G.Đ.P.T Huyền Quang Phật Pháp · Tam Tạng Kinh Điển Tăng Chi Bộ · AN 11.10
Không Phải Dòng Dõi · Mà Là Minh Và Hạnh

Kinh Rừng Khổng Tước

Moranivāpa Sutta — AN 11.10 · Pāli · Việt · Anh

Tam TạngTạng KinhTrung BộKinh Rừng Khổng Tước

Thế Tôn nêu ba nhóm BA pháp đưa đến cứu cánh — rồi thu lại còn HAI: MINHHẠNH. Và kết bằng bài kệ: giữa người tin dòng dõi thì Sát-lỵ tối thắng, nhưng bậc MINH HẠNH ĐẦY ĐỦ mới là tối thắng giữa Nhân và Thiên.

  • Bộ — Tăng Chi Bộ, Chương Mười Một Pháp, Phẩm Y Chỉ (Nissayavagga), kinh 10
  • Nơi chốnVương Xá (Rājagaha), chỗ nuôi dưỡng khổng tước trong khu vườn các du sĩ
  • Bài kệ — của Phạm thiên Sanaṅkumāra, được Thế Tôn CHẤP NHẬN và nói lại
  • Đọc kèmAN 3.90 (giới, định, tuệ) và DN 3

Đây là bài kinh ngắn cuối Phẩm Y Chỉ, Chương Mười Một Pháp. Thế Tôn đang trú tại Vương Xá, ở chỗ nuôi dưỡng khổng tước trong khu vườn các du sĩ, gọi các Tỷ-kheo lại và dạy về những nhóm pháp làm cho vị Tỷ-kheo "đạt được cứu cánh của cứu cánh, cứu cánh an ổn khỏi các khổ ách, cứu cánh Phạm hạnh, cứu cánh mục đích, bậc tối thượng giữa chư Thiên và loài Người". Ngài nêu bốn nhóm pháp. Nhóm thứ nhất gồm ba: vô học giới uẩn, vô học định uẩn, vô học tuệ uẩn — tức Giới, Định, Tuệ đã viên mãn nơi bậc vô học (bậc không còn gì phải học thêm, A-la-hán). Nhóm thứ hai cũng ba: thần biến thần thông, ký tâm thần thông, giáo hóa thần thông. Nhóm thứ ba ba pháp: chánh tri kiến, chánh trí, chánh giải thoát. Nhóm thứ tư chỉ gồm hai pháp, và đây là chỗ cô đọng nhất: minh và hạnh (vijjā và caraṇa). Cuối kinh, Thế Tôn dẫn lại bài kệ của Phạm thiên Sanaṅkumāra: giữa những người còn tin vào chủng tánh dòng dõi thì giai cấp Sát-lỵ được xem là tối thắng, nhưng bậc "Minh Hạnh đầy đủ" mới thật là tối thắng giữa Nhân và Thiên. Ngài xác nhận bài kệ ấy được khéo hát lên, khéo nói lên, liên hệ đến mục đích, và Ngài chấp nhận; rồi chính Ngài nói lại bài kệ ấy. Ý nghĩa cho Huynh Trưởng và đoàn sinh: giá trị thật của một con người không nằm ở dòng họ, địa vị hay khả năng thần thông, mà nằm ở minh (trí sáng) và hạnh (nết sống). Đây cũng chính là hai chữ trong danh hiệu "Minh Hạnh Túc" của Đức Phật mà chúng ta xưng tụng mỗi khi lễ Phật.

Bố cục bài kinhTheo đúng thứ tự trong kinh văn

  • 1. Duyên khởi — Thế Tôn trú ở Vương Xá, chỗ nuôi dưỡng khổng tước trong vườn các du sĩ, gọi các Tỷ-kheo và các vị vâng đáp.
  • 2. Ba pháp thứ nhất: ba vô học uẩn — Vô học giới uẩn, vô học định uẩn, vô học tuệ uẩn.
  • 3. Ba pháp thứ hai: ba thần thông — Thần biến thần thông, ký tâm thần thông, giáo hóa thần thông.
  • 4. Ba pháp thứ ba — Chánh tri kiến, chánh trí, chánh giải thoát.
  • 5. Hai pháp: minh và hạnh — Với minh và với hạnh, Tỷ-kheo đạt đến cứu cánh của cứu cánh.
  • 6. Bài kệ của Phạm thiên Sanaṅkumāra và lời xác nhận của Thế Tôn — Bài kệ về Sát-lỵ tối thắng giữa người tin chủng tánh, còn bậc Minh Hạnh đầy đủ là tối thắng giữa Nhân, Thiên; Thế Tôn chấp nhận và nói lại bài kệ ấy.

