G.Đ.P.T Huyền Quang Phật Pháp · Tam Tạng Kinh Điển Tăng Chi Bộ · AN 10.60
Chương Mười Pháp · Mười Tưởng Cho Người Bệnh

Kinh Girimānanda

Girimānanda Sutta — AN 10.60 · Pāli · Việt · Anh

Tam TạngTạng KinhTăng Chi BộKinh Girimānanda

Tôn giả Girimānanda lâm trọng bệnh. Tôn giả Ānanda xin Thế Tôn đến thăm. Thế Tôn không đi — Ngài dạy mười tưởng và bảo Ānanda đọc lên cho vị ấy nghe. Đây là bài kinh thường được tụng cho người bệnh.

  • Bộ — Tăng Chi Bộ, Chương Mười Pháp, bài 60
  • Nơi chốn — Sāvatthī, Jetavana
  • Người bệnh — Tôn giả Girimānanda
  • Tưởng thứ mười — trọn mười sáu bước quán niệm hơi thở

Kinh Girimānanda là một bài kinh rất được ưa chuộng trong truyền thống, thường được tụng cho người bệnh. Bối cảnh giản dị: Tôn giả Girimānanda lâm trọng bệnh, Tôn giả Ānanda thương xót nên bạch Phật xin Ngài đến thăm. Thế Tôn không trực tiếp đi, mà dạy Ānanda mười "tưởng" (saññā) — mười cách quán sát, nhìn nhận sự thật — và bảo: nếu Ānanda đọc lên mười tưởng này cho Girimānanda nghe, sự kiện có thể xảy ra là bệnh của vị ấy được thuyên giảm ngay lập tức. Mười tưởng gồm: (1) tưởng vô thường — quán năm thủ uẩn sắc, thọ, tưởng, hành, thức đều vô thường; (2) tưởng vô ngã — quán sáu căn và sáu trần (mắt–sắc, tai–tiếng, mũi–hương, lưỡi–vị, thân–xúc, ý–pháp) đều vô ngã; (3) tưởng bất tịnh — quán thân từ bàn chân trở lên, từ đỉnh tóc trở xuống, đầy những vật bất tịnh; (4) tưởng nguy hại — quán thân này nhiều khổ, nhiều nguy hại, là chỗ khởi lên vô số thứ bệnh; (5) tưởng đoạn tận — không chấp nhận dục tầm, sân tầm, hại tầm và các ác bất thiện pháp đã sanh, mà từ bỏ, tẩy sạch, chấm dứt; (6) tưởng ly tham và (7) tưởng đoạn diệt — hướng tâm về "Ðây là an tịnh, đây là thù thắng… ái diệt, ly tham, Niết bàn"; (8) tưởng không ưa thích đối với tất cả thế giới — buông bỏ mọi chấp thủ, thiên kiến, tùy miên; (9) tưởng đối với tất cả hành — bực phiền, xấu hổ, nhàm chán đối với tất cả hành; (10) niệm hơi thở vô, hơi thở ra — trọn vẹn mười sáu bước quán niệm hơi thở, từ "thở vô dài, vị ấy rõ biết" cho đến "quán từ bỏ, tôi sẽ thở ra". Ānanda học thuộc mười tưởng nơi Thế Tôn, đi đến nói lại cho Girimānanda; nghe xong, bệnh của Tôn giả thuyên giảm ngay lập tức và vị ấy thoát khỏi bệnh ấy. Với Huynh Trưởng, kinh cho thấy sức mạnh của chánh niệm và tuệ quán: không phải phép lạ bên ngoài, mà là tâm được đặt đúng vào sự thật vô thường – vô ngã, nhờ đó khổ đau lắng dịu.

Bố cục bài kinhTheo đúng thứ tự trong kinh văn

  • Duyên khởi: Girimānanda lâm trọng bệnh — Thế Tôn trú tại Jetavana; Tôn giả Girimānanda bị bệnh nặng; Tôn giả Ānanda bạch Phật xin Ngài đến thăm vì lòng từ mẫn (đoạn 1–2).
  • Lời dạy: hãy đọc lên mười tưởng — Thế Tôn dạy nếu Ānanda đọc mười tưởng cho Girimānanda nghe thì bệnh có thể thuyên giảm ngay lập tức; liệt kê tên mười tưởng (đoạn 2–3).
  • Giải thích từng tưởng một (mười tưởng) — Lần lượt định nghĩa: tưởng vô thường (đ.4), tưởng vô ngã (đ.5), tưởng bất tịnh (đ.6), tưởng nguy hại (đ.7), tưởng đoạn tận (đ.8), tưởng ly tham (đ.9), tưởng đoạn diệt (đ.10), tưởng không ưa thích đối với tất cả thế giới (đ.11), tưởng đối với tất cả hành (đ.12), niệm hơi thở vô hơi thở ra với mười sáu bước (đ.13).
  • Lặp lại lời dặn — Thế Tôn nhắc lại: nếu Ānanda đọc lên mười tưởng này, bệnh của Girimānanda có thể thuyên giảm ngay lập tức (đoạn 14).
  • Kết: Girimānanda lành bệnh — Ānanda học thuộc rồi đến nói lại; nghe xong, bệnh của Tôn giả Girimānanda được thuyên giảm ngay lập tức và vị ấy thoát khỏi bệnh (đoạn 15).

