G.Đ.P.T Huyền Quang Phật Pháp · Tam Tạng Kinh Điển Tăng Chi Bộ · AN 11.13
Vừa Lo Việc Làm Ăn · Vừa Được Gần Phật

Kinh Nandiya

Nandiya Sutta — AN 11.13 · Pāli · Việt · Anh

Tam TạngTạng KinhTrung BộKinh Nandiya

Cư sĩ Nandiya nghe tin Thế Tôn an cư ở Sāvatthī, liền dời về đó ở luôn ba thángvừa lo công việc làm ăn, vừa thỉnh thoảng được yết kiến Thế Tôn. Rồi ông hỏi: nên an trú theo lối nào? Đáp: SÁU pháp nền, rồi NĂM tùy niệm.

  • Bộ — Tăng Chi Bộ, Chương Mười Một Pháp, Phẩm Tùy Niệm (Anussativagga), kinh 13
  • Nơi chốnKapilavatthu, khu vườn Nigrodha, rồi an cư tại Sāvatthī
  • Nhân vậthọ Thích Nandiya, một cư sĩ
  • Đọc kèmAN 11.11 (cùng khuôn, cho cư sĩ Mahànàma) và AN 6.9

Kinh Nandiya nằm trong Chương Mười Một Pháp, Phẩm Tùy Niệm (Anussativagga) của Tăng Chi Bộ. Bối cảnh: Thế Tôn đang trú giữa dân chúng Sakka, tại Kapilavatthu, khu vườn Nigrodha, rồi Ngài muốn an cư mùa mưa tại Sāvatthī. Họ Thích Nandiya, một cư sĩ, nghe tin liền quyết định cũng về Sāvatthī an cư, vừa lo công việc làm ăn vừa thỉnh thoảng được yết kiến Thế Tôn. Đến gần cuối ba tháng an cư, Nandiya nghe nhiều Tỷ-kheo đang làm y cho Thế Tôn, nghĩa là y làm xong thì Thế Tôn sẽ bộ hành ra đi. Biết sắp xa Phật, Nandiya đến hỏi một câu rất thiết thực cho người cư sĩ: giữa bao nhiêu lối sống, lối an trú khác nhau, chúng con nên an trú theo lối nào? Thế Tôn khen "Lành thay" và dạy trước hết sáu pháp làm nền: lòng tin, giới, tinh cần tinh tấn, trú niệm, định, và trí tuệ — mỗi pháp đều nêu kèm mặt trái phải tránh (không lòng tin, không giới, biếng nhác, thất niệm, không định, liệt tuệ). Sau khi an trú trong sáu pháp ấy, hành giả tu tập thêm năm pháp tùy niệm trong nội tâm: tùy niệm Như Lai (công thức mười danh hiệu Phật — văn xuôi, bài kinh này không có kệ), tùy niệm Pháp (Pháp được Thế Tôn khéo nói, thiết thực hiện tại, không có thời gian, đến để mà thấy…), tùy niệm bạn lành (kalyāṇamitta), tùy niệm hạnh bố thí của chính mình (cāga), và tùy niệm chư Thiên (devatā). Sáu cộng năm thành mười một pháp. Thế Tôn kết luận: vị Thánh đệ tử thành tựu mười một pháp này thì từ bỏ các ác bất thiện pháp, không chấp thủ chúng — ví như cái ghè úp ngược, nước đã đổ ra không hốt lại được; ví như ngọn lửa cháy lan qua khóm cỏ khô, không trở lui đốt lại vật đã cháy. Đây là bài kinh rất hợp để dạy đoàn sinh và huynh trưởng: nền tảng tu học của người cư sĩ bận rộn, và năm đề mục tùy niệm có thể hành trì giữa đời sống hằng ngày.

