G.Đ.P.T Huyền Quang Phật Pháp · Tam Tạng Kinh Điển Tăng Chi Bộ · AN 10.58
Mười Câu · Một Bản Đồ Ngắn Của Toàn Bộ Phật Pháp

Kinh Lấy Căn Bản Nơi Thế Tôn

Mūlaka Sutta — AN 10.58 · Pāli · Việt · Anh

Tam TạngTạng KinhTrung BộKinh Lấy Căn Bản Nơi Thế Tôn

Nếu có người hỏi “tất cả pháp lấy gì làm CĂN BẢN?” thì đáp thế nào? Thế Tôn cho MƯỜI CÂU ĐÁP — từ DỤC làm căn bản, cho đến NIẾT-BÀN làm cứu cánh. Một bản đồ rất ngắn của toàn bộ con đường.

  • Bộ — Tăng Chi Bộ, Chương Mười Pháp, kinh 58
  • Phẩm — Tâm Của Mình (Sacittavagga)
  • Nơi chốn — kinh không ghi; Thế Tôn dạy thẳng
  • Đọc kèmAN 10.51 (tâm của mình) và AN 8.83

AN 10.58 là một bài kinh rất ngắn nhưng cô đọng cả lộ trình tu tập. Thế Tôn giả định tình huống: nếu các du sĩ ngoại đạo đến hỏi chúng Tỷ-kheo mười câu — tất cả pháp lấy gì làm căn bản, lấy gì làm sanh khởi, lấy gì làm tập khởi, lấy gì làm chỗ quy tụ, lấy gì làm thượng thủ, lấy gì làm tăng thượng, lấy gì làm tối thượng, lấy gì làm lõi cây, lấy gì làm chỗ thể nhập, lấy gì làm cứu cánh — thì các Thầy sẽ trả lời thế nào? Các Tỷ-kheo không tự trả lời, mà thưa rằng đối với các vị ấy, pháp lấy Thế Tôn làm căn bổn, lấy Thế Tôn làm lãnh đạo, lấy Thế Tôn làm nương tựa, và thỉnh Thế Tôn giảng. Đây là công thức quen thuộc trong nhiều kinh, thể hiện thái độ khiêm cung và tinh thần y pháp bất y nhân của người học đạo. Thế Tôn dạy các vị hãy nghe và khéo tác ý, rồi ban cho mười câu đáp. Mười câu đáp ấy là: tất cả pháp lấy dục (chanda) làm căn bản, lấy tác ý (manasikāra) làm sanh khởi, lấy xúc (phassa) làm tập khởi, lấy thọ (vedanā) làm chỗ quy tụ, lấy định (samādhi) làm thượng thủ, lấy niệm (sati) làm tăng thượng, lấy tuệ (paññā) làm tối thượng, lấy giải thoát (vimutti) làm lõi cây, lấy bất tử (amata) làm chỗ thể nhập, và lấy Niết-bàn (nibbāna) làm cứu cánh. Với Huynh Trưởng Gia Đình Phật Tử, bài kinh này rất dễ dùng để dạy: nó cho thấy mọi việc đều khởi đi từ ý muốn và sự chú tâm, đi qua kinh nghiệm xúc — thọ, rồi được điều phục bằng định và niệm, được soi sáng bằng tuệ, và có mục đích cuối cùng là giải thoát, Niết-bàn. Mười chi này thường được các vị thầy dùng làm một "bản đồ" ngắn gọn của toàn bộ Phật pháp, có thể học thuộc để nhớ suốt đời. Toàn kinh chỉ gồm ba đoạn ngắn, thích hợp cho một buổi học Phật pháp ngành Thiếu hay ngành Thanh.

Bố cục bài kinhTheo đúng thứ tự trong kinh văn

  • 1. Câu hỏi giả định của các du sĩ ngoại đạo — Thế Tôn nêu mười câu hỏi mà các du sĩ ngoại đạo có thể đặt ra về căn bản của tất cả pháp, rồi hỏi các Tỷ-kheo sẽ trả lời thế nào.
  • 2. Các Tỷ-kheo thỉnh Thế Tôn giảng — Các Tỷ-kheo thưa rằng pháp lấy Thế Tôn làm căn bổn, làm lãnh đạo, làm nương tựa, và thỉnh Thế Tôn nói nghĩa của lời ấy; Thế Tôn dạy hãy nghe và khéo tác ý.
  • 3. Mười câu đáp của Thế Tôn — Thế Tôn lặp lại mười câu hỏi và ban cho câu trả lời: dục làm căn bản, tác ý làm sanh khởi, xúc làm tập khởi, thọ làm chỗ quy tụ, định làm thượng thủ, niệm làm tăng thượng, tuệ làm tối thượng, giải thoát làm lõi cây, bất tử làm chỗ thể nhập, Niết-bàn làm cứu cánh; và dạy các Tỷ-kheo cứ như vậy mà trả lời.

Mỗi đoạn ghi nguyên văn Pāli, rồi bản Việt, rồi bản tiếng Anh. Số bên trái là số đoạn trong kinh, để đối chiếu được.