Mỗi đoạn ghi nguyên văn Pāli, rồi bản Việt, rồi bản tiếng Anh. Số bên trái là số đoạn trong kinh, để đối chiếu được.

AN 10.60.2
Sace kho tvaṁ, ānanda, girimānandassa bhikkhuno dasa saññā bhāseyyāsi, ṭhānaṁ kho panetaṁ vijjati yaṁ girimānandassa bhikkhuno dasa saññā sutvā so ābādho ṭhānaso paṭippassambheyya. Katamā dasa?
—Này Ananda, nếu Thầy đi đến Tỷ-kheo Girimànanda và đọc lên mười tưởng, thời sự kiện này có thể xảy ra: Tỷ-kheo Girimànanda sau khi được nghe mười tưởng, bệnh của vị ấy có thể được thuyên giảm ngay lập tức! Thế nào là mười?
"Ānanda, if you were to recite to the mendicant Girimānanda these ten perceptions, it's possible that after hearing them his illness will die down on the spot. What ten?
AN 10.60.3
Aniccasaññā, anattasaññā, asubhasaññā, ādīnavasaññā, pahānasaññā, virāgasaññā, nirodhasaññā, sabbaloke anabhiratasaññā, sabbasaṅkhāresu anicchāsaññā, ānāpānassati.
Tưởng vô thường, tưởng vô ngã, tưởng bất tịnh, tưởng nguy hại, tưởng đoạn tận, tưởng từ bỏ, tưởng đoạn diệt, tưởng nhàm chán đối với tất cả thế giới, tưởng vô thường trong tất cả hành, tưởng niệm hơi thở vô hơi thở ra.
The perceptions of impermanence, not-self, ugliness, drawbacks, giving up, fading away, cessation, dissatisfaction with the whole world, impermanence of all conditions, and mindfulness of breathing.
AN 10.60.4
Idhānanda, bhikkhu araññagato vā rukkhamūlagato vā suññāgāragato vā iti paṭisañcikkhati: ‘rūpaṁ aniccaṁ, vedanā aniccā, saññā aniccā, saṅkhārā aniccā, viññāṇaṁ aniccan’ti. Iti imesu pañcasu upādānakkhandhesu aniccānupassī viharati. Ayaṁ vuccatānanda, aniccasaññā.
Ở đây, này Ananda, Tỷ-kheo đi đến ngôi rừng, hay đến gốc cây, hay đi đến ngôi nhà trống, quán sát như sau: “Sắc là vô thường, thọ là vô thường, tưởng là vô thường, hành là vô thường, thức là vô thường.” Như vậy vị ấy trú, tùy quán vô thường, trong năm thú uẩn này. Này Ananda, đây gọi là tưởng vô thường.
It's when a mendicant has gone to a wilderness, or to the root of a tree, or to an empty hut, and reflects like this: 'Form, feeling, perception, choices, and consciousness are impermanent.' And so they meditate observing impermanence in the five grasping aggregates. This is called the perception of impermanence.
AN 10.60.5
Idhānanda, bhikkhu araññagato vā rukkhamūlagato vā suññāgāragato vā iti paṭisañcikkhati: ‘cakkhu anattā, rūpā anattā, sotaṁ anattā, saddā anattā, ghānaṁ anattā, gandhā anattā, jivhā anattā, rasā anattā, kāyā anattā, phoṭṭhabbā anattā, mano anattā, dhammā anattā’ti. Ayaṁ vuccatānanda, anattasaññā.
Ở đây, này Ananda, Tỷ-kheo đi đến khu rừng hay đi đến gốc cây, hay đi đến ngôi nhà trống, quán sát như sau: “Mắt là vô ngã, các sắc là vô ngã; tai là vô ngã, các tiếng là vô ngã; mũi là vô ngã, các hương là vô ngã; lưỡi là vô ngã, các vị là vô ngã; thân là vô ngã, xúc là vô ngã; ý là vô ngã, các pháp là vô ngã.” Này Ananda, đây gọi là tưởng vô ngã.
It's when a mendicant has gone to a wilderness, or to the root of a tree, or to an empty hut, and reflects like this: 'The eye and sights, ear and sounds, nose and smells, tongue and tastes, body and touches, and mind and ideas are not-self.' This is called the perception of not-self.
AN 10.60.8
Idhānanda, bhikkhu uppannaṁ kāmavitakkaṁ nādhivāseti, pajahati, vinodeti, byantīkaroti, anabhāvaṁ gameti … Ayaṁ vuccatānanda, pahānasaññā.
Ở đây, này Ananda, Tỷ-kheo, không có chấp nhận dục tầm đã sanh, từ bỏ, tẩy sạch, chấm dứt, đi đến không sanh trưởng; không có chấp nhận sân tầm đã sanh, từ bỏ, tẩy sạch, chấm dứt, đi đến không sanh trưởng; không có chấp nhận hại tầm… đã sanh…; không có chấp nhận các ác bất thiện pháp tiếp tục khởi lên, từ bỏ, tẩy sạch, chấm dứt, đi đến không sanh trưởng. Này Ananda, đây được gọi tưởng đoạn tận.
