G.Đ.P.T Huyền Quang Phật Pháp · Tam Tạng Kinh Điển Tăng Chi Bộ · AN 10.51
Soi Gương · Mười Câu Tự Hỏi

Kinh Tâm Của Mình

Sacitta Sutta — AN 10.51 · Pāli · Việt · Anh

Tam TạngTạng KinhTrung BộKinh Tâm Của Mình

Không đọc được tâm người khác thì hãy học đọc TÂM MÌNH. Thế Tôn lấy ví dụ người trẻ ưa trang điểm soi mặt trong gương: thấy vết nhớp thì lau đi, không thấy thì mừng — rồi đưa ra MƯỜI CÂU TỰ HỎI để soi tâm mỗi ngày.

  • Bộ — Tăng Chi Bộ, Chương Mười Pháp, kinh 51
  • Phẩm — Tâm Của Mình (Sacittavagga) — bài mở đầu phẩm
  • Nơi chốnSāvatthī, Jetavana, khu vườn ông Anāthapiṇḍika
  • Đọc kèmAN 10.48 (mười điều thường quán sát) và AN 5.51 (năm triền cái)

Kinh "Tâm Của Mình" (Sacittasutta) là bài mở đầu Phẩm VI của Chương Mười Pháp, Tăng Chi Bộ. Thế Tôn thuyết tại Jetavana, khu vườn ông Cấp Cô Độc, không do ai thưa hỏi. Lời dạy rất ngắn nhưng rất thiết thực cho người tu: nếu mình chưa có khả năng biết tâm người khác, thì hãy phát nguyện "Ta sẽ thiện xảo trong hành tướng tâm của ta". Nghĩa là: thay vì bận tâm dò xét người, hãy quay về biết rõ tâm mình. Thế Tôn dùng một ví dụ rất gần gũi với tuổi trẻ: một thanh niên hay thiếu nữ ưa trang điểm soi mặt mình trong tấm gương sạch hoặc trong một bát nước trong. Thấy có hột bụi hay dấu nhớp thì lo lau chùi cho sạch; không thấy gì thì hoan hỷ "Thật lợi đắc cho ta! Ta thật là trong sạch!". Cũng vậy, người tu phải thường xuyên soi lại tâm mình bằng mười cặp câu hỏi: ta đang sống nhiều với tham hay không tham? sân hay không sân? hôn trầm thụy miên hay đã từ bỏ? trạo cử hay không trạo cử? nghi ngờ hay đã vượt qua nghi? phẫn nộ hay không phẫn nộ? tâm ô nhiễm hay không ô nhiễm? thân nhiệt nóng hay không? biếng nhác hay tinh tấn? không định tĩnh hay định tĩnh? Rồi Ngài dạy hai lối ứng xử sau khi soi. Nếu thấy mình đang sống nhiều với các pháp bất thiện, phải lập tức khởi quyết định, ước muốn, tinh tấn, nỗ lực, dõng mãnh, bất thối, chánh niệm, tỉnh giác để đoạn tận — khẩn cấp như người bị cháy khăn, cháy đầu phải mau dập tắt. Nếu thấy mình đang sống nhiều với các thiện pháp thì không dừng lại tự mãn, mà an trú trong các thiện pháp ấy rồi tiến thêm nữa để đoạn diệt các lậu hoặc. Với Huynh Trưởng và đoàn sinh, đây là bài kinh nền cho việc kiểm điểm bản thân: mỗi ngày soi tâm như soi gương, thấy lỗi thì sửa ngay, thấy tốt thì tiếp tục đi tới, không tự mãn và cũng không tự trách suông.

Bố cục bài kinhTheo đúng thứ tự trong kinh văn

  • 1. Duyên khởi — Thế Tôn trú ở Sàvatthi, tại Jetavana, khu vườn ông Anàthapindika; Ngài gọi các Tỷ-kheo và các vị vâng đáp.
  • 2. Lời khuyến giáo: hãy thiện xảo về tâm của mình — Nếu Tỷ-kheo không thiện xảo trong hành tướng tâm người khác, thời cần phải nguyện: "Ta sẽ thiện xảo trong hành tướng tâm của ta"; đó là điều cần học tập.
  • 3. Ví dụ tấm gương và mười câu tự quán sát — Như người trẻ ưa trang điểm soi mặt trong gương sạch hay bát nước trong: thấy bụi nhớp thì cố gắng đoạn trừ, không thấy thì hoan hỷ. Cũng vậy, sự quán sát đem lại nhiều lợi ích trong các thiện pháp, qua mười cặp câu hỏi: tham/không tham, sân/không sân, hôn trầm thụy miên, trạo cử, nghi ngờ, phẫn nộ, tâm ô nhiễm, thân nhiệt nóng, biếng nhác/tinh tấn, không định tĩnh/định tĩnh.
  • 4. Nếu thấy bất thiện: nỗ lực như khi đầu bị cháy — Nếu quán sát thấy mình sống nhiều với các pháp bất thiện, phải quyết định, ước muốn, tinh tấn, nỗ lực, dõng mãnh, bất thối, chánh niệm, tỉnh giác để đoạn tận, ví như khi khăn bị cháy hay đầu bị cháy.
  • 5. Nếu thấy thiện: an trú rồi tiến thêm để đoạn tận lậu hoặc — Nếu quán sát thấy mình sống nhiều với các thiện pháp, thời sau khi an trú trong các thiện pháp ấy, cần chú tâm đoạn diệt các lậu hoặc.

Mỗi đoạn ghi nguyên văn Pāli, rồi bản Việt, rồi bản tiếng Anh. Số bên trái là số đoạn trong kinh, để đối chiếu được.

AN 10.51.1
Ekaṁ samayaṁ bhagavā sāvatthiyaṁ viharati jetavane anāthapiṇḍikassa ārāme. Tatra kho bhagavā bhikkhū āmantesi:
Một thời, Thế Tôn trú ở Sàvatthi, tại Jetavana, khu vườn ông Anàthapindika. Ở đây, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo:
At one time the Buddha was staying near Sāvatthī in Jeta's Grove, Anāthapiṇḍika's monastery. There the Buddha addressed the mendicants,
AN 10.51.2
“No ce, bhikkhave, bhikkhu paracittapariyāyakusalo hoti, atha ‘sacittapariyāyakusalo bhavissāmī’ti—evañhi vo, bhikkhave, sikkