G.Đ.P.T Huyền Quang Phật Pháp · Tam Tạng Kinh Điển Tăng Chi Bộ · AN 10.71
Mười Điều Ước · Và Chỉ Một Con Đường

Kinh Ước Nguyện

Ākaṅkha Sutta — AN 10.71 · Pāli · Việt · Anh

Tam TạngTạng KinhTrung BộKinh Ước Nguyện

Thế Tôn nêu MƯỜI điều một Tỷ-kheo có thể ước nguyện — từ chuyện được bạn đồng tu thương mến, cho tới chuyện đoạn tận lậu hoặc.cả mười điều đều được đáp bằng ĐÚNG MỘT CÂU: hãy thành tựu viên mãn giới luật…

  • Bộ — Tăng Chi Bộ, Chương Mười Pháp, Phẩm Ước Nguyện (Ākaṅkhavagga), kinh 71
  • Nơi chốnSàvatthi, Jetavana, khu vườn ông Anàthapindika
  • Bài song hànhMN 6 (Kinh Ước Nguyện, Trung Bộ), cùng một khuôn
  • Đọc kèmAN 10.2 (giới đưa đến không hối tiếc, rồi cả chuỗi)

Kinh Ước Nguyện (Ākaṅkhasutta) là bài mở đầu Phẩm Ước Nguyện, Chương Mười Pháp của Tăng Chi Bộ. Thế Tôn nói kinh này tại Jetavana, khu vườn Cấp Cô Độc ở Sàvatthi. Mở đầu, Thế Tôn dạy chúng Tỷ-kheo: hãy sống đầy đủ giới, đầy đủ giới bổn Pàtimokkha, sống chế ngự với sự chế ngự của giới bổn, đầy đủ uy nghi chánh hạnh, thấy sợ hãi trong những lỗi nhỏ nhặt, chấp nhận và học tập các học pháp. Tiếp đó Ngài nêu mười điều mà một Tỷ-kheo có thể ước nguyện, đi từ thấp lên cao: được các bạn đồng Phạm hạnh thương mến và cung kính; được đầy đủ bốn vật dụng (y áo, đồ ăn khất thực, sàng tọa, dược phẩm); khiến sự cúng dường của thí chủ đem lại quả báo lớn cho họ; khiến bà con huyết thống đã mệnh chung nghĩ đến mình với tâm hoan hỷ mà được lợi ích lớn; biết đủ với bất cứ vật dụng gì; kham nhẫn được lạnh nóng, đói khát, muỗi mòng, lời mạ lỵ phỉ báng và những cảm thọ đau đớn khốc liệt; nhiếp phục được lạc và bất lạc; nhiếp phục được khiếp đảm và sợ hãi; chứng được bốn Thiền không khó khăn, không mệt nhọc; và sau cùng là đoạn tận các lậu hoặc, chứng ngộ vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát ngay trong hiện tại. Điều đáng chú ý là mỗi ước nguyện, dù nhỏ hay lớn, đều được Thế Tôn trả lời bằng đúng một pháp hành lặp đi lặp lại: "phải thành tựu viên mãn giới luật, kiên trì nội tâm tịch tĩnh, không gián đoạn Thiền định, thành tựu quán hạnh, thích sống tại các trú xứ không tịnh." Nghĩa là muốn đạt bất cứ điều gì trong đời sống tu tập, con đường vẫn là một: giới, định (chỉ), tuệ (quán), và đời sống viễn ly. Kinh kết bằng cách lặp lại nguyên câu khuyến giáo mở đầu, cho thấy lời dạy "hãy sống đầy đủ giới" được nói ra chính vì mười lợi ích ấy. Đây là bài kinh rất thích hợp để nhắc anh chị em Huynh Trưởng và đoàn sinh: mọi ước nguyện tốt đẹp đều phải bắt đầu từ nếp sống giữ giới và tu tâm, chứ không phải từ mong cầu suông.