Bố cục bài kinhTheo đúng thứ tự trong kinh văn

  • 1. Duyên khởi: an cư mùa mưa tại Sāvatthī — Thế Tôn trú tại Kapilavatthu, khu vườn Nigrodha, muốn an cư mùa mưa tại Sāvatthī. Họ Thích Nandiya nghe được, cũng đến Sāvatthī an cư để vừa lo công việc vừa thỉnh thoảng được yết kiến Thế Tôn. (đoạn 1–3)
  • 2. Câu hỏi của họ Thích Nandiya — Nandiya nghe nhiều Tỷ-kheo đang làm y cho Thế Tôn, biết Ngài sắp bộ hành ra đi; ông đến đảnh lễ và hỏi: giữa những an trú khác nhau, chúng con nên an trú với an trú của ai. (đoạn 4)
  • 3. Sáu pháp làm nền — Thế Tôn khen ngợi câu hỏi, rồi dạy sáu pháp: lòng tin, giới, tinh cần tinh tấn, trú niệm, định, trí tuệ — mỗi pháp nêu kèm mặt trái phải tránh. (đoạn 5.1–5.9)
  • 4. Năm pháp tùy niệm trong nội tâm — Sau khi an trú trong sáu pháp, tu tập thêm năm pháp: tùy niệm Như Lai, tùy niệm Pháp, tùy niệm bạn lành, tùy niệm thí của mình, tùy niệm chư Thiên. (đoạn 5.10–10.5)
  • 5. Kết luận và hai ví dụ — Thành tựu mười một pháp, vị Thánh đệ tử từ bỏ các ác bất thiện pháp, không chấp thủ chúng — ví như cái ghè bị úp ngược nước đã đổ ra không hốt lại được, ví như ngọn lửa cháy khóm cỏ khô không trở lui đốt lại vật đã cháy. (đoạn 11)

Mỗi đoạn ghi nguyên văn Pāli, rồi bản Việt, rồi bản tiếng Anh. Số bên trái là số đoạn trong kinh, để đối chiếu được.