AN 10.58, TTC 1 (an10.58:1.1–1.2)
“Sace, bhikkhave, aññatitthiyā paribbājakā evaṁ puccheyyuṁ: ‘kiṁmūlakā, āvuso, sabbe dhammā, kiṁsambhavā sabbe dhammā, kiṁsamudayā sabbe dhammā, kiṁsamosaraṇā sabbe dhammā, kiṁpamukhā sabbe dhammā, kiṁadhipateyyā sabbe dhammā, kiṁuttarā sabbe dhammā, kiṁsārā sabbe dhammā, kiṁogadhā sabbe dhammā, kiṁpariyosānā sabbe dhammā’ti, evaṁ puṭṭhā tumhe, bhikkhave, tesaṁ aññatitthiyānaṁ paribbājakānaṁ kinti byākareyyāthā”ti?
—Này các Tỷ-kheo, nếu các du sĩ ngoại đạo có thể hỏi như sau: “Này chư Hiền, tất cả pháp lấy gì làm căn bản? Tất cả pháp lấy gì làm sanh khởi? Tất cả pháp lấy gì làm tập khởi? Tất cả pháp lấy gì làm chỗ quy tụ? Tất cả pháp lấy gì làm thượng thủ? Tất cả pháp lấy gì làm tăng thượng? Tất cả pháp lấy gì làm tối thượng? Tất cả pháp lấy gì làm lõi cây? Tất cả pháp lấy gì làm chỗ thể nhập? Tất cả pháp lấy gì làm cứu cánh? “ Ðược hỏi vậy, này các Tỷ-kheo, các Thầy trả lời các du sĩ ngoại đạo ấy như thế nào?
“Mendicants, if wanderers of other religions were to ask: ‘Reverends, all things have what as their root? What produces them? What is their origin? What is their meeting place? What is their chief? What is their ruler? What is their overseer? What is their core? What is their objective? What is their culmination?’ How would you answer them?”
AN 10.58 (an10.58:1.3)
“Bhagavaṁmūlakā no, bhante, dhammā bhagavaṁnettikā bhagavaṁpaṭisaraṇā. Sādhu vata, bhante, bhagavantaṁyeva paṭibhātu etassa bhāsitassa attho. Bhagavato sutvā bhikkhū dhāressantī”ti.
—Bạch Thế Tôn, đối với chúng con, pháp lấy Thế Tôn làm căn bổn, lấy Thế Tôn làm lãnh đạo, lấy Thế Tôn làm nương tựa… Thật lành thay, bạch Thế Tôn, nếu nghĩa của lời nói này được Thế Tôn nói lên! Sau khi nghe Thế Tôn nói, các Tỷ-kheo sẽ thọ trì.
“Our teachings are rooted in the Buddha. He is our guide and our refuge. Sir, may the Buddha himself please clarify the meaning of this. The mendicants will listen and remember it.”
AN 10.58 (an10.58:2.1)
“Tena hi, bhikkhave, suṇātha, sādhukaṁ manasi karotha, bhāsissāmī”ti.
—Vậy này các Tỷ-kheo, hãy nghe và khéo tác ý, Ta sẽ nói.
“Well then, mendicants, listen and apply your mind well, I will speak.”
AN 10.58 (an10.58:2.2–2.3)
“Evaṁ, bhante”ti kho te bhikkhū bhagavato paccassosuṁ. Bhagavā etadavoca:
—Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau:
“Yes, sir,” they replied. The Buddha said this:
AN 10.58, TTC 2 (an10.58:3.1–3.2)
“Sace, bhikkhave, aññatitthiyā paribbājakā evaṁ puccheyyuṁ: ‘kiṁmūlakā, āvuso, sabbe dhammā, kiṁsambhavā sabbe dhammā, kiṁsamudayā sabbe dhammā, kiṁsamosaraṇā sabbe dhammā, kiṁpamukhā sabbe dhammā, kiṁ adhipateyyā sabbe dhammā, kiṁuttarā sabbe dhammā, kiṁsārā sabbe dhammā, kiṁogadhā sabbe dhammā, kiṁpariyosānā sabbe dhammā’ti,
—Này các Tỷ-kheo, nếu các du sĩ ngoại đạo hỏi như sau: “Này chư Hiền, tất cả pháp lấy gì làm căn bản? Tất cả pháp lấy gì làm sanh khởi? Tất cả pháp lấy gì làm tập khởi? Tất cả pháp lấy gì làm chỗ quy tụ? Tất cả pháp lấy gì làm thượng thủ? Tất cả pháp lấy gì làm tăng thượng? Tất cả pháp lấy gì làm tối thượng? Tất cả pháp lấy gì làm lõi cây? Tất cả pháp lấy gì làm chỗ thể nhập? Tất cả pháp lấy gì làm cứu cánh? “
“Mendicants, if wanderers of other religions were to ask: ‘Reverends, all things have what as their root? What produces them? What is their origin? What is their meeting place? What is their chief? What is their ruler? What is their overseer? What is their core? What is their objective? What is their culmination?’
AN 10.58, TTC 2 (an10.58:3.3–3.4) — đoạn cốt tủy, thường được trích tụng
evaṁ puṭṭhā tumhe, bhikkhave, tesaṁ aññatitthiyānaṁ paribbājakānaṁ evaṁ byākareyyātha: ‘chandamūlakā, āvuso, sabbe dhammā, manasikārasambhavā sabbe dhammā, phassasamudayā sabbe dhammā, vedanāsamosaraṇā sabbe dhammā, samādhippamukhā sabbe dhammā, satādhipateyyā sabbe dhammā, paññuttarā sabbe dhammā, vimuttisārā sabbe dhammā, amatogadhā sabbe dhammā, nibbānapariyosānā sabbe dhammā’ti.
Ðược hỏi vậy, này các Tỷ-kheo, các Thầy có thể trả lời như sau: “Tất cả pháp lấy dục làm căn bản. Tất cả pháp lấy tác ý làm sanh khởi. Tất cả pháp lấy xúc làm tập khởi. Tất cả pháp lấy thọ làm chỗ quy tụ. Tất cả pháp lấy định làm thượng thủ. Tất cả pháp lấy niệm làm tăng thượng. Tất cả pháp lấy tuệ làm tối thượng. Tất cả pháp lấy giải thoát làm lõi cây. Tất cả pháp lấy bất tử làm chỗ thể nhập. Tất cả pháp lấy Niết-bản làm cứu cánh.”
You should answer them: ‘Reverends, all things are rooted in desire. They are produced by application of mind. Contact is their origin. Feeling is their meeting place. Immersion is their chief. Mindfulness is their ruler. Wisdom is their overseer. Freedom is their core. Their objective is freedom from death. And extinguishment is their culmination.’
AN 10.58 (an10.58:3.5)
Evaṁ puṭṭhā tumhe, bhikkhave, tesaṁ aññatitthiyānaṁ paribbājakānaṁ evaṁ byākareyyāthā”ti.
Này các Tỷ-kheo, được hỏi vậy, các Thầy có thể trả lời các du sĩ ngoại đạo ấy như vậy.
When questioned by wanderers of other religions, that’s how you should answer them.”
Chữ PāliNghĩaGhi chú
mūlakalấy … làm căn bản, gốc rễTên kinh Mūlakasutta lấy từ chữ này; bản Anh dịch "Rooted".
sabbe dhammātất cả phápBản Việt: "tất cả pháp"; bản Anh: "all things".
chandadục — ý muốn, lòng mong muốnBản Việt: "lấy dục làm căn bản"; bản Anh: "rooted in desire".
manasikāratác ý — sự hướng tâm, chú ý
phassaxúc — sự tiếp xúc giữa căn, cảnh và thức
vedanāthọ — cảm thọ
samādhiđịnhBản Việt: "lấy định làm thượng thủ" (samādhippamukhā).
satiniệmBản Việt: "lấy niệm làm tăng thượng" (satādhipateyyā).
paññātuệBản Việt: "lấy tuệ làm tối thượng" (paññuttarā).
vimuttigiải thoátBản Việt: "lấy giải thoát làm lõi cây" (vimuttisārā); sāra = lõi cây.
amatabất tửBản Việt: "lấy bất tử làm chỗ thể nhập" (amatogadhā).
nibbānaNiết-bànBản Việt in là "Niết-bản" (nibbānapariyosānā: lấy Niết-bàn làm cứu cánh).
aññatitthiyā paribbājakācác du sĩ ngoại đạo
SacittavaggaPhẩm Tâm Của Mình — phẩm VI, Chương Mười Pháp