It's when a mendicant doesn't tolerate a sensual, malicious, or cruel thought that has arisen, and they don't tolerate any bad, unskillful qualities that have arisen, but give them up, dispel them, eliminate them, and obliterate them. This is called the perception of giving up.
AN 10.60.9 và 10.60.10
Idhānanda, bhikkhu araññagato vā rukkhamūlagato vā suññāgāragato vā iti paṭisañcikkhati: ‘etaṁ santaṁ etaṁ paṇītaṁ yadidaṁ sabbasaṅkhārasamatho sabbūpadhippaṭinissaggo taṇhākkhayo virāgo nibbānan’ti.
Ở đây, này Ananda, Tỷ-kheo đi đến khu rừng, hay đi đến gốc cây, hay đi đến ngôi nhà trống, suy xét như sau: “Ðây là an tịnh, đây là thù thắng, tức là sự an chỉ tất cả hành, sự từ bỏ tất cả sanh y, ái diệt, ly tham, Niết bàn”.
It's when a mendicant has gone to a wilderness, or to the root of a tree, or to an empty hut, and reflects like this: 'This is peaceful; this is sublime—that is, the stilling of all activities, the letting go of all attachments, the ending of craving, fading away, extinguishment.'
AN 10.60.13
Idhānanda, bhikkhu araññagato vā rukkhamūlagato vā suññāgāragato vā nisīdati pallaṅkaṁ ābhujitvā ujuṁ kāyaṁ paṇidhāya parimukhaṁ satiṁ upaṭṭhapetvā. So satova assasati satova passasati. Dīghaṁ vā assasanto ‘dīghaṁ assasāmī’ti pajānāti. Dīghaṁ vā passasanto ‘dīghaṁ passasāmī’ti pajānāti.
Ở đây, này Ananda, Tỷ-kheo đi đến khu rừng hay đi đến gốc cây, hay đi đến ngôi nhà trống, ngồi kiết-già, lưng thẳng, để niệm trước mặt. Chánh niệm, vị ấy thở vô; chánh niệm, vị ấy thở ra. Thở vô dài, vị ấy rõ biết: “Tôi thở vô dài”. Thở ra dài, vị ấy rõ biết: “Tôi thở ra dài”.
It's when a mendicant has gone to a wilderness, or to the root of a tree, or to an empty hut, sits down cross-legged, sets their body straight, and brings mindfulness to the present. Just mindful, they breathe in. Mindful, they breathe out. Breathing in heavily they know: 'I'm breathing in heavily.' Breathing out heavily they know: 'I'm breathing out heavily.'
AN 10.60.15
Atha kho āyasmā ānando bhagavato santike imā dasa saññā uggahetvā yenāyasmā girimānando tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā āyasmato girimānandassa imā dasa saññā abhāsi. Atha kho āyasmato girimānandassa dasa saññā sutvā so ābādho ṭhānaso paṭippassambhi.
Rồi Tôn giả Ananda, sau khi học thuộc từ Thế Tôn mười tưởng này, đi đến Tôn giả Girimànanda, sau khi đến, nói lên với Tôn giả Girimànanda mười tưởng này. Và Tôn giả Girimànanda, sau khi nghe mười tưởng này, bệnh của vị ấy được thuyên giảm ngay lập tức. Tôn giả Girimànanda, được thoát khỏi bệnh ấy.
Then Ānanda, having learned these ten perceptions from the Buddha himself, went to Girimānanda and recited them. Then after Girimānanda heard these ten perceptions his illness died down on the spot. And that's how he recovered from that illness.
Chữ PāliNghĩaGhi chú
saññātưởng — sự nhận biết, cách quán sát/ghi nhận của tâmBản HT. Minh Châu dịch là "tưởng"; Sujato dịch "perception".
aniccasaññātưởng vô thường
anattasaññātưởng vô ngã
asubhasaññātưởng bất tịnh
ādīnavasaññātưởng nguy hại (sự nguy hiểm, tai hại của thân)
pahānasaññātưởng đoạn tận (từ bỏ các bất thiện tầm)
virāgasaññātưởng ly thamBản Việt ở đoạn tương ứng ghi "từ bỏ"; Pāli là virāga = ly tham.
nirodhasaññātưởng đoạn diệt
sabbaloke anabhiratasaññātưởng không ưa thích (nhàm chán) đối với tất cả thế giới
ānāpānassatiniệm hơi thở vô, hơi thở ra
pañca upādānakkhandhānăm thủ uẩn: sắc, thọ, tưởng, hành, thức
āyatanaxứ — sáu nội xứ và sáu ngoại xứ (căn và trần)
nibbānaNiết bàn
taṇhākkhayaái diệt — sự đoạn tận khát ái
sabbasaṅkhārasamathasự an chỉ tất cả hành
upadhi (sabbūpadhippaṭinissagga)sanh y; sự từ bỏ tất cả sanh y
anusayatùy miên — khuynh hướng phiền não ngủ ngầm
ābādhabệnh, chứng bệnh