AN 11.13, đoạn 1.1
Ekaṁ samayaṁ bhagavā sakkesu viharati kapilavatthusmiṁ nigrodhārāme.
Một thời, Thế Tôn trú ở giữa dân chúng Sakka, tại Kapilavatthu, khu vườn Nigrodha.
At one time the Buddha was staying in the land of the Sakyans, near Kapilavatthu in the Banyan Tree Monastery.
AN 11.13, đoạn 4.8
Tesaṁ no, bhante, nānāvihārehi viharataṁ kenassa vihārena vihātabban”ti?
Bạch Thế Tôn, giữa những người an trú với những an trú khác nhau, chúng con nên an trú với an trú của ai?
Now, we spend our life in various ways. Which of these should we practice?
AN 11.13, đoạn 5.4–5.9
Saddho kho, nandiya, ārādhako hoti, no assaddho; sīlavā ārādhako hoti, no dussīlo; āraddhavīriyo ārādhako hoti, no kusīto; upaṭṭhitassati ārādhako hoti, no muṭṭhassati; samāhito ārādhako hoti, no asamāhito; paññavā ārādhako hoti, no duppañño.
Này Nandiya, hãy nhập cuộc với lòng tin, không với không có lòng tin. Hãy nhập cuộc với có giới, không phải với không giới. Hãy nhập cuộc với tinh cần tinh tấn, không với biếng nhác. Hãy nhập cuộc với trú niệm, không với thất niệm. Hãy nhập cuộc với định, không với không định. Hãy nhập cuộc với trí tuệ, không với liệt tuệ.
The faithful succeed, not the faithless. The ethical succeed, not the unethical. The energetic succeed, not the lazy. The mindful succeed, not the unmindful. Those with immersion succeed, not those without immersion. The wise succeed, not the witless.
AN 11.13, đoạn 5.10
Imesu kho te, nandiya, chasu dhammesu patiṭṭhāya pañcasu dhammesu ajjhattaṁ sati upaṭṭhāpetabbā.
Sau khi an trú trong sáu pháp, này Nandiya, hãy tu tập thêm nữa năm pháp này.
When you’re grounded on these six things, go on to establish mindfulness on five further things internally.
AN 11.13, đoạn 6.1–6.2
Idha tvaṁ, nandiya, tathāgataṁ anussareyyāsi: ‘itipi so bhagavā arahaṁ sammāsambuddho vijjācaraṇasampanno sugato lokavidū anuttaro purisadammasārathi, satthā devamanussānaṁ buddho bhagavā’ti.
Ở đây, này Nandiya, Ông hãy tùy niệm Như Lai: “Ðây là Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn”.
Firstly, you should recollect the Realized One: ‘That Blessed One is perfected, a fully awakened Buddha, accomplished in knowledge and conduct, holy, knower of the world, supreme guide for those fit for training, teacher of gods and humans, awakened, blessed.’
AN 11.13, đoạn 7.1–7.2
Puna caparaṁ tvaṁ, nandiya, dhammaṁ anussareyyāsi: ‘svākkhāto bhagavatā dhammo sandiṭṭhiko akāliko ehipassiko opaneyyiko paccattaṁ veditabbo viññūhī’ti.
Lại nữa, này Nandiya, Ông phải tùy niệm Pháp: “Pháp được Thế Tôn khéo nói, thiết thực hiện tại, không có thời gian, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được người trí tự mình giác hiểu.
Furthermore, you should recollect the teaching: ‘The teaching is well explained by the Buddha—apparent in the present life, immediately effective, inviting inspection, relevant, so that sensible people can know it for themselves.’
AN 11.13, đoạn 8.1–8.3
Puna caparaṁ tvaṁ, nandiya, kalyāṇamitte anussareyyāsi: ‘lābhā vata me, suladdhaṁ vata me, yassa me kalyāṇamittā anukampakā atthakāmā ovādakā anusāsakā’ti.
Lại nữa, này Nandiya, cần phải tùy niệm bạn lành: “Thật có lợi cho ta! Thật khéo có lợi cho ta, rằng ta có các bạn lành biết thương mến ta, muốn ta được lợi ích, giáo giới giảng dạy”.
Furthermore, you should recollect your good friends: ‘I’m fortunate, so very fortunate, to have good friends who advise and instruct me out of kindness and sympathy.’
AN 11.13, đoạn 11.1–11.3
Imehi kho, nandiya, ekādasahi dhammehi samannāgato ariyasāvako pajahateva pāpake akusale dhamme, na upādiyati. Seyyathāpi, nandiya, kumbho nikkujjo vamateva udakaṁ, no vantaṁ paccāvamati; seyyathāpi vā pana, nandiya, sukkhe tiṇadāye aggi mutto ḍahaññeva gacchati, no daḍḍhaṁ paccudāvattati;
Thành tựu với mười một pháp này, này Nandiya, vị Thánh đệ tử từ bỏ các ác bất thiện pháp, không chấp thủ chúng. Ví như, này Nandiya, một cái ghè bị úp ngược, nước đã đổ ra, không thể đem hốt lại. Ví như ngọn lửa đốt một khóm rừng đầy cỏ khô đã được cháy lan tới, không có trở lui đốt lại vật đã bị cháy.
A noble disciple who possesses these eleven qualities gives up bad, unskillful qualities and doesn’t cling to them. It’s like when a pot full of water is tipped over, so the water drains out and doesn’t go back in. Suppose there was an uncontrolled fire. It advances burning up dry woodlands and doesn’t turn back over what it has burned.
Chữ PāliNghĩaGhi chú
anussatitùy niệm — nhớ nghĩ, niệm tưởng liên tục về một đề mụcTên phẩm chứa kinh này là Anussativagga (Phẩm Tùy Niệm).
vihāraan trú, lối sống, chỗ trú của tâmCâu hỏi của Nandiya dùng chữ này: nānāvihārehi viharataṁ.
saddhālòng tin
sīlagiới
vīriya (āraddhavīriya)tinh tấn; tinh cần tinh tấn
sati (upaṭṭhitassati)niệm; trú niệm — trái với muṭṭhassati (thất niệm)
samādhi (samāhita)định; có định
paññātrí tuệ — trái với duppañña (liệt tuệ)
kalyāṇamittabạn lành, thiện hữu tri thức
cāgathí, hạnh xả thí, bố thí
devatāchư Thiên
ariyasāvakavị Thánh đệ tử
vassāvāsaan cư mùa mưa
manomaya kāyathân do ý tác thànhNói về chư Thiên vượt khỏi hàng chư Thiên dùng đoàn thực (kabaḷīkārāhāra).

