G.Đ.P.T Huyền Quang Phật Pháp · Tam Tạng Kinh Điển Tăng Chi Bộ · AN 10.73
Mười Điều Ai Cũng Mong · Và Cái Nuôi Chúng

Kinh Khả Lạc

Iṭṭhadhammasutta — AN 10.73 · Pāli · Việt · Anh

Tam TạngTạng KinhTrung BộKinh Khả Lạc

Mười điều ai cũng ưa thíchtài sản, dung sắc, không bệnh, giới đức, Phạm hạnh, bạn bè, đa văn, trí tuệ, thiện pháp, thiên giới. Thế Tôn không hứa ban cho ai: Ngài chỉ ra MƯỜI CÁI PHÁMƯỜI CÁI NUÔI.

  • Bộ — Tăng Chi Bộ, Chương Mười Pháp, Phẩm Ước Nguyện, kinh 73
  • Nơi chốnkinh KHÔNG nêu; Thế Tôn gọi thẳng “này các Tỷ-kheo”
  • Cách trình bàyba lượt song song: mười điều mong, mười chướng ngại, mười thức ăn
  • Đọc kèmAN 5.43 (năm điều khả lạc, khuôn giống hệt) và AN 8.54 (Dīghajāṇu)

Kinh Khả Lạc (Iṭṭhadhammasutta) là một bài kinh ngắn, rất dễ dạy cho đoàn sinh vì cấu trúc rõ ràng: mười điều ai cũng mong, mười điều làm hỏng chúng, và mười điều nuôi lớn chúng. Trước hết, Đức Phật nói với các Tỷ-kheo rằng có mười pháp "khả lạc, khả hỷ, khả ý, khó tìm được ở đời": tài sản, dung sắc, không bệnh, giới đức, Phạm hạnh, bạn bè, nhiều trí (đa văn), trí tuệ, các pháp (thiện pháp), và thiên giới. Đây là những điều người đời ưa thích, nhưng Ngài nhấn mạnh chúng "khó tìm được" — nghĩa là không tự nhiên mà có. Phần hai, Ngài chỉ ra mười chướng ngại (paripantha), mỗi chướng ngại ứng với một pháp: thụ động và không hăng hái làm chướng ngại tài sản; không trang sức, không tô điểm làm chướng ngại dung sắc; hành động không thích ứng làm chướng ngại sức khoẻ; ác bằng hữu làm chướng ngại giới đức; không chế ngự các căn làm chướng ngại Phạm hạnh; lừa dối làm chướng ngại bạn bè; không học tập làm chướng ngại đa văn; không nghe, không hỏi làm chướng ngại trí tuệ; không chú tâm, không quán sát làm chướng ngại các thiện pháp; tà hạnh làm chướng ngại Thiên giới. Phần ba, Ngài dạy mười "thức ăn" (āhāra) nuôi dưỡng đúng mười pháp ấy, tức là mặt ngược lại của các chướng ngại: hăng hái, không thụ động nuôi tài sản; hành động thích ứng nuôi sức khoẻ; thiện bằng hữu nuôi giới đức; chế ngự các căn nuôi Phạm hạnh; không lừa dối nuôi tình bạn; học tập, chú tâm quán sát, và chánh hạnh nuôi lớn các thiện pháp và Thiên giới. Ý nghĩa thực tiễn cho Huynh trưởng và đoàn sinh: Đức Phật không hứa ban điều tốt lành, Ngài chỉ ra nhân duyên. Muốn có điều gì thì phải nuôi nhân của điều ấy và tránh cái phá hoại nó. Bài kinh rất hợp để dạy về siêng năng, chọn bạn lành, thu thúc các căn, chân thật, và ham học hỏi.