Bố cục bài kinhTheo đúng thứ tự trong kinh văn

  • Duyên khởi — Thế Tôn trú ở Sàvatthi, tại Jetavana, khu vườn Anàthapindika, gọi các Tỷ-kheo (đoạn 1).
  • Lời khuyến giáo mở đầu: sống đầy đủ giới và giới bổn Pàtimokkha — Hãy sống đầy đủ giới, đầy đủ giới bổn, chế ngự với sự chế ngự của giới bổn, đầy đủ uy nghi chánh hạnh, thấy sợ hãi trong những lỗi nhỏ nhặt, chấp nhận và học tập các học pháp (đoạn 2).
  • Mười điều ước nguyện, mỗi điều đều quy về một pháp hành — Mười trường hợp "nếu Tỷ-kheo có ước nguyện" (đoạn 3–12): (1) được đồng Phạm hạnh thương mến, cung kính; (2) được đầy đủ bốn vật dụng; (3) khiến sự cúng dường của thí chủ được quả báo lớn; (4) khiến bà con huyết thống đã mệnh chung nghĩ đến với tâm hoan hỷ được quả báo lớn; (5) biết đủ với bất cứ vật dụng gì; (6) kham nhẫn lạnh nóng đói khát, muỗi mòng, lời mạ lỵ, các cảm thọ thống khổ; (7) nhiếp phục lạc và bất lạc; (8) nhiếp phục khiếp đảm và sợ hãi; (9) chứng bốn Thiền không khó khăn; (10) đoạn tận lậu hoặc, chứng vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát. Mỗi điều đều kết bằng cùng một câu: phải thành tựu viên mãn giới luật, kiên trì nội tâm tịch tĩnh, không gián đoạn Thiền định, thành tựu quán hạnh, thích sống tại các trú xứ không tịnh.
  • Kết: lặp lại lời mở đầu và nêu lý do — Lặp lại nguyên câu khuyến giáo mở đầu và kết: "Như vậy được nói đến, chính do duyên này được nói đến như vậy" (đoạn 13).

Mỗi đoạn ghi nguyên văn Pāli, rồi bản Việt, rồi bản tiếng Anh. Số bên trái là số đoạn trong kinh, để đối chiếu được.