Mỗi đoạn ghi nguyên văn Pāli, rồi bản Việt, rồi bản tiếng Anh. Số bên trái là số đoạn trong kinh, để đối chiếu được.

AN 11.10:1.1–1.2
Ekaṁ samayaṁ bhagavā rājagahe viharati moranivāpe paribbājakārāme.
Tatra kho bhagavā bhikkhū āmantesi:
Một thời, Thế Tôn trú ở Ràjagaha (Vương Xá) tại chỗ nuôi dưỡng khổng tước ở khu vườn các du sĩ. Tại đấy, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo:
At one time the Buddha was staying near Rājagaha, at the monastery for the wanderers in the peacocks' feeding ground. There the Buddha addressed the mendicants,
AN 11.10:2.1–2.2
Tīhi, bhikkhave, dhammehi samannāgato bhikkhu accantaniṭṭho hoti accantayogakkhemī accantabrahmacārī accantapariyosāno seṭṭho devamanussānaṁ. Katamehi tīhi?
Thành tựu ba pháp, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đạt được cứu cánh của cứu cánh, cứu cánh an ổn khỏi các khổ ách, cứu cánh Phạm hạnh, cứu cánh mục đích, bậc tối thượng giữa chư Thiên và loài Người. Thế nào là ba?
Mendicants, a mendicant with three qualities has reached the ultimate end, the ultimate sanctuary from the yoke, the ultimate spiritual life, the ultimate goal. They are best among gods and humans. What three?
AN 11.10:2.3
Asekhena sīlakkhandhena, asekhena samādhikkhandhena, asekhena paññākkhandhena—
Vô học giới uẩn, vô học định uẩn, vô học tuệ uẩn.
The entire spectrum of an adept's ethics, immersion, and wisdom.
AN 11.10:3.3
Iddhipāṭihāriyena, ādesanāpāṭihāriyena, anusāsanīpāṭihāriyena—
Thần biến thần thông, ký tâm thần thông, giáo hóa thần thông.
A demonstration of psychic power, a demonstration of revealing, and a demonstration of instruction.
AN 11.10:4.3
Sammādiṭṭhiyā, sammāñāṇena, sammāvimuttiyā—
Với chánh tri kiến, với chánh trí, với chánh giải thoát.
Right view, right knowledge, and right freedom.
AN 11.10:5.3
Vijjāya, caraṇena—
Với minh và với hạnh.
Knowledge and conduct.
AN 11.10:6.1–6.4
'Khattiyo seṭṭho janetasmiṁ,
ye gottapaṭisārino;
Vijjācaraṇasampanno,
so seṭṭho devamānuse'ti.
Sát-lỵ, chúng tối thắng,
Với người tin chủng tánh,
Bậc Minh Hạnh đầy đủ,
Tối thắng giữa Nhân, Thiên.
'The aristocrat is best among people who take clan as the standard. But one accomplished in knowledge and conduct is first among gods and humans.'
AN 11.10:7.1–7.2
Sā kho panesā, bhikkhave, sanaṅkumārena gāthā bhāsitā subhāsitā, no dubbhāsitā; atthasaṁhitā, no anatthasaṁhitā; anumatā mayā. Ahampi, bhikkhave, evaṁ vadāmi:
Này các Tỷ-kheo, những bài kệ này được khéo hát lên, không phải vụng hát, được khéo nói lên, không phải vụng nói, liên hệ đến mục đích, không phải không liên hệ đến mục đích, và được Ta chấp nhận. Này các Tỷ-kheo, Ta cũng nói lên như vậy:
Now, that verse spoken by the divinity Sanaṅkumāra is well spoken, not poorly spoken. It's beneficial, not pointless, and I agree with it. I also say:
Chữ PāliNghĩaGhi chú
moranivāpachỗ nuôi dưỡng khổng tước (chim công)Địa danh nơi thuyết kinh, trong khu vườn các du sĩ ở Vương Xá.
accantaniṭṭhacứu cánh của cứu cánh (đạt đến chỗ tột cùng)
accantayogakkhemīcứu cánh an ổn khỏi các khổ ách
accantabrahmacārīcứu cánh Phạm hạnh
asekhavô họcBậc không còn gì phải học thêm, tức A-la-hán; trái với hữu học (sekha).
sīlakkhandha / samādhikkhandha / paññākkhandhagiới uẩn / định uẩn / tuệ uẩn
iddhipāṭihāriyathần biến thần thông
ādesanāpāṭihāriyaký tâm thần thông (biết rõ tâm người khác)
anusāsanīpāṭihāriyagiáo hóa thần thông (thần thông của lời giáo giới)
sammādiṭṭhi / sammāñāṇa / sammāvimuttichánh tri kiến / chánh trí / chánh giải thoát
vijjāminh (trí sáng)
caraṇahạnh (nết sống, đức hạnh)
vijjācaraṇasampannabậc Minh Hạnh đầy đủMột trong mười danh hiệu của Đức Phật: Minh Hạnh Túc.
Brahmā SanaṅkumāraPhạm thiên Sanaṅkumāra
khattiyaSát-lỵ (giai cấp vua chúa, chiến sĩ)
gottapaṭisārīngười tin (nương tựa vào) chủng tánh, dòng họ