Xin thưa bài này rất giống AN 11.11 — cũng một cư sĩ hỏi “nên sống cách nào” — nhưng cảnh mở đầu thì khác, và con thấy cảnh ấy rất đáng kể cho các em nghe.

Thế Tôn đang ở Kapilavatthu, rồi muốn an cư mùa mưa tại Sāvatthī. Nandiya nghe được tin ấy — và ông làm một việc rất thực tế.

Ông cũng dời về Sāvatthī an cư, để VỪA LO CÔNG VIỆC LÀM ĂN, VỪA THỈNH THOẢNG ĐƯỢC YẾT KIẾN THẾ TÔN.

Xin thưa con thấy chi tiết ấy rất quý, vì kinh KHÔNG chê ông vì còn lo làm ăn, cũng không bảo ông bỏ việc mà đi tu. Kinh chỉ ghi: ông SẮP XẾP để được gần Pháp.

đó chính là chỗ của người cư sĩ: không bỏ đời, mà thu xếp cho đời mình có chỗ cho Pháp.

Gần cuối ba tháng, ông nghe nhiều Tỷ-kheo đang LÀM Y cho Thế Tôndấu hiệu Ngài sắp bộ hành ra đi. Biết sắp xa Phật, ông đến hỏi.

Câu hỏi: “giữa những người an trú với những an trú KHÁC NHAU, chúng con nên an trú với an trú của AI?”

Thế Tôn khen “Lành thay”, rồi dạy SÁU PHÁP LÀM NỀN — và mỗi pháp đều nêu KÈM MẶT TRÁI phải tránh:

LÒNG TIN (không phải không lòng tin); CÓ GIỚI (không phải không giới); TINH CẦN TINH TẤN (không biếng nhác); TRÚ NIỆM (không thất niệm); ĐỊNH (không phải không định); TRÍ TUỆ (không phải liệt tuệ).

Xin để ý bài AN 11.11 dạy Mahànàma NĂM pháp nền, còn bài này dạy Nandiya SÁUthêm chữ GIỚI.

Rồi: “SAU KHI AN TRÚ trong sáu pháp, hãy tu tập THÊM NỮA NĂM PHÁP NÀY.” Sáu cộng năm là MƯỜI MỘT — đúng số của Chương.

Năm pháp tùy niệm: niệm NHƯ LAI; niệm PHÁP; niệm BẠN LÀNH (kalyāṇamitta); niệm HẠNH BỐ THÍ của chính mình; và niệm CHƯ THIÊN.

Xin thưa chỗ khác của bài này là TÙY NIỆM BẠN LÀNHpháp mà bảng sáu tùy niệm quen thuộc KHÔNG có.

Và lời tùy niệm ấy rất ấm: “THẬT CÓ LỢI CHO TA! Thật khéo có lợi cho ta, rằng ta có các BẠN LÀNH biết THƯƠNG MẾN ta, MUỐN TA ĐƯỢC LỢI ÍCH, GIÁO GIỚI GIẢNG DẠY.”

Con nghĩ đó là một phép niệm rất hợp với đời sống đoàn: ngồi xuống mà NHỚ RA mình đang có ai bên cạnh.

Kinh kết bằng HAI VÍ DỤ, và con thấy cả hai đều nói về chuyện KHÔNG QUAY LẠI.

Ví dụ thứ nhất: như CÁI GHÈ BỊ ÚP NGƯỢCnước đã đổ ra thì KHÔNG HỐT LẠI ĐƯỢC.

Ví dụ thứ hai: như NGỌN LỬA cháy lan qua khóm cỏ khôKHÔNG TRỞ LUI đốt lại vật đã cháy.

Nghĩa là: vị Thánh đệ tử thành tựu mười một pháp ấy thì TỪ BỎ các ác bất thiện pháp và KHÔNG CHẤP THỦ chúng nữakhông quay lại nhặt lên.

Xin thưa lời cuối cho anh chị em Huynh Trưởng. Con nghĩ bài này nên đọc CÙNG AN 11.11hai bài, hai người cư sĩ, cùng một câu hỏi.

chỗ đáng dạy riêng của bài này là CẢNH MỞ ĐẦU: một người bận làm ăn mà biết THU XẾP để được gần Pháp ba tháng. Đó là việc các anh chị em vẫn làm mỗi Chủ nhật.

