, vừa đủ để tổ chức.
Furthermore, a mendicant is deft and tireless in a diverse spectrum of duties for their spiritual companions, understanding how to go about things in order to complete and organize the work.
AN 11.14:9.1
Puna caparaṁ, subhūti, bhikkhu dhammakāmo hoti piyasamudāhāro abhidhamme abhivinaye uḷārapāmojjo.
Lại nữa, này Subhùti, Tỷ-kheo ưa pháp, lời nói dễ thương, hân hoan lớn trong thắng Pháp, trong thắng Luật.
Furthermore, a mendicant loves the teachings and is a delight to converse with, being full of joy in the teaching and training.
AN 11.14:27.1–27.3
“Sādhu sādhu, subhūti. Tena hi tvaṁ, subhūti, iminā ca saddhena bhikkhunā saddhiṁ vihareyyāsi. Yadā ca tvaṁ, subhūti, ākaṅkheyyāsi tathāgataṁ dassanāya, iminā saddhena bhikkhunā saddhiṁ upasaṅkameyyāsi tathāgataṁ dassanāyā”ti.
Lành thay, lành thay này Subhùti! Vậy này Subhùti, Thầy hãy an trú với Tỷ-kheo, có lòng tin này. Khi nào, này Subhùti, Thầy muốn yết kiến Như Lai, hãy cùng với Tỷ-kheo có lòng tin này đi đến yết kiến Như Lai.
“Good, good, Subhūti! So, Subhūti, you should live together with this mendicant Saddha. And when you want to see the Realized One, you should come together with him.”
Chữ PāliNghĩaGhi chú
saddhālòng tinBản Việt: "lòng tin"; bản Anh: "faith". Cũng là tên của vị Tỷ-kheo trong kinh (Saddha).
saddhāpadānatiêu chuẩn (dấu vết) về lòng tinBản Việt dịch "tiêu chuẩn về lòng tin của một người có lòng tin"; bản Anh "evidence of faith".
pātimokkhasaṁvarasự chế ngự của giới bổn Pātimokkha
kalyāṇamittabạn lành, làm bạn với thiệnĐi chung với kalyāṇasahāya (thân hữu với thiện), kalyāṇasampavaṅka (giao thiệp với thiện).
suvacongười dễ nói (dễ được khuyên bảo)sovacassakaraṇā dhammā: những pháp tác thành người dễ nói.
bahussutanghe nhiều, đa văn
āraddhavīriyasống tinh cần, tinh tấn được khởi lên
anikkhittadhurakhông bỏ rơi gánh nặng (đối với các thiện pháp)
jhānaThiền (bốn Thiền thuộc tăng thượng tâm, hiện tại lạc trú)
pubbenivāsānussatinhớ đến nhiều đời sống quá khứ (túc mạng minh)
dibbacakkhuthiên nhãn thanh tịnh siêu nhân
āsavānaṁ khayađoạn diệt các lậu hoặc
cetovimutti, paññāvimuttitâm giải thoát, tuệ giải thoát

Xin thưa bài kinh này trả lời một câu hỏi rất khó, mà anh chị em Huynh Trưởng gặp hoài: làm sao BIẾT một người thật sự có lòng tin?

Cảnh mở đầu có một chi tiết vui: vị Tỷ-kheo ấy TÊN LÀ “SADDHA” — mà saddhā chính là chữ LÒNG TIN. Bản Việt dịch theo nghĩa: “Tỷ-kheo có lòng tin”.

Và Tôn giả Subhūti giới thiệu: vị ấy là “con một người nam cư sĩ có lòng tin, ĐÃ VÌ LÒNG TIN XUẤT GIA”.

Thế Tôn không khen ngay. Ngài hỏi lại một câu rất nghiêm: vị ấy có ĐƯỢC THẤY là sống trong những TIÊU CHUẨN về lòng tin hay không?

Xin thưa chỗ ấy mới là đề tài của bài kinh. Tên là “lòng tin”, xuất gia vì lòng tinvẫn chưa đủ. Phải THẤY ĐƯỢC.

Chữ Pāli là saddhāpadāna“dấu vết của lòng tin”; bản Việt dịch là “tiêu chuẩn về lòng tin của một người có lòng tin”.

Con thấy chữ “dấu vết” rất hay: lòng tin thì không nhìn thấy được, nhưng nó ĐI QUA đâu thì để dấu ở đó.

Mười một dấu vết ấy, xin kể theo bản Việt. BỐN điều đầu là điều đoàn sinh làm được ngay:

MỘT — CÓ GIỚI: sống chế ngự với giới bổn, “thấy nguy hiểm trong những lỗi NHỎ NHẶT”.

HAI — NGHE NHIỀU: thọ trì, tụng đọc, quán sát và THỂ NHẬP giáo pháp với chánh kiếnkhông phải thuộc lòng suông.

BA — LÀM BẠN VỚI THIỆN: “bạn với thiện, thân hữu với thiện, giao thiệp với thiện”.

BỐN — LÀ NGƯỜI DỄ NÓI: “kham nhẫn và KHÉO CHẤP NHẬN những lời giáo giới”.

Xin thưa điều thứ tư này con thấy quý nhất trong bốn điều, vì nó là điều DUY NHẤT người ta không tự khen mình được. Chỉ người khác mới biết mình có dễ nói hay không.

nó ăn thẳng với AN 8.4 — chỗ nói “mắng nhiếc quở trách các đồng Phạm hạnh” là nết làm người ta xa mình.

NĂM — SIÊNG NĂNG KHÉO LÉO trong mọi công việc lớn nhỏ của các vị đồng Phạm hạnh, “vừa đủ để LÀM, vừa đủ để TỔ CHỨC”.