AN 10.71:1.1–1.2
Ekaṁ samayaṁ bhagavā sāvatthiyaṁ viharati jetavane anāthapiṇḍikassa ārāme. Tatra kho bhagavā bhikkhū āmantesi:
Một thời, Thế Tôn trú ở Sàvatthi, tại Jetavana, khu vườn Anàthapindika. Ở đây, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo:
At one time the Buddha was staying near Sāvatthī in Jeta's Grove, Anāthapiṇḍika's monastery. There the Buddha addressed the mendicants,
AN 10.71:2.1
“Sampannasīlā, bhikkhave, viharatha sampannapātimokkhā, pātimokkhasaṁvarasaṁvutā viharatha ācāragocarasampannā aṇumattesu vajjesu bhayadassāvino, samādāya sikkhatha sikkhāpadesu.
Này các Tỷ-kheo, hãy sống đầy đủ giới, đầu đủ giới bổn Pàtimokkha. Hãy sống chế ngự với sự chế ngự của giới bổn Pàtimokkha, đầy đủ uy nghi chánh hạnh, thấy sợ hãi trong những lỗi nhỏ nhặt, chấp nhận và học tập các học pháp.
“Mendicants, live by the ethical precepts and the monastic code. Live restrained in the monastic code, conducting yourselves well and resorting for alms in suitable places. Seeing danger in the slightest fault, keep the rules you've undertaken.
AN 10.71:3.1
Ākaṅkheyya ce, bhikkhave, bhikkhu ‘sabrahmacārīnaṁ piyo cassaṁ manāpo ca garu ca bhāvanīyo cā’ti, sīlesvevassa paripūrakārī ajjhattaṁ cetosamathamanuyutto anirākatajjhāno vipassanāya samannāgato brūhetā suññāgārānaṁ.
Này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo có ước nguyện: “Mong rằng ta được các đồng Phạm hạnh thương mến, yêu quý, cung kính và bắt chước”. Tỷ-kheo ấy phải thành tựu viên mãn giới luật, kiên trì, nội tâm tịch tĩnh, không gián đoạn Thiền định, thành tựu quán hạnh, thích sống tại các xứ không tịnh.
A mendicant might wish: ‘May I be liked and approved by my spiritual companions, respected and admired.’ So let them fulfill their precepts, be committed to inner serenity of the heart, not neglect absorption, be endowed with discernment, and frequent empty huts.
AN 10.71:6.1
Ākaṅkheyya ce, bhikkhave, bhikkhu ‘ye me petā ñātī sālohitā kālaṅkatā pasannacittā anussaranti tesaṁ taṁ mahapphalaṁ assa mahānisaṁsan’ti, sīlesvevassa …pe… brūhetā suññāgārānaṁ.
Này các Tỷ kheo, nếu Tỷ-kheo có ước nguyện: “Mong rằng những bà con huyết thống với ta, khi chết và mệnh chung nghĩ (đến ta) với tâm hoan hỷ, (và nhờ vậy) được quả báo lớn, được lợi ích lớn”. Tỷ-kheo ấy phải thành tựu viên mãn giới luật … (như trên) … trú xứ không tịnh.
A mendicant might wish: ‘When deceased family and relatives who have passed away recollect me with a confident mind, may this be very fruitful and beneficial for them.’ So let them fulfill their precepts …
AN 10.71:8.1
Ākaṅkheyya ce, bhikkhave, bhikkhu ‘khamo assaṁ sītassa uṇhassa jighacchāya pipāsāya ḍaṁsamakasavātātapasarīsapasamphassānaṁ, duruttānaṁ durāgatānaṁ vacanapathānaṁ uppannānaṁ sārīrikānaṁ vedanānaṁ dukkhānaṁ tibbānaṁ kharānaṁ kaṭukānaṁ asātānaṁ amanāpānaṁ pāṇaharānaṁ adhivāsakajātiko assan’ti, sīlesvevassa …pe… brūhetā suññāgārānaṁ.
Này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo có ước nguyện: “Mong rằng ta kham nhẫn với lạnh, nóng, đói khát, sự xúc chạm của ruồi, muỗi, gió, sức nóng mặt trời, của loài bò sát, kham nhẫn những cách nói mạ ly phỉ báng, kham nhẫn các cảm thọ về thân, những cảm thọ thống khổ, khốc liệt, đau nhói, nhức nhối, không sung sướng, không thích thú, chết điếng người”, thời Tỷ-kheo ấy phải sống đầy đủ giới… trú xứ không tịnh.
A mendicant might wish: ‘May I endure cold, heat, hunger, and thirst. May I endure the touch of flies, mosquitoes, wind, sun, and reptiles. May I endure rude and unwelcome criticism. And may I put up with physical pain—sharp, severe, acute, unpleasant, disagreeable, and life-threatening.’ So let them fulfill their precepts …
AN 10.71:10.1