Xin thưa bài kinh này có một cách trình bày rất khéo: nó đi từ RỘNG tới HẸP, rồi dừng ở hai chữ.

Cảnh: Thế Tôn trú ở Vương Xá, tại chỗ nuôi dưỡng khổng tước — tức vườn nuôi chim công — trong khu vườn các du sĩ.

Ngài nêu điều đạt được trước, và nêu bằng một chuỗi chữ rất mạnh: “cứu cánh của cứu cánh, cứu cánh an ổn khỏi các khổ ách, cứu cánh Phạm hạnh, cứu cánh mục đích, BẬC TỐI THƯỢNG GIỮA CHƯ THIÊN VÀ LOÀI NGƯỜI.”

Rồi Ngài kể BA NHÓM, mỗi nhóm BA pháp, và sau cùng MỘT NHÓM chỉ có HAI.

Nhóm một: VÔ HỌC giới uẩn, VÔ HỌC định uẩn, VÔ HỌC tuệ uẩn — tức Giới, Định, Tuệ đã viên mãn.

Xin thưa chữ “VÔ HỌC” (asekha) nghĩa là không còn gì phải học thêmbậc A-la-hán; trái với “hữu học” (sekha)bậc còn đang đi, mà AN 3.90 gọi rất trân trọng.

Nhóm hai: THẦN BIẾN thần thông, KÝ TÂM thần thông, GIÁO HÓA thần thông.

Xin để ý thần thông thứ ba: GIÁO HÓAthần thông của LỜI GIÁO GIỚI. Kinh xếp lời dạy người NGANG HÀNG với phép lạ.

Nhóm ba: CHÁNH TRI KIẾN, CHÁNH TRÍ, CHÁNH GIẢI THOÁT.

Rồi tới nhóm cuối, và nhóm này chỉ có HAI chữ: “Với MINH và với HẠNH.” (vijjāya, caraṇena)

Con thấy cách thu lại ấy rất đáng học: ba, ba, ba — rồi HAI. Càng về sau càng ít chữ, mà càng nặng.

MINH (vijjā) là cái BIẾT sáng, còn HẠNH (caraṇa) là NẾT SỐNG. Hai thứ ấy gồm hết những nhóm ba ở trên.

xin để ý một điều rất gần với anh chị em: hai chữ ấy chính là “MINH HẠNH TÚC”một trong mười danh hiệu Phật mà chúng ta xưng tụng mỗi khi lễ Phật.

Kinh kết bằng bài kệ của Phạm thiên Sanaṅkumāra: “Sát-lỵ, chúng tối thắng, VỚI NGƯỜI TIN CHỦNG TÁNH; bậc MINH HẠNH ĐẦY ĐỦ, tối thắng giữa Nhân, Thiên.”

Xin thưa bốn chữ “VỚI NGƯỜI TIN CHỦNG TÁNH” mới là chỗ đắt. Bài kệ KHÔNG nói giai cấp Sát-lỵ là cao nhất — nó nói cao nhất TRONG MẮT NHỮNG AI CÒN TIN VÀO DÒNG DÕI.

Tức là bài kệ đặt lại cái thước, chứ không tranh hơn thua trong cái thước cũ.

Thế Tôn xác nhận: bài kệ ấy “được khéo hát lên, không phải vụng hát, được khéo nói lên… liên hệ đến mục đích… và được Ta CHẤP NHẬN” — rồi chính Ngài nói lại bài kệ ấy.

