G.Đ.P.T Huyền Quang Phật Pháp · Tam Tạng Kinh Điển Tăng Chi Bộ · AN 10.92
Năm Sợ Hãi Lắng Dịu · Bốn Chi Phần Dự Lưu

Kinh Sợ Hãi Và Hận Thù

Bhaya Sutta — AN 10.92 · Pāli · Việt · Anh

Tam TạngTạng KinhTrung BộKinh Sợ Hãi Và Hận Thù

Thế Tôn dạy Gia chủ Cấp Cô Độc BA ĐIỀU người cư sĩ TỰ KIỂM ĐƯỢC nơi chính mình: làm lắng dịu NĂM SỢ HÃI HẬN THÙ, thành tựu BỐN CHI PHẦN DỰ LƯU, và khéo thấy Thánh lý với trí tuệ.

  • Bộ — Tăng Chi Bộ, Chương Mười Pháp, kinh 92
  • Phẩm — bản Việt xếp vào Phẩm Nam Cư Sĩ; bản Pāli ghi Upālivagga
  • Người ngheGia chủ Anāthapiṇḍika (Cấp Cô Độc); kinh không ghi địa điểm
  • Đọc kèmAN 9.20 (cũng dạy Cấp Cô Độc) và AN 5.179

Kinh "Sợ Hãi Và Hận Thù" (Bhayasutta, AN 10.92) là lời Thế Tôn dạy riêng cho Gia chủ Cấp Cô Độc (Anàthapindika). Đây là một trong những bài kinh hay được trích nhất khi nói về quả Dự lưu, vì nó nêu rõ ba điều kiện cụ thể mà người cư sĩ có thể tự kiểm lại nơi chính mình. Điều thứ nhất: làm lắng dịu năm sợ hãi hận thù. Năm điều ấy chính là năm việc trái với năm giới — sát sanh, lấy của không cho, tà hạnh trong các dục, nói láo, và đắm say rượu men rượu nấu. Kinh nói rõ cơ chế: mỗi việc ác ấy "tạo ra sợ hãi hận thù ngay trong hiện tại, tạo ra sợ hãi hận thù trong tương lai, khiến tâm cảm thọ khổ ưu". Ngược lại, người từ bỏ thì không tạo ra sợ hãi hận thù ở hiện tại lẫn tương lai, và tâm không phải chịu khổ ưu. Đây là điểm rất thiết thực để dạy đoàn sinh: giữ giới không phải là bị cấm đoán, mà là tự tháo gỡ nỗi sợ và mối oán cho chính mình. Điều thứ hai: thành tựu bốn chi phần Dự lưu — tịnh tín bất động đối với Phật, đối với Pháp, đối với chúng Tăng, và thành tựu những giới được các bậc Thánh ái kính, "không bị phá hủy, không bị bể vụn, không bị điểm chấm, không bị uế nhiễm". Ba câu tán thán Phật – Pháp – Tăng trong đoạn này chính là những câu quen thuộc trong thời khóa tụng. Điều thứ ba: khéo thấy, khéo thể nhập Thánh lý với trí tuệ, tức quán pháp duyên khởi: "Do cái này có, cái kia có… do cái này diệt, cái kia diệt", rồi nêu đủ mười hai chi từ vô minh duyên hành cho đến già chết sầu bi khổ ưu não, cả chiều tập khởi lẫn chiều đoạn diệt. Khi đủ ba điều ấy, vị Thánh đệ tử — nếu muốn — có thể tự trả lời về chính mình rằng đã đoạn tận địa ngục, bàng sanh, ngạ quỷ, các cõi dữ, đã chứng Dự lưu, không còn bị đọa lạc, quyết chắc chứng đạt cứu cánh giác ngộ. Kinh mở đầu và kết thúc bằng chính lời tuyên bố này.