Xin thưa bài kinh này chỉ ba đoạn ngắn, mà gói được cả lộ trình tu tập — con nghĩ rất đáng cho các em học thuộc.

Thế Tôn giả định một tình huống: nếu các du sĩ ngoại đạo đến hỏi MƯỜI CÂU — “tất cả pháp lấy gì làm căn bản, sanh khởi, tập khởi, chỗ quy tụ, thượng thủ, tăng thượng, tối thượng, lõi cây, chỗ thể nhập, cứu cánh?” — thì các Thầy trả lời thế nào?

Và các Tỷ-kheo KHÔNG tự trả lời. Các vị thưa: “đối với chúng con, pháp lấy Thế Tôn làm căn bổn, lấy Thế Tôn làm lãnh đạo, lấy Thế Tôn làm nương tựa” — rồi thỉnh Ngài giảng.

Xin thưa đây là công thức quen thuộc trong nhiều kinh, và con nghĩ nó đáng nói với các em: chưa biết thì NÓI LÀ CHƯA BIẾT, rồi HỎIchứ không đoán bừa cho có câu trả lời.

Rồi MƯỜI CÂU ĐÁP, và con xin kể theo đúng thứ tự vì thứ tự ấy chính là bài học:

(1) Tất cả pháp lấy DỤC (chanda) làm CĂN BẢN.

Xin thưa chữ dục ở đây là Ý MUỐN, sự mong làmKHÔNG phải chỉ có nghĩa xấu. Muốn tu cũng là dục. Mọi việc đều bắt đầu từ chỗ MUỐN.

(2) lấy TÁC Ý (manasikāra) làm SANH KHỞI.muốn rồi thì phải CHÚ TÂM vào, việc mới thành hình.

(3) lấy XÚC (phassa) làm TẬP KHỞI. (4) lấy THỌ (vedanā) làm CHỖ QUY TỤ.đây là chặng KINH NGHIỆM: chạm vào, rồi cảm thấy.

(5) lấy ĐỊNH (samādhi) làm THƯỢNG THỦ. (6) lấy NIỆM (sati) làm TĂNG THƯỢNG.đây là chặng ĐIỀU PHỤC.

(7) lấy TUỆ (paññā) làm TỐI THƯỢNG.chặng SOI SÁNG.