Ākaṅkheyya ce, bhikkhave, bhikkhu ‘bhayabheravasaho assaṁ, na ca maṁ bhayabheravo saheyya, uppannaṁ bhayabheravaṁ abhibhuyya abhibhuyya vihareyyan’ti, sīlesvevassa …pe… brūhetā suññāgārānaṁ.
Này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo có ước nguyện: “Mong rằng ta nhiếp phục khiếp đảm và sợ hãi, chớ không phải khiếp đảm và sợ hãi nhiếp phục ta. Mong rằng ta sống luôn luôn nhiếp phục khiếp đảm và sợ hãi được khởi lên”. Tỷ-kheo ấy phải thành tựu viên mãn giới luật … (như trên) … trú xứ không tịnh.
A mendicant might wish: ‘May I prevail over fear and dread, and may fear and dread not prevail over me. May I live having mastered fear and dread whenever they arise.’ So let them fulfill their precepts …
AN 10.71:12.1
Ākaṅkheyya ce, bhikkhave, bhikkhu ‘āsavānaṁ khayā anāsavaṁ cetovimuttiṁ paññāvimuttiṁ diṭṭheva dhamme sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja vihareyyan’ti, sīlesvevassa paripūrakārī ajjhattaṁ cetosamathamanuyutto anirākatajjhāno vipassanāya samannāgato brūhetā suññāgārānaṁ.
Này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo có ước nguyện: “Với sự đoạn tận các lậu hoặc, tự mình với thắng trí chứng ngộ, chứng đạt và an trú ngay trong hiện tại, vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát”. Tỷ-kheo ấy phải thành tựu viên mãn giới luật, kiên trì nội tâm tịch tĩnh, không gián đoạn Thiền định, thành tựu quán hạnh, thích sống trong các trú xứ không tịnh.
A mendicant might wish: ‘May I realize the undefiled freedom of heart and freedom by wisdom, and live having realized it with my own insight in this very life due to the ending of defilements.’ So let them fulfill their precepts, be committed to inner serenity of the heart, not neglect absorption, be endowed with discernment, and frequent empty huts.
AN 10.71:13.1–13.2
‘Sampannasīlā, bhikkhave, viharatha sampannapātimokkhā, pātimokkhasaṁvarasaṁvutā viharatha ācāragocarasampannā aṇumattesu vajjesu bhayadassāvino, samādāya sikkhatha sikkhāpadesū’ti, iti yaṁ taṁ vuttaṁ, idametaṁ paṭicca vuttan”ti.
Này các Tỷ-kheo, hãy sống đầy đủ giới hạnh, đầy đủ giới bổn, sống chế ngự với sự chế ngự của giới bổn, đầy đủ uy nghi chánh hạnh, thấy sự nguy hiểm trong các lỗi nhỏ nhặt, chấp nhận và tu học trong các học pháp. Như vậy được nói đến, chính do duyên này được nói đến như vậy.
‘Live by the ethical precepts and the monastic code. Live restrained in the monastic code, conducting yourselves well and resorting for alms in suitable places. Seeing danger in the slightest fault, keep the rules you've undertaken.’ That's what I said, and this is why I said it.”
Chữ PāliNghĩaGhi chú
ākaṅkheyya / ākaṅkhāước nguyện, mong muốnTên kinh và tên phẩm (Ākaṅkhavagga) đều lấy từ chữ này.
sampannasīlađầy đủ giới, thành tựu giới hạnh
pātimokkhagiới bổn PàtimokkhaBộ giới điều của Tỷ-kheo, tụng đọc trong ngày Bố-tát.
pātimokkhasaṁvarasự chế ngự theo giới bổn
ācāragocarasampannađầy đủ uy nghi chánh hạnh (cách cư xử và chỗ đi lại thích đáng)
aṇumattesu vajjesu bhayadassāvīthấy sợ hãi trong những lỗi nhỏ nhặt
sikkhāpadahọc pháp, điều học
sabrahmacārīvị đồng Phạm hạnh, bạn cùng tu
cetosamathanội tâm tịch tĩnh, sự an chỉ của tâm
jhānaThiền (thiền-na), trạng thái địnhanirākatajjhāna: không gián đoạn, không bỏ phế Thiền định.
vipassanāquán, tuệ quánBản Việt dịch là "thành tựu quán hạnh".
suññāgāratrú xứ không tịnh, nhà trống vắngbrūhetā suññāgārānaṁ: thích sống nơi vắng lặng để hành thiền.
santuṭṭha / santuṭṭhibiết đủ, tri túc
khama / adhivāsakakham nhẫn, chịu đựng
aratiratibất lạc và lạc (chán nản và ưa thích)
bhayabheravakhiếp đảm và sợ hãi
āsavānaṁ khayādo đoạn tận các lậu hoặc
cetovimutti – paññāvimuttitâm giải thoát – tuệ giải thoát
mahapphala – mahānisaṁsaquả báo lớn – lợi ích lớn