Bố cục bài kinhTheo đúng thứ tự trong kinh văn

  • 1. Duyên khởi — Gia chủ Anàthapindika đến gặp Thế Tôn, đảnh lễ và ngồi xuống một bên; Thế Tôn nói với ông (đoạn 1).
  • 2. Lời tuyên bố tổng quát — Khi vị Thánh đệ tử làm lắng dịu năm sợ hãi hận thù, thành tựu bốn chi phần Dự lưu, khéo thấy khéo thể nhập Thánh lý với trí tuệ, thì nếu muốn có thể tự tuyên bố mình đã đoạn tận địa ngục, bàng sanh, ngạ quỷ, cõi dữ, và đã chứng Dự lưu (đoạn 2).
  • 3. Năm sợ hãi hận thù được lắng dịu — Sát sanh, lấy của không cho, tà hạnh trong các dục, nói láo, đắm say rượu men rượu nấu — mỗi điều tạo sợ hãi hận thù trong hiện tại và tương lai, khiến tâm cảm thọ khổ ưu; người từ bỏ thì các sợ hãi hận thù ấy được lắng dịu (đoạn 3–4).
  • 4. Bốn chi phần Dự lưu — Tịnh tín bất động đối với Phật, đối với Pháp, đối với Tăng, và thành tựu các giới được bậc Thánh ái kính (đoạn 5).
  • 5. Thánh lý được khéo thấy với trí tuệ — Quán duyên khởi theo chiều lưu chuyển và chiều hoàn diệt: do cái này có, cái kia có… vô minh duyên hành cho đến già chết; và do vô minh diệt nên toàn bộ khổ uẩn diệt (đoạn 6).
  • 6. Kết luận lặp lại — Lặp lại lời tuyên bố: khi ba điều trên đầy đủ, vị Thánh đệ tử có thể tự trả lời về mình rằng đã chứng Dự lưu, quyết chắc chứng đạt cứu cánh giác ngộ (đoạn 7).

Mỗi đoạn ghi nguyên văn Pāli, rồi bản Việt, rồi bản tiếng Anh. Số bên trái là số đoạn trong kinh, để đối chiếu được.