Bố cục bài kinhTheo đúng thứ tự trong kinh văn

  • 1. Mười pháp khả lạc, khả hỷ, khả ý, khó tìm được ở đời — Đức Phật nêu mười pháp mà người đời ai cũng ưa thích nhưng khó có được: tài sản, dung sắc, không bệnh, giới đức, Phạm hạnh, bạn bè, nhiều trí (đa văn), trí tuệ, các pháp (thiện pháp), và thiên giới.
  • 2. Mười chướng ngại (paripantha) của mười pháp ấy — Mỗi pháp khả lạc có một chướng ngại riêng: thụ động không hăng hái ngăn tài sản; không trang sức tô điểm ngăn dung sắc; hành động không thích ứng ngăn không bệnh; ác bằng hữu ngăn giới đức; không chế ngự các căn ngăn Phạm hạnh; lừa dối ngăn bạn bè; không học tập ngăn đa văn; không nghe không hỏi ngăn trí tuệ; không chú tâm không quán sát ngăn các pháp; tà hạnh ngăn Thiên giới.
  • 3. Mười thức ăn (āhāra) nuôi dưỡng mười pháp ấy — Ngược lại mỗi pháp có một 'thức ăn' nuôi lớn: hăng hái không thụ động nuôi tài sản; trang sức tô điểm nuôi dung sắc; hành động thích ứng nuôi không bệnh; thiện bằng hữu nuôi giới đức; chế ngự các căn nuôi Phạm hạnh; không lừa dối nuôi bạn bè; học tập nuôi đa văn; chú tâm quán sát nuôi các pháp; chánh hạnh nuôi Thiên giới. (Bản Việt điện tử ở chỗ này chỉ có CHÍN vế: thiếu vế “nghe và hỏi nuôi trí tuệ” có trong bản Pāli và bản Anh, và dịch vế “học tập” là “thức ăn cho trí tuệ”.)

Mỗi đoạn ghi nguyên văn Pāli, rồi bản Việt, rồi bản tiếng Anh. Số bên trái là số đoạn trong kinh, để đối chiếu được.