Con thấy điều này rất đúng với việc đoàn: kinh KHÔNG chỉ khen người làm giỏi, mà khen cả người BIẾT SẮP XẾP CHO NGƯỜI KHÁC LÀM.

SÁU — ƯA PHÁP: lời nói dễ thương, hân hoan lớn trong thắng Pháp thắng Luật. BẢY — TINH CẦN TINH TẤN, “không bỏ rơi gánh nặng đối với các thiện pháp”.

Rồi bốn điều sau thuộc phần tu chứng sâu: chứng BỐN THIỀN không khó khăn; nhớ nhiều đời quá khứ; thiên nhãn thấy chúng sanh sống chết theo hạnh nghiệp; và đoạn tận các lậu hoặc.

Xin thưa đừng lấy bốn điều sau ra đo ai cảkinh nêu lên để cho thấy LÒNG TIN CHÂN CHÁNH ĐƯA TỚI ĐÂU, chứ không phải để làm bảng chấm điểm.

đoạn kết mới cảm động. Tôn giả Subhūti lặp lại TỪNG ĐIỀU MỘT và thưa rằng tất cả đều có nơi vị Tỷ-kheo đang ngồi đó, và vị ấy “ĐƯỢC THẤY là có chúng”.

Thế Tôn khen “Lành thay, lành thay”, rồi dạy Subhūti hãy SỐNG CHUNG với vị ấy, và mỗi khi muốn đến yết kiến Như Lai thì HÃY CÙNG VỊ ẤY ĐI ĐẾN.

Con thấy đó là lời khen cao: không phải khen bằng lời, mà bằng cách bảo người khác HÃY Ở GẦN.

Xin thưa lời cuối cho anh chị em Huynh Trưởng. Con nghĩ bốn điều đầu và điều thứ năm là bảng tự soi rất hợp cho đoànvà điều thứ tư thì xin để anh chị em hỏi NGƯỜI KHÁC, đừng tự chấm.

Xin thưa hai việc về trang. Thứ nhất: ô trích thứ ba lúc dựng đầu có chèn DẤU LƯỢC CỦA NGƯỜI BIÊN TẬP — “[…]” — thay cho câu lặp lại trong bản dịch của Hoà thượng.

Luật của trang là ô trích CHỈ chứa nguyên văn kinh văn, không được chèn dấu lược do trang tự đặt; và chính các ô khác của bài này đều giữ đủ câu lặp, nên chỗ ấy không có lý do gì để lược. Đã tải bản dịch của Hoà thượng và chép lại ĐỦ nguyên văn.

Thứ hai, về cách kiểm: 16 ô Pāli/Anh đối chiếu với tệp nguồn và 8 ô tiếng Việt đối chiếu với bản dịch của Hoà thượng — sau khi sửa thì tất cả đều đúng nguyên văn.

  • “Có lòng tin là chuyện trong lòng, ai biết được.” Cả bài kinh nói ngược lại: lòng tin ĐỂ LẠI DẤU VẾT (saddhāpadāna), THẤY ĐƯỢC nơi nếp sống.
  • “Xuất gia vì lòng tin là đủ chứng tỏ.” Vị ấy TÊN là “lòng tin”đã vì lòng tin xuất giaThế Tôn VẪN hỏi vị ấy có ĐƯỢC THẤY hay không.
  • “Nghe nhiều là thuộc lòng nhiều.” Kinh nói thọ trì, tụng đọc, QUÁN SÁT và THỂ NHẬP với chánh kiến.
  • “Mười một điều này là bảng chấm điểm.” Bốn điều sau là phần tu chứng sâu — kinh nêu để cho thấy lòng tin chân chánh đưa tới đâu, không phải để đo người.
  • “Dễ nói nghĩa là hiền lành, ai nói gì cũng nghe.” Kinh nói “kham nhẫn và KHÉO CHẤP NHẬN những lời GIÁO GIỚI”là chuyện tiếp nhận lời chỉ dạy, không phải chuyện nhu nhược.
  • “Siêng năng là làm cho nhiều.” Kinh nói “vừa đủ để LÀM, vừa đủ để TỔ CHỨC”gồm cả việc sắp xếp cho người khác làm.
  • Ngành Oanh. Chỉ kể chuyện: “ông ấy tên là Lòng Tin — nhưng Phật vẫn hỏi: có THẤY được không?”
  • Ngành Thiếu. Học bốn điều đầu, và đừng đụng tới bốn điều sau.
  • Ngành Thanh và Huynh Trưởng. Dùng năm điều đầu làm bảng tự soi. Riêng điều thứ tư (“dễ nói”) thì hỏi NGƯỜI KHÁC, đừng tự chấm.
  • Vị Tỷ-kheo trong kinh tên là gì, và tên ấy nghĩa là gì?
  • “Tiêu chuẩn về lòng tin” trong tiếng Pāli nghĩa đen là gì?
  • Kể bốn điều đầu.
  • Vì sao điều thứ tư khó tự chấm nhất?
  • Thế Tôn khen bằng cách nào ở cuối kinh?

Nguyên văn Pāli chép từ ấn bản Mahāsaṅgīti — tệp dữ liệu gốc bilara-data của suttacentral.net, từng đoạn có đánh số. Bản tiếng Việt của Hoà thượng Thích Minh Châu; bản tiếng Anh của Tỳ-kheo Sujato. Bài này đã qua một lượt soi lại độc lập. Muốn đọc trọn bài kinh, xin xem nguyên văn ba thứ tiếng. Thấy chỗ nào khác ấn bản in, xin báo cho chúng tôi.