AN 10.92 §1
Atha kho anāthapiṇḍiko gahapati yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinnaṁ kho anāthapiṇḍikaṁ gahapatiṁ bhagavā etadavoca:
Bấy giờ có Gia chủ Anàthapindika đi đến Thế Tôn, … Thế Tôn nói với Gia chủ Anàthapindika đang ngồi xuống một bên:
Then the householder Anāthapiṇḍika went up to the Buddha, bowed, and sat down to one side. The Buddha said to him:
AN 10.92 §2.1
“Yato, kho, gahapati, ariyasāvakassa pañca bhayāni verāni vūpasantāni honti, catūhi ca sotāpattiyaṅgehi samannāgato hoti, ariyo cassa ñāyo paññāya sudiṭṭho hoti suppaṭividdho, so ākaṅkhamāno attanāva attānaṁ byākareyya:
—Này Gia chủ, khi nào vị Thánh đệ tử làm cho lắng dịu năm sợ hãi hận thù, thành tựu bốn chi phần Dự lưu, khéo thấy, khéo thể nhập Thánh lý với trí tuệ; nếu vị ấy muốn, có thể tự trả lời với mình rằng:
“Householder, when a noble disciple has quelled five fears and enmities, possesses the four factors of stream-entry, and has clearly seen and penetrated the noble system with wisdom, they may, if they wish, declare of themselves:
AN 10.92 §2.2
‘khīṇanirayomhi khīṇatiracchānayoni khīṇapettivisayo khīṇāpāyaduggativinipāto. Sotāpannohamasmi avinipātadhammo niyato sambodhiparāyaṇo’ti.
“Ta đã đoạn tận địa ngục; ta đã đoạn tận bàng sanh; ta đã đoạn tận ngạ quỷ; Ta đã đoạn tận các cõi dữ, ác thú, đọa xứ; ta đã chứng Dự lưu, không còn bị đọa lạc, quyết chắc chứng đạt cứu cánh giác ngộ.”
‘I’ve finished with rebirth in hell, the animal realm, and the ghost realm. I’ve finished with all places of loss, bad places, the underworld. I am a stream-enterer! I’m not liable to be reborn in the underworld, and am assured, destined for awakening.’
AN 10.92 §3
Yaṁ, gahapati, pāṇātipātī pāṇātipātapaccayā diṭṭhadhammikampi bhayaṁ veraṁ pasavati samparāyikampi bhayaṁ veraṁ pasavati cetasikampi dukkhaṁ domanassaṁ paṭisaṁvedeti, pāṇātipātā paṭivirato neva diṭṭhadhammikampi bhayaṁ veraṁ pasavati na samparāyikampi bhayaṁ veraṁ pasavati na cetasikampi dukkhaṁ domanassaṁ paṭisaṁvedeti. Pāṇātipātā paṭiviratassa evaṁ taṁ bhayaṁ veraṁ vūpasantaṁ hoti.
Này Gia chủ, sát sanh, do duyên sát sanh tạo ra sợ hãi hận thù ngay trong hiện tại, tạo ra sợ hãi hận thù trong tương lai, khiến tâm cảm thọ khổ ưu. Người từ bỏ sát sanh, không tạo ra sợ hãi hận thù trong hiện tại, không tạo ra sợ hãi hận thù ngay trong tương lai, không khiến tâm cảm thọ khổ ưu. Người từ bỏ sát sanh, làm lắng dịu sợ hãi hận thù này.
Anyone who kills living creatures brims with fear and enmity both in this life and in lives to come, and experiences mental pain and sadness. Anyone who refrains from killing living creatures does not brim with fear and enmity either in this life or in lives to come, and doesn’t experience mental pain and sadness. So that fear and enmity is quelled for anyone who refrains from killing living creatures.
AN 10.92 §4
Yaṁ, gahapati, adinnādāyī …pe… kāmesumicchācārī … musāvādī … surāmerayamajjapamādaṭṭhāyī surāmerayamajjapamādaṭṭhānapaccayā diṭṭhadhammikampi bhayaṁ veraṁ pasavati samparāyikampi bhayaṁ veraṁ pasavati cetasikampi dukkhaṁ domanassaṁ paṭisaṁvedeti, surāmerayamajjapamādaṭṭhānā paṭivirato neva diṭṭhadhammikampi bhayaṁ veraṁ pasavati na samparāyikampi bhayaṁ veraṁ pasavati na cetasikampi dukkhaṁ domanassaṁ paṭisaṁvedeti. Surāmerayamajjapamādaṭṭhānā paṭiviratassa evaṁ taṁ bhayaṁ veraṁ vūpasantaṁ hoti.
Này Gia chủ, lấy của không cho… tà hạnh trong các dục… nói láo… đắm say trong rượu men, rượu nấu; do duyên đắm say trong rượu men, rượu nấu, tạo ra sợ hãi hận ngay trong hiện tại, tạo ra sợ hãi hận thù trong tương lai, khiến cảm thọ khổ ưu về tâm. Người từ bỏ đắm say trong rượu men, rượu nấu, không tạo ra sợ hãi thù hận ngay hiện tại, không tạo ra sợ hãi hận thù trong tương lai, không khiến cảm thọ khổ ưu về tâm. Với người từ bỏ đắm say rượu men, rượu nấu, như vậy sợ hãi hận thù này được lắng dịu.
Anyone who steals … Anyone who commits sexual misconduct … Anyone who lies … Anyone who consumes beer, wine, and liquor intoxicants brims with fear and enmity both in this life and in lives to come, and experiences mental pain and sadness. Anyone who refrains from beer, wine, and liquor intoxicants does not brim with fear and enmity either in this life or in lives to come, and doesn’t experience mental pain and sadness. So that fear and enmity is quelled for anyone who refrains from beer, wine, and liquor intoxicants.
AN 10.92 §5