Xin thưa ba việc về trang. Thứ nhất, về cách kiểm: mỗi ô “pali”“anh” đã được đối chiếu TỰ ĐỘNG với tệp nguồn12 ô đều đúng nguyên văn.

Thứ hai: phần tóm lược do trang soạn gọi công thức “itipi so bhagavā…”“BÀI KỆ mười danh hiệu Phật”; đó là văn xuôi, và cả bài kinh này KHÔNG có bài kệ nào. Đã sửa thành “công thức”.

Thứ ba: hai ô trích ghi biên số 6.27.2, nhưng phần chép trải từ 6.1 và 7.1 (câu dẫn “Ở đây, này Nandiya, Ông hãy tùy niệm Như Lai:”). Đã ghi lại biên số thành 6.1–6.27.1–7.2; không sửa một chữ nào trong ô.

Và xin thưa thêm: chốt chặn của trang bắt được một câu ghi ĐƯỜNG DẪN TỆP LÀM VIỆC trên máy lọt vào phần ghi chú. Đó là chuyện của máy, không phải chuyện của người đọc kinh — đã cắt bỏ.

  • “Muốn tu thì phải bỏ việc làm ăn.” Kinh ghi Nandiya dời về Sāvatthī để VỪA LO CÔNG VIỆC VỪA được yết kiến Thế Tônvà không có một lời chê nào.
  • “Sáu tùy niệm thì bài nào cũng như bài nào.” Bài này có NĂM tùy niệm, và có TÙY NIỆM BẠN LÀNHpháp mà bảng sáu quen thuộc không có.
  • “AN 11.11 và bài này giống hệt nhau.” AN 11.11 dạy NĂM pháp nền, bài này dạy SÁUthêm chữ GIỚI; và năm tùy niệm cũng khác.
  • “Cái ghè úp ngược nghĩa là mất hết.” Ví dụ nói chuyện KHÔNG QUAY LẠI: nước đã đổ thì không hốt lạiác pháp đã bỏ thì không nhặt lên nữa.
  • “Tùy niệm bạn lành là nhớ ơn.” Lời kinh là “thật có lợi cho TA”một phép niệm để TÂM MÌNH vững, nhớ rằng mình đang được ai giáo giới giảng dạy.
  • “Bài kinh có kệ.” Không. Công thức “itipi so bhagavā…”văn xuôi; cả bài không có bài kệ nào.
  • Ngành Oanh. Kể cảnh mở đầu: “ông ấy dọn nhà tới gần chùa ba tháng để vừa đi làm vừa được gặp Phật.”
  • Ngành Thiếu. Học sáu pháp nền (mỗi pháp có mặt trái) và tùy niệm BẠN LÀNH.
  • Ngành Thanh và Huynh Trưởng. Đọc kèm AN 11.11. Bàn: vì sao bài này thêm chữ GIỚI vào phần nền?hai ví dụ cuối nói điều gì?
  • Vì sao Nandiya dời về Sāvatthī?
  • Sáu pháp làm nền là gì?
  • Năm pháp tùy niệm là gì?
  • Pháp tùy niệm nào ở đây mà bảng sáu quen thuộc không có?
  • Hai ví dụ cuối nói lên điều gì?

Nguyên văn Pāli chép từ ấn bản Mahāsaṅgīti — tệp dữ liệu gốc bilara-data của suttacentral.net, từng đoạn có đánh số. Bản tiếng Việt của Hoà thượng Thích Minh Châu; bản tiếng Anh của Tỳ-kheo Sujato. Bài này đã qua một lượt soi lại độc lập. Lượt soi ấy chỉ ra 1 chỗ cần xem lại; chỗ nào là lỗi thật thì chúng tôi đã sửa và ghi rõ ở Phần IV. Muốn đọc trọn bài kinh, xin xem nguyên văn ba thứ tiếng. Thấy chỗ nào khác ấn bản in, xin báo cho chúng tôi.