AN 10.73:1.1–1.2
“Dasayime, bhikkhave, dhammā iṭṭhā kantā manāpā dullabhā lokasmiṁ. Katame dasa?
—Có mười pháp này khả lạc, khả hỷ, khả ý, khó tìm được ở đời. Thế nào là mười?
“Mendicants, these ten likable, desirable, and agreeable things are rare in the world. What ten?
AN 10.73:1.3–1.12
Bhogā iṭṭhā kantā manāpā dullabhā lokasmiṁ; vaṇṇo iṭṭho kanto manāpo dullabho lokasmiṁ; ārogyaṁ iṭṭhaṁ kantaṁ manāpaṁ dullabhaṁ lokasmiṁ; sīlaṁ iṭṭhaṁ kantaṁ manāpaṁ dullabhaṁ lokasmiṁ; brahmacariyaṁ iṭṭhaṁ kantaṁ manāpaṁ dullabhaṁ lokasmiṁ; mittā iṭṭhā kantā manāpā dullabhā lokasmiṁ; bāhusaccaṁ iṭṭhaṁ kantaṁ manāpaṁ dullabhaṁ lokasmiṁ; paññā iṭṭhā kantā manāpā dullabhā lokasmiṁ; dhammā iṭṭhā kantā manāpā dullabhā lokasmiṁ; saggā iṭṭhā kantā manāpā dullabhā lokasmiṁ.
Tài sản khả lạc, khả hỷ, khả ý, khó tìm được ở đời, dung sắc… không bệnh… các giới đức… Phạm hạnh… các bạn bè… nhiều trí…. các pháp… thiên giới, khả lạc, khả hỷ, khả ý khó tìm được ở đời.
Wealth, beauty, health, ethical conduct, the spiritual life, friends, learning, wisdom, good qualities, and heaven are likable, desirable, and agreeable things that are rare in the world.
AN 10.73:2.1
Imesaṁ kho, bhikkhave, dasannaṁ dhammānaṁ iṭṭhānaṁ kantānaṁ manāpānaṁ dullabhānaṁ lokasmiṁ dasa dhammā paripanthā—
Này các Tỷ-kheo, đối với mười pháp khả lạc, khả hỷ, khả ý khó tìm được ở đời này, mười pháp là những chướng ngại. Thế nào là mười?
Ten things are roadblocks for these ten likable, desirable, and agreeable things that are rare in the world.
AN 10.73:2.2
ālasyaṁ anuṭṭhānaṁ bhogānaṁ paripantho, amaṇḍanā avibhūsanā vaṇṇassa paripantho, asappāyakiriyā ārogyassa paripantho, pāpamittatā sīlānaṁ paripantho, indriyaasaṁvaro brahmacariyassa paripantho, visaṁvādanā mittānaṁ paripantho, asajjhāyakiriyā bāhusaccassa paripantho, asussūsā aparipucchā paññāya paripantho, ananuyogo apaccavekkhaṇā dhammānaṁ paripantho, micchāpaṭipatti saggānaṁ paripantho.
Thụ động và không hăng hái là chướng ngại cho tài sản. Không trang sức, không tô điểm là chướng ngại cho dung sắc. Hành động không thích ứng là chướng ngại cho không bệnh. Ác bằng hữu là chướng ngại cho giới đức. Không chế ngự các căn là chướng ngại cho Phạm hạnh. Lừa dối là chướng ngại cho các bạn bè. Không học tập là chướng ngại cho nhiều trí. Không nghe, không hỏi là chướng ngại cho trí tuệ. Không có chú tâm, không có quán sát là chướng ngại cho các pháp. Tà hạnh là chướng ngại cho Thiên giới.
Sloth and lack of initiative are a roadblock for wealth. Lack of adornment and decoration are a roadblock for beauty. Unsuitable activity is a roadblock for health. Bad friendship is a roadblock for ethical conduct. Lack of sense restraint is a roadblock for the spiritual life. Dishonesty is a roadblock for friends. Not rehearsing is a roadblock for learning. Not wanting to listen and ask questions are roadblocks for wisdom. Lack of commitment and reviewing are roadblocks for good qualities. Wrong practice hinders heaven.
AN 10.73:3.1
Imesaṁ kho, bhikkhave, dasannaṁ dhammānaṁ iṭṭhānaṁ kantānaṁ manāpānaṁ dullabhānaṁ lokasmiṁ dasa dhammā āhārā—
Này các Tỷ-kheo, đối với mười pháp khả lạc, khả hỷ, khả ý khó tìm được ở đời này, mười pháp là những thức ăn. Thế nào là mười?
Ten things nourish these ten likable, desirable, and agreeable things that are rare in the world.
AN 10.73:3.2
uṭṭhānaṁ anālasyaṁ bhogānaṁ āhāro, maṇḍanā vibhūsanā vaṇṇassa āhāro, sappāyakiriyā ārogyassa āhāro, kalyāṇamittatā sīlānaṁ āhāro, indriyasaṁvaro brahmacariyassa āhāro, avisaṁvādanā mittānaṁ āhāro, sajjhāyakiriyā bāhusaccassa āhāro, sussūsā paripucchā paññāya āhāro, anuyogo paccavekkhaṇā dhammānaṁ āhāro, sammāpaṭipatti saggānaṁ āhāro.
Không thụ động, hăng hái là món ăn cho các tài sản. Trang sức, tô điểm là món ăn cho dung sắc. Hành động thích ứng là món ăn cho không bệnh. Bạn bè với thiện bằng hữu là thức ăn cho các giới đức. Chế ngự các căn là thức ăn cho Phạm hạnh. Không có lừa dối là thức ăn cho bạn bè. Học tập là thức ăn cho trí tuệ. Chú tâm quán sát là thức ăn cho các pháp. Chánh hạnh là thức ăn cho Thiên giới.
Application and initiative nourish wealth. Adornment and decoration nourish beauty. Suitable activity nourishes health. Good friendship nourishes ethical conduct. Sense restraint nourishes the spiritual life. Honesty nourishes friends. Rehearsing nourishes learning. Eagerness to listen and ask questions nourishes wisdom. Commitment and reviewing nourish good qualities. Right practice nourishes heaven.
AN 10.73:3.3
Imesaṁ kho, bhikkhave, dasannaṁ dhammānaṁ iṭṭhānaṁ kantānaṁ manāpānaṁ dullabhānaṁ lokasmiṁ ime dasa dhammā āhārā”ti.
Này các Tỷ-kheo, đối với mười pháp khả lạc, khả hỷ, khả ý khó tìm được ở đời này, mười pháp này là những thức ăn.
These ten things nourish these ten likable, desirable, and agreeable things that are rare in the world.”
Chữ PāliNghĩaGhi chú
iṭṭhakhả lạc, điều đáng ưa thíchBản Việt dịch là 'khả lạc'; bản Anh 'likable'.
kantakhả hỷ, điều đáng ưa
manāpakhả ý, vừa lòng
dullabhakhó tìm được, khó có
paripanthachướng ngại
āhārathức ăn, món ăn (nghĩa: cái nuôi dưỡng)
bhogatài sản
vaṇṇadung sắc
ārogyakhông bệnh, sức khoẻ
sīlagiới đức
brahmacariyaPhạm hạnh
bāhusaccanhiều trí, đa văn (học rộng nghe nhiều)
paññātrí tuệ
saggathiên giới
kalyāṇamittatāthiện bằng hữu, bạn lành
pāpamittatāác bằng hữu, bạn xấu
indriyasaṁvarachế ngự các căn (thu thúc lục căn)
sajjhāyakiriyāsự học tập, tụng đọc ôn luyện
sussūsāsự muốn nghe, lắng nghe
paripucchāsự hỏi han, tham vấn
paccavekkhaṇāsự quán sát, xét lại
sammāpaṭipattichánh hạnh, thực hành chân chánh
micchāpaṭipattità hạnh, thực hành sai lệch