Idha, gahapati, ariyasāvako buddhe aveccappasādena samannāgato hoti: ‘itipi so bhagavā …pe… buddho bhagavā’ti; dhamme aveccappasādena samannāgato hoti: ‘svākkhāto bhagavatā dhammo sandiṭṭhiko akāliko ehipassiko opaneyyiko paccattaṁ veditabbo viññūhī’ti;
—Ở đây, này Gia chủ, vị Thánh đệ tử thành tựu tịnh tín bất động đối với đức Phật: “Ðây là Thế Tôn, bậc Ứng Cúng, Chánh Ðẳng Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn”. Vị ấy thành tựu tịnh tín bất động đối với Pháp: “Pháp được Thế Tôn khéo thuyết, thiết thực hiện tại, không có thời gian, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được người trí tự mình giác hiểu”.
It’s when a noble disciple has experiential confidence in the Buddha: ‘That Blessed One is perfected, a fully awakened Buddha, accomplished in knowledge and conduct, holy, knower of the world, supreme guide for those fit for training, teacher of gods and humans, awakened, blessed.’ They have experiential confidence in the teaching: ‘The teaching is well explained by the Buddha—apparent in the present life, immediately effective, inviting inspection, relevant, so that sensible people can know it for themselves.’
AN 10.92 §5.8
ariyakantehi sīlehi samannāgato hoti ‘akhaṇḍehi acchiddehi asabalehi akammāsehi bhujissehi viññuppasatthehi aparāmaṭṭhehi samādhisaṁvattanikehi’.
Vị ấy thành tựu với những giới được các bậc Thánh ái kính, không bị phá hủy, không bị bể vụn, không bị điểm chấm, không bị uế nhiễm, đưa đến giải thoát, được bậc trí tán thán, không bị chấp trước, đưa đến Thiền định.
And a noble disciple’s ethical conduct is loved by the noble ones, unbroken, impeccable, spotless, and unmarred, liberating, praised by sensible people, not mistaken, and leading to immersion.
AN 10.92 §6
Idha, gahapati, ariyasāvako iti paṭisañcikkhati: ‘iti imasmiṁ sati idaṁ hoti; imassuppādā idaṁ uppajjati; imasmiṁ asati idaṁ na hoti; imassa nirodhā idaṁ nirujjhati, yadidaṁ—avijjāpaccayā saṅkhārā, saṅkhārapaccayā viññāṇaṁ, viññāṇapaccayā nāmarūpaṁ, nāmarūpapaccayā saḷāyatanaṁ, saḷāyatanapaccayā phasso, phassapaccayā vedanā, vedanāpaccayā taṇhā, taṇhāpaccayā upādānaṁ, upādānapaccayā bhavo, bhavapaccayā jāti, jātipaccayā jarāmaraṇaṁ sokaparidevadukkhadomanassupāyāsā sambhavanti, evametassa kevalassa dukkhakkhandhassa samudayo hoti;
—Ở đây, này Gia chủ, vị Thánh đệ tử quán sát như sau: “Do cái này có, cái kia có. Do cái này sanh, cái kia sanh. Do cái này không có, cái kia không có. Do cái này diệt, cái kia diệt. Tức là do duyên vô minh, có các hành. Do duyên các hành có thức. Do duyên thức có danh sắc. Do duyên danh sắc có sáu nhập. Do duyên sáu nhập có xúc. Do duyên xúc có thọ. Do duyên thọ có ái. Do duyên ái có thủ. Do duyên thủ có hữu. Do duyên hữu có sanh. Do duyên sanh có già, chết, sầu, bi, khổ, ưu não. Như vậy, là sự tập khởi của toàn bộ khổ uẩn này.
It’s when a noble disciple reflects: ‘So, when this exists, this comes to be; due to the arising of this, this arises. When this doesn’t exist, this doesn’t come to be; due to the cessation of this, this ceases. That is: Ignorance is a requirement for choices. Choices are a requirement for consciousness. Consciousness is a requirement for name and form. Name and form are requirements for the six sense fields. The six sense fields are requirements for contact. Contact is a requirement for feeling. Feeling is a requirement for craving. Craving is a requirement for grasping. Grasping is a requirement for continued existence. Continued existence is a requirement for rebirth. Rebirth is a requirement for old age and death, sorrow, lamentation, pain, sadness, and distress to come to be. That is how this entire mass of suffering originates.
Chữ PāliNghĩaGhi chú
bhayasợ hãiBản Minh Châu dịch cặp bhaya-vera là 'sợ hãi hận thù'.
verahận thùSujato dịch là 'enmity'.
vūpasantađược lắng dịu
ariyasāvakavị Thánh đệ tử
sotāpattiyaṅgachi phần Dự lưuBốn chi phần: tịnh tín bất động nơi Phật, Pháp, Tăng và giới được bậc Thánh ái kính.
sotāpannavị chứng Dự lưuKhông còn bị đọa lạc, quyết chắc chứng đạt cứu cánh giác ngộ.
aveccappasādatịnh tín bất động
ariyo ñāyoThánh lýTrong kinh này chỉ pháp duyên khởi được khéo thấy, khéo thể nhập với trí tuệ.
paṭiccasamuppāda (avijjāpaccayā saṅkhārā…)duyên khởi: do duyên vô minh có các hành…Chuỗi 12 chi được nêu đủ trong đoạn 6.
pāṇātipātasát sanh
adinnādānalấy của không cho
kāmesumicchācāratà hạnh trong các dục
musāvādanói láo
surāmerayamajjapamādaṭṭhānađắm say trong rượu men, rượu nấu
ariyakanta sīlagiới được các bậc Thánh ái kính