(8) lấy GIẢI THOÁT (vimutti) làm LÕI CÂY. (9) lấy BẤT TỬ (amata) làm CHỖ THỂ NHẬP. (10) lấy NIẾT-BÀN (nibbāna) làm CỨU CÁNH.

Xin thưa chữ “LÕI CÂY” (sāra) rất đáng để ý: anh chị em nhớ MN 29 và MN 30người đi tìm lõi cây mà chỉ lấy được cành lá, vỏ ngoài. Ở đây kinh nói thẳng: LÕI của mọi pháp là GIẢI THOÁT.

Xin thưa lời cuối cho anh chị em Huynh Trưởng. Mười chi này thường được các vị thầy dùng làm một “bản đồ” ngắn gọn của toàn bộ Phật pháphọc thuộc một lần, nhớ suốt đời.

Và nếu chỉ giữ lại MỘT ý thôi, con xin giữ ý thứ nhất: mọi việc đều khởi đi từ chỗ MUỐN. Em muốn gì thì đời em đi về đó — nên chỗ đáng coi lại trước nhất là CÁI MUỐN của mình.

Xin thưa một ghi nhận về trang, không dám sửa thầm. Ở ô trích đoạn cốt tủy, bản in của Hoà thượng ghi “Tất cả pháp lấy NIẾT-BẢN làm cứu cánh”“Niết-BẢN” chứ không phải “Niết-BÀN”. Chúng con đã tải lại bản Minh Châu và dò tận nơi: bản điện tử ghi đúng như vậy, và trong toàn bài KHÔNG có chỗ nào ghi “Niết-bàn”. Đây là lỗi ấn bản, chúng con GIỮ NGUYÊN chữ của bản in và chỉ ghi chú ở đây, không tự ý sửa lời Hoà thượng.

  • “Dục là tham, phải bỏ.” chanda ở đây là Ý MUỐN, sự mong làmmuốn tu cũng là dục. Kinh nói mọi việc đều bắt đầu từ chỗ MUỐN.
  • “Các Tỷ-kheo không biết nên dở.” Các vị nói thẳng là chưa biết rồi HỎIđó là thái độ đáng học, không phải chỗ dở.
  • “Mười câu là mười pháp riêng lẻ.” Chúng xếp thành CHẶNG: khởi ý → chú tâm → xúc, thọ → định, niệm → tuệ → giải thoát, Niết-bàn.
  • “Lõi cây là một ví dụ cho vui.” Chữ sāra nối thẳng với MN 29–30: người lấy cành lá về mà tưởng đã được lõi.
  • “Niết-bản là một chữ riêng.” Đó là lỗi ấn bản của bản in; chúng con giữ nguyên và chú thích, không tự sửa.
  • Ngành Oanh. Chỉ dạy câu thứ nhất: việc gì cũng bắt đầu từ chỗ MÌNH MUỐN.
  • Ngành Thiếu. Học đủ mười câu — bài ngắn, thuộc được trong một buổi.
  • Ngành Thanh và Huynh Trưởng. Chia mười câu thành các chặng rồi bàn. Và để ý thái độ của các Tỷ-kheo: chưa biết thì nói là chưa biết.
  • Ai được giả định là người hỏi?
  • Các Tỷ-kheo trả lời ra sao?
  • Tất cả pháp lấy gì làm căn bản?
  • Chữ “lõi cây” chỉ điều gì?
  • Mười câu ấy chia được thành mấy chặng?

Nguyên văn Pāli chép từ ấn bản Mahāsaṅgīti — tệp dữ liệu gốc bilara-data của suttacentral.net, từng đoạn có đánh số. Bản tiếng Việt của Hoà thượng Thích Minh Châu; bản tiếng Anh của Tỳ-kheo Sujato. Bài này đã qua một lượt soi lại độc lập. Muốn đọc trọn bài kinh, xin xem nguyên văn ba thứ tiếng. Thấy chỗ nào khác ấn bản in, xin báo cho chúng tôi.