Xin thưa, bài kinh này rất dễ dạy, vì cả bài chỉ có MỘT bảng, đọc ngang ba lượt.

Lượt một — MƯỜI ĐIỀU AI CŨNG MONG, mà kinh gọi là “khả lạc, khả hỷ, khả ý, KHÓ TÌM ĐƯỢC Ở ĐỜI”.

Tài sản, dung sắc, không bệnh, giới đức, Phạm hạnh, bạn bè, đa văn, trí tuệ, các thiện pháp, và thiên giới.

Xin để ý Thế Tôn KHÔNG chê những điều ấy. Ngài công nhận người ta ưa thích chúngvà nói ngay rằng chúng KHÓ CÓ, tức không tự nhiên mà tới.

Lượt hai — MƯỜI CHƯỚNG NGẠI (paripantha), mỗi cái ứng đúng một điều.

Thụ động và không hăng hái ngăn tài sản; ác bằng hữu ngăn giới đức; không chế ngự các căn ngăn Phạm hạnh; LỪA DỐI ngăn bạn bè; không học tập ngăn đa văn; không nghe, không hỏi ngăn trí tuệ; tà hạnh ngăn thiên giới.

Lượt ba — MƯỜI THỨC ĂN (āhāra), tức mặt ngược lại: hăng hái nuôi tài sản, thiện bằng hữu nuôi giới đức, chế ngự các căn nuôi Phạm hạnh, KHÔNG LỪA DỐI nuôi bạn bè, học tập nuôi đa văn, chú tâm quán sát nuôi các thiện pháp, chánh hạnh nuôi thiên giới.

Xin thưa chữ “THỨC ĂN” là chữ của kinh, và con thấy đó là chữ rất hay để dạy các em.

thức ăn thì phải ăn MỖI NGÀY. Không ai ăn một bữa mà no cả đời. Giới đức, tình bạn, sức khoẻ, trí tuệ — đều phải nuôi hằng ngày, y như vậy.

chỗ hay nhất của bài kinh, con nghĩ, là chỗ nó KHÔNG hứa hẹn gì cả.

Thế Tôn không nói “hãy cầu nguyện thì sẽ được”. Ngài chỉ NHÂN DUYÊN: muốn có điều gì thì nuôi cái nhân của điều ấy, và bỏ cái phá hoại nó.

Xin thưa một chi tiết dễ làm người đọc ngạc nhiên: trong danh sách có “trang sức, tô điểm là món ăn cho DUNG SẮC”.

Chúng con không bàn thêm chỗ ấychỉ xin thưa rằng bài kinh này nói về những điều NGƯỜI ĐỜI mong, và Thế Tôn nêu nhân duyên thật của từng điều, kể cả những điều rất đời.