Xin thưa đây là một trong những bài kinh hay được trích nhất khi nói về quả Dự lưu — và điều quý là Thế Tôn dạy cho một NGƯỜI CƯ SĨ, Gia chủ Cấp Cô Độc.

Ngài nêu BA ĐIỀU, và xin thưa cả ba đều là điều người cư sĩ TỰ KIỂM ĐƯỢC, không phải chuyện huyền bí.

ĐIỀU THỨ NHẤT — LÀM LẮNG DỊU NĂM SỢ HÃI HẬN THÙ.

Năm điều ấy chính là năm việc TRÁI VỚI NĂM GIỚI: sát sanh, lấy của không cho, tà hạnh trong các dục, nói láo, đắm say rượu men rượu nấu.

Và đây là chỗ con thấy hay nhất: Thế Tôn KHÔNG nói “vì đó là điều cấm”. Ngài NÊU CƠ CHẾ.

Mỗi việc ấy “tạo ra sợ hãi hận thù NGAY TRONG HIỆN TẠI, tạo ra sợ hãi hận thù TRONG TƯƠNG LAI, khiến TÂM CẢM THỌ KHỔ ƯU”.

Xin để ý BA VẾ: hiện tại — tương lai — và ngay trong tâm mình. Vế thứ ba là vế người ta hay quên nhất.

Rồi Ngài lật ngược: người TỪ BỎ thì KHÔNG tạo ra sợ hãi hận thù ở hiện tại lẫn tương lai, và tâm KHÔNG phải chịu khổ ưu.

Xin thưa đây là cách dạy năm giới thiết thực nhất cho đoàn sinh: giữ giới KHÔNG PHẢI là bị cấm đoán — mà là TỰ THÁO GỠ nỗi sợ và mối oán cho CHÍNH MÌNH.

Một em nói dối thì em ấy phải NHỚ lời nói dối ấy, phải sợ bị lộ. Nỗi sợ ấy có ngay, không đợi đời sau.

ĐIỀU THỨ HAI — THÀNH TỰU BỐN CHI PHẦN DỰ LƯU.

Tịnh tín bất động đối với Phật, đối với Pháp, đối với chúng Tăng — và thành tựu những GIỚI được các bậc Thánh ái kính.

Xin thưa với anh chị em: ba câu tán thán Phật – Pháp – Tăng trong đoạn này CHÍNH LÀ những câu chúng ta vẫn tụng“Ứng Cúng, Chánh Ðẳng Giác, Minh Hạnh Túc…”“thiết thực hiện tại, không có thời gian, đến để mà thấy”.

Nghĩa là thời khoá tụng của mình KHÔNG phải là lời ca ngợi suôngđó là ĐANG ĐỌC LẠI ba trong bốn chi phần Dự lưu.

Và chi phần thứ tư nói về giới bằng một chuỗi chữ rất đẹp: “không bị phá hủy, không bị bể vụn, không bị điểm chấm, không bị uế nhiễm” — như một tấm vải lành, không rách, không vá, không lấm.

ĐIỀU THỨ BA — KHÉO THẤY, KHÉO THỂ NHẬP THÁNH LÝ VỚI TRÍ TUỆ, tức quán PHÁP DUYÊN KHỞI.

“Do cái này có, cái kia có. Do cái này sanh, cái kia sanh. Do cái này KHÔNG CÓ, cái kia không có. Do cái này DIỆT, cái kia diệt.”