Xin thưa bài kinh này có một lối kết cấu rất đáng học — và chỗ hay của nó nằm ở sự LẶP LẠI.

Mở đầu, Thế Tôn dặn: “hãy sống ĐẦY ĐỦ GIỚI, đầy đủ GIỚI BỔN Pàtimokkha… đầy đủ uy nghi chánh hạnh, THẤY SỢ HÃI TRONG NHỮNG LỖI NHỎ NHẶT, chấp nhận và học tập các học pháp.”

Rồi Ngài nêu MƯỜI điều ước nguyện, xếp từ thấp lên cao — và xin để ý cái thang ấy đi rất xa.

Bậc đầu rất đời: “mong rằng ta được các đồng Phạm hạnh THƯƠNG MẾN, YÊU QUÝ, CUNG KÍNH”; rồi mong được đầy đủ bốn vật dụng.

Rồi lên: mong sự cúng dường của thí chủ đem lại QUẢ BÁO LỚN CHO HỌ; mong bà con huyết thống ĐÃ MỆNH CHUNG nghĩ đến mình với tâm hoan hỷ mà được lợi ích lớn.

Xin thưa hai điều ấy con thấy cảm động, vì chúng KHÔNG phải ước cho mình. Người tu mong CÁI PHẦN CỦA NGƯỜI KHÁC được lớn.

Rồi tới các bậc gan góc hơn: BIẾT ĐỦ với bất cứ vật dụng gì; KHAM NHẪN lạnh nóng, đói khát, ruồi muỗi, “những cách nói mạ lỵ phỉ báng”, và các cảm thọ “thống khổ, khốc liệt, đau nhói, nhức nhối… chết điếng người”.

Rồi: NHIẾP PHỤC được lạc và bất lạc; NHIẾP PHỤC được khiếp đảm và sợ hãi — kinh nói rõ chiều: “chớ không phải khiếp đảm và sợ hãi nhiếp phục TA”.

Rồi chứng BỐN THIỀN “không khó khăn, không mệt nhọc”; và sau cùng, bậc cao nhất: ĐOẠN TẬN CÁC LẬU HOẶC, chứng ngộ vô lậu TÂM GIẢI THOÁT, TUỆ GIẢI THOÁT ngay trong hiện tại.

Bây giờ tới chỗ đắt nhất. Cả MƯỜI điều — từ điều nhỏ nhất tới điều lớn nhất — đều được đáp bằng ĐÚNG MỘT CÂU, lặp lại y nguyên mười lần:

“Tỷ-kheo ấy phải THÀNH TỰU VIÊN MÃN GIỚI LUẬT, KIÊN TRÌ NỘI TÂM TỊCH TĨNH, KHÔNG GIÁN ĐOẠN THIỀN ĐỊNH, THÀNH TỰU QUÁN HẠNH, THÍCH SỐNG TẠI CÁC TRÚ XỨ KHÔNG TỊNH.”

Tức là GIỚI — ĐỊNH (chỉ) — TUỆ (quán) — và đời sống VIỄN LY. Muốn gì cũng vậy. Không có con đường tắt riêng cho từng ước nguyện.

Xin thưa con thấy sự lặp lại ấy CHÍNH LÀ bài giảng. Nếu mỗi ước nguyện có một cách riêng thì người ta sẽ đi tìm CÁCH. Kinh chặn đường ấy lại bằng cách trả lời giống hệt nhau mười lần.

kinh kết bằng cách LẶP LẠI NGUYÊN CÂU MỞ ĐẦU, rồi nói: “Như vậy được nói đến, CHÍNH DO DUYÊN NÀY được nói đến như vậy.”

Nghĩa là: câu “hãy sống đầy đủ giới” ở đầu bài KHÔNG phải lời dặn suông. Nó được nói ra chính VÌ mười điều lợi ích ấy.

Xin thưa lời cuối cho anh chị em Huynh Trưởng. Con nghĩ bài này rất hợp để nói với em nào ĐANG MONG MỘT ĐIỀU GÌ ĐÓvà các em thì lúc nào cũng đang mong một điều gì đó.

Vì kinh KHÔNG chê cái mong. Mong được thương mến cũng được kể vào, ngang hàng với mong giải thoátchỉ khác chỗ cao thấp trong thang.