Chi tiết đầu tiên đã đáng để ý rồi. Ānanda xin Phật vì lòng từ mẫn mà đi thăm. Thế Tôn không đi. Ngài đưa cho Ānanda mười tưởng và bảo chính Ānanda đọc. Bài thuốc trao tay được, không cần Phật có mặt.

Chữ "tưởng" ở đây không phải tưởng tượng. Saññācách nhận biết, cách nhìn nhận sự thật — quán chiếu, chứ không phải nghĩ ra.

Mười tưởng đi theo một thứ tự. (1) vô thường — quán năm thủ uẩn; (2) vô ngã — quán sáu căn sáu trần; (3) bất tịnh(4) nguy hại — quán chính cái thân đang bệnh; (5) đoạn tận; (6) ly tham; (7) đoạn diệt; (8) không ưa thích tất cả thế giới; (9) nhàm chán tất cả hành; (10) niệm hơi thở.

Tưởng thứ tư nói thẳng vào cảnh người bệnh. Thân này nhiều khổ, nhiều nguy hại, là chỗ khởi lên vô số thứ bệnh. Kinh không an ủi bằng lời suông — kinh gọi đúng tên cái đang xảy ra.

Và đó chính là cách nó chữa. Người bệnh khổ không chỉ vì đau, mà vì bất ngờ"sao lại là tôi". Mười tưởng bỏ đi cái bất ngờ ấy.

Tưởng thứ mười khép lại rất dịu. Sau chín tưởng quán chiếu, bài kinh trở về hơi thởthứ mà người bệnh nặng đến đâu cũng còn làm được.

Đức Phật nói rất thận trọng. Ngài dạy: sự kiện này có thể xảy ra — nghe xong, bệnh có thể được thuyên giảm ngay lập tức. Ngài không hứa chắc. Kinh chép rằng Tôn giả Girimānanda quả thật đã lành bệnh.

Xin thưa cho rõ. Đây không phải là kinh chú chữa bệnh. Sức mạnh của bài kinh nằm ở chỗ người nghe hiểu và quán chiếu, không nằm ở âm thanh tụng đọc.

  • "Tụng bài này là hết bệnh." Đức Phật nói "sự kiện này có thể xảy ra" — không hứa chắc.
  • "Vậy khỏi cần thuốc." Kinh không nói vậy; nơi khác Phật còn dạy chăm sóc người bệnh là việc lớn.
  • "Tưởng bất tịnh là ghét bỏ thân."nhìn đúng sự thật, không phải ghét.
  • Ngành Oanh. Chỉ lấy tưởng thứ mười: thở vào biết thở vào, thở ra biết thở ra.
  • Ngành Thiếu. Hỏi: vì sao Phật không tự đi thăm?
  • Ngành Thanh & Huynh Trưởng. Bài rất nên học thuộc để đọc cho người bệnh trong đoàn.
  • Vì sao Thế Tôn không tự đi thăm Girimānanda?
  • Mười tưởng gồm những gì?
  • Tưởng (saññā) nghĩa là gì?
  • Vì sao bài kinh kết thúc bằng niệm hơi thở?

Nguyên văn Pāli chép từ ấn bản Mahāsaṅgīti — tệp dữ liệu gốc bilara-data của suttacentral.net, từng đoạn có đánh số. Bản tiếng Việt của Hoà thượng Thích Minh Châu; bản tiếng Anh của Tỳ-kheo Sujato. Bài này đã qua một lượt soi lại độc lập. Muốn đọc trọn bài kinh, xin xem nguyên văn ba thứ tiếng. Thấy chỗ nào khác ấn bản in, xin báo cho chúng tôi.