Rồi Ngài nêu đủ mười hai chivô minh duyên hành, cho đến già chết sầu bi khổ ưu nãocả chiều tập khởi lẫn chiều đoạn diệt.

Xin thưa ĐỦ BA ĐIỀU ẤY thì vị Thánh đệ tử — nếu muốnCÓ THỂ TỰ TRẢ LỜI VỚI MÌNH rằng đã chứng Dự lưu, không còn bị đọa lạc, quyết chắc chứng đạt cứu cánh giác ngộ.

Xin để ý ba chữ “TỰ TRẢ LỜI VỚI MÌNH”: không phải đi xin ai xác nhận, cũng không phải đi tuyên bố với người khác.

Xin thưa lời cuối cho anh chị em Huynh Trưởng. Bài kinh này cho ta một cách trả lời rất gọn khi đoàn sinh hỏi “vì sao phải giữ năm giới?”

Không cần doạ, không cần nói chuyện đời sau: “vì mỗi lần phạm là mỗi lần TỰ CHUỐC LẤY một nỗi sợ và một mối oán — ngay bây giờ.”

Xin thưa một ghi nhận về cách đọc trang. Trong bản dịch của Hoà thượng, hai ô trích ở đây có dấu ba chấm (“lấy của không cho… tà hạnh trong các dục… nói láo…”). Đó là dấu lược CỦA CHÍNH BẢN IN, dùng cho các đoạn lặp lại y hệt, chứ không phải do trang cắt bớt. Chúng con đã tải lại bản Minh Châu và đối chiếu cả tám ô theo từng chuỗi chữ — cả tám khớp nguyên văn.

  • “Dự lưu là chuyện của người xuất gia.” Bài kinh này Thế Tôn dạy cho một NGƯỜI CƯ SĨGia chủ Cấp Cô Độc.
  • “Giữ giới là bị cấm đoán.” Kinh nêu cơ chế: mỗi việc ác tự tạo ra sợ hãi hận thù ngay hiện tạikhiến TÂM cảm thọ khổ ưu. Giữ giới là TỰ THÁO GỠ cho mình.
  • “Quả báo là chuyện đời sau.” Kinh nói ba vế: hiện tại, tương lai, và ngay trong tâm mìnhvế đầu và vế cuối đều là BÂY GIỜ.
  • “Tịnh tín là tin cho mạnh, tin cho nhiều.” Chi phần thứ tư đi kèm là GIỚItịnh tín mà không có giới thì chưa đủ bốn chi phần.
  • “Phải có thầy ấn chứng mới biết mình chứng Dự lưu.” Kinh nói vị ấy “TỰ TRẢ LỜI VỚI MÌNH”không đi xin xác nhận, cũng không đi tuyên bố.
  • Ngành Oanh. Chỉ dạy vế “ngay bây giờ”: nói dối một câu là phải nhớ, phải sợ bị lộ — nỗi sợ ấy có liền.
  • Ngành Thiếu. Học năm sợ hãi hận thù và đối chiếu với năm giới đã thuộc.
  • Ngành Thanh và Huynh Trưởng. Đọc kỹ bốn chi phần Dự lưu, rồi mở lại thời khoá tụngba câu tán thán Phật, Pháp, Tăng chính là ba chi phần ấy.
  • Thế Tôn dạy bài kinh này cho ai?
  • Năm sợ hãi hận thù là gì?
  • Vì sao nói giữ giới là tự tháo gỡ cho mình?
  • Bốn chi phần Dự lưu gồm những gì?
  • Câu “Do cái này có, cái kia có” nói về pháp gì?

Nguyên văn Pāli chép từ ấn bản Mahāsaṅgīti — tệp dữ liệu gốc bilara-data của suttacentral.net, từng đoạn có đánh số. Bản tiếng Việt của Hoà thượng Thích Minh Châu; bản tiếng Anh của Tỳ-kheo Sujato. Bài này đã qua một lượt soi lại độc lập. Muốn đọc trọn bài kinh, xin xem nguyên văn ba thứ tiếng. Thấy chỗ nào khác ấn bản in, xin báo cho chúng tôi.