Kinh chỉ nói MUỐN GÌ THÌ CŨNG PHẢI ĐI ĐƯỜNG ẤY.bậc thang đầu tiên nằm ngay trong tay mình: GIỚI.

Xin thưa hai việc về trang. Thứ nhất, về cách kiểm: mỗi ô “pali”“anh” của bài này đã được đối chiếu TỰ ĐỘNG với tệp nguồn, chứ không tin vào lời khai “đã chép nguyên văn”. Chữ trong mọi ô đều đúng nguyên văn; chỉ có một ô ghi biên số hơi hẹp (ghi “1.1” nhưng phần chép trải sang cả 1.2), đã ghi lại biên số, KHÔNG sửa một chữ nào trong ô.

Thứ hai: bản Việt trên nguồn có vài lỗi in nhỏ của bản điện tử (thí dụ “đầu đủ giới bổn”, “mạ ly”, “trú cứ không tịnh”). Chúng con chép đúng như nguồn hiển thị, KHÔNG tự ý sửa lời Hoà thượng.

dấu lược “… (như trên) …” trong bản Việt là lược CÓ SẴN trong nguồn — bản Pāli cũng lược bằng …pe… ở chính những đoạn ấy — không phải chúng con cắt bớt.

  • “Kinh dạy đừng mong cầu.” Ngược lại — kinh kể ra MƯỜI điều đáng mong, kể cả mong được người khác thương mến. Kinh chỉ nói ĐƯỜNG ĐI thì chỉ có một.
  • “Mỗi ước nguyện có một pháp tu riêng.” Cả mười điều đều được đáp bằng ĐÚNG MỘT CÂU, lặp lại y nguyên — giới, chỉ, quán, viễn ly.
  • “Giữ giới là chuyện nhỏ, thiền định mới quan trọng.” Câu trả lời bắt đầu bằng giới, và mở bài cũng là “hãy sống đầy đủ giới”kết bài lặp lại nguyên câu ấy.
  • “Thấy sợ hãi trong lỗi nhỏ nhặt là bối rối, e sợ.” Đó là không xem thường lỗi nhỏmột thái độ thận trọng, không phải sự nhút nhát.
  • “Ước cho bà con đã mất là mê tín.” Kinh nói rõ chiều: bà con đã mệnh chung NGHĨ ĐẾN vị ấy VỚI TÂM HOAN HỶvà nhờ TÂM ẤY mà được lợi ích.
  • “Trú xứ không tịnh là nơi ô uế.” Suññāgāra“nhà trống”, chỗ VẮNG LẶNG để hành thiền — “không tịnh” ở đây nghĩa là TRỐNG VẮNG.
  • Ngành Oanh. Một ý thôi: “con muốn được thương thì phải sống cho tốt đã” — lấy từ ước nguyện thứ nhất.
  • Ngành Thiếu. Đọc vài điều ước nguyện rồi hỏi: “câu trả lời của Phật cho mỗi điều là gì?” — để các em tự thấy nó lặp lại.
  • Ngành Thanh và Huynh Trưởng. Bàn: vì sao Thế Tôn trả lời GIỐNG HỆT NHAU mười lần?đọc kèm MN 6.
  • Lời dặn mở đầu của bài kinh là gì?
  • Kể vài điều trong mười ước nguyện.
  • Câu trả lời cho cả mười điều là gì?
  • Vì sao Thế Tôn lặp lại y nguyên một câu?
  • “Trú xứ không tịnh” nghĩa là gì?

Nguyên văn Pāli chép từ ấn bản Mahāsaṅgīti — tệp dữ liệu gốc bilara-data của suttacentral.net, từng đoạn có đánh số. Bản tiếng Việt của Hoà thượng Thích Minh Châu; bản tiếng Anh của Tỳ-kheo Sujato. Bài này đã qua một lượt soi lại độc lập. Muốn đọc trọn bài kinh, xin xem nguyên văn ba thứ tiếng. Thấy chỗ nào khác ấn bản in, xin báo cho chúng tôi.