Xin thưa lời cuối cho anh chị em Huynh Trưởng. Con nghĩ bài này dạy được cho mọi lứa tuổi, vì chỉ cần hỏi một câu: “em muốn cái gì?” rồi hỏi tiếp “vậy cái gì nuôi nó, cái gì phá nó?”

trong mười cái phá, có ba cái rất gần với đời sống đoàn: LƯỜI, BẠN XẤU, và LỪA DỐI.

Xin thưa hai việc về trang, và việc thứ nhất bạn đọc nên biết.

Ở phần “mười thức ăn”, bản Việt điện tử mà chúng con dùng chỉ có CHÍN vế chứ không đủ mười: thiếu vế “nghe và hỏi là thức ăn cho TRÍ TUỆ” (sussūsā paripucchā paññāya āhāro), vốn có đủ trong bản Pāli Mahāsaṅgīti và bản tiếng Anh.

Ngoài ra vế sajjhāyakiriyā bāhusaccassa āhārohọc tập là thức ăn cho ĐA VĂN — thì bản Việt ghi là “Học tập là thức ăn cho TRÍ TUỆ”.

Chúng con GIỮ NGUYÊN lời bản in trong các ô trích, chỉ thưa chỗ khác biệt ra đây và ở mục bố cục để bạn đọc đối chiếu đượcrất có thể đây là chỗ SÓT của bản đánh máy điện tử, chứ chúng con không dám nói là dịch sai.

Việc thứ hai: lượt soi có nêu rằng ô tiếng Anh mở đầu thiếu câu “What ten?”chúng con đã kiểm lại và LƯỢT SOI SAI chỗ này, câu ấy có sẵn trong ô. Mười bốn ô Pāli/Anh và bảy ô tiếng Việt đều đúng nguyên văn.

  • “Kinh chê tài sản và dung sắc.” Trái lại — kinh XẾP chúng vào mười điều khả lạcchỉ ra cái nuôi chúng.
  • “Cầu nguyện thì sẽ được.” Cả bài kinh KHÔNG hứa một điều nàochỉ nêu NHÂN DUYÊN.
  • “Đa văn và trí tuệ là một.” Kinh tách riêng: học tập nuôi ĐA VĂN, còn nghe và hỏi nuôi TRÍ TUỆ.
  • “Bản Việt thiếu là dịch sai.” Chỗ thiếu rất có thể là sót của bản đánh máy điện tử; chúng tôi giữ nguyên lời bản in và chỉ ghi chú.
  • Kẻ một bảng ba cột: điều mình mong — cái phá nó — cái nuôi nó. Cho các em tự điền.
  • Lấy chữ “THỨC ĂN” mà nhắc: tình bạn cũng phải ăn mỗi ngày.
  • Ba cái phá gần nhất với đoànlười, bạn xấu, lừa dối — cho các em kể một việc thật.
  • Vế “không nghe, không hỏi ngăn trí tuệ”khuyến khích các em HỎI trong giờ Phật pháp.
  • Vì sao Thế Tôn nói mười điều ấy “KHÓ tìm được ở đời”?
  • Trong mười cái phá, cái nào mình đang mắc?
  • Vì sao LỪA DỐI lại là cái phá TÌNH BẠN, chứ không phải cái gì khác?
  • “Nghe và hỏi nuôi trí tuệ” — lần cuối mình HỎI một câu về đạo là khi nào?

Nguyên văn Pāli chép từ ấn bản Mahāsaṅgīti — tệp dữ liệu gốc bilara-data của suttacentral.net, từng đoạn có đánh số. Bản tiếng Việt của Hoà thượng Thích Minh Châu; bản tiếng Anh của Tỳ-kheo Sujato. Bài này đã qua một lượt soi lại độc lập. Lượt soi ấy chỉ ra 2 chỗ cần xem lại; chỗ nào là lỗi thật thì chúng tôi đã sửa và ghi rõ ở Phần IV. Muốn đọc trọn bài kinh, xin xem nguyên văn ba thứ tiếng. Thấy chỗ nào khác ấn bản in, xin báo cho chúng tôi.