Con thấy chi tiết ấy đẹp: lời hay thì Thế Tôn nhận, dù là lời của người khác — và Ngài nói rõ đó là lời của ai.

Xin thưa lời cuối cho anh chị em Huynh Trưởng. Con nghĩ bài này nói đúng một chuyện các em sẽ gặp suốt đời: người ta đo nhau bằng cái gì.

Thời ấy người ta đo bằng DÒNG DÕI; bây giờ đo bằng tiền, bằng trường, bằng chức. Bài kệ trả lời cho cả hai thời: cái đo thật là MINH và HẠNH.

xin nhắc các em rằng hai chữ ấy ở ngay trong bài lễ Phật mỗi tuần“MINH HẠNH TÚC”đọc mà biết nghĩa thì khác hẳn.

Xin thưa hai việc về trang. Thứ nhất, lượt soi lần này KHÔNG tìm ra lỗi nào ở cả hai bài.

Máy đối chiếu thì bắt được hai chỗ, cả hai đều là chuyện BIÊN SỐ và ba cột lệch nhau, không phải sai chữ: ô đầu ghi “1.1” nhưng ô tiếng Việt trải sang cả 1.2 (“Tại đấy, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo:”), nên đã chép thêm 1.2 vào ô Pāli và Anh cho ba cột phủ cùng một khoảng; và ô thứ hai ghi “2.1” nhưng phần chép trải tới hết 2.2, đã ghi lại biên số, không sửa chữ nào.

Thứ hai: sau khi chỉnh, toàn bộ 16 ô Pāli/Anh đúng nguyên văn tệp nguồn, và cả 8 ô tiếng Việt đúng nguyên văn bản dịch của HT. Thích Minh Châu.

  • “Bài kệ nói giai cấp Sát-lỵ là cao nhất.” Bài kệ nói cao nhất VỚI NGƯỜI TIN CHỦNG TÁNHtức trong mắt những ai còn đo nhau bằng dòng dõi.
  • “Phải có thần thông mới đạt cứu cánh.” Kinh nêu BỐN nhóm, và nhóm cuối — gọn nhất, nặng nhất — chỉ có MINH và HẠNH.
  • “Thần thông là phép lạ.” Thần thông thứ ba là GIÁO HÓAthần thông của lời giáo giới, xếp ngang hàng với hai phép kia.
  • “Vô học là chưa học.” AsekhaKHÔNG CÒN GÌ PHẢI HỌC THÊMbậc A-la-hán; trái với hữu học, bậc còn đang đi.
  • “Bài kệ là của Phật.” Bài kệ là của Phạm thiên Sanaṅkumāra; Thế Tôn CHẤP NHẬN và nói lạivà Ngài nói rõ đó là lời của ai.
  • “Minh và hạnh là hai pháp mới.” Đó chính là hai chữ trong “MINH HẠNH TÚC”một trong mười danh hiệu Phật.
  • Ngành Oanh. Chỉ hai chữ: “biết sáng và sống hiền” — rồi chỉ cho các em chỗ ấy trong bài lễ Phật.
  • Ngành Thiếu. Học ba nhóm ba rồi nhóm hai, và để ý cách kinh THU LẠI.
  • Ngành Thanh và Huynh Trưởng. Bàn: vì sao bài kệ KHÔNG bác giai cấp mà lại ĐẶT LẠI CÁI THƯỚC?ngày nay người ta đo nhau bằng gì?
  • Kinh nêu mấy nhóm pháp, và nhóm cuối có mấy pháp?
  • “Vô học” nghĩa là gì?
  • Ba thần thông là gì — thần thông thứ ba có gì đáng để ý?
  • Bài kệ là của ai, và Thế Tôn làm gì với bài kệ ấy?
  • Hai chữ “minh” và “hạnh” có trong danh hiệu nào của Phật?

Nguyên văn Pāli chép từ ấn bản Mahāsaṅgīti — tệp dữ liệu gốc bilara-data của suttacentral.net, từng đoạn có đánh số. Bản tiếng Việt của Hoà thượng Thích Minh Châu; bản tiếng Anh của Tỳ-kheo Sujato. Bài này đã qua một lượt soi lại độc lập. Muốn đọc trọn bài kinh, xin xem nguyên văn ba thứ tiếng. Thấy chỗ nào khác ấn bản in, xin báo cho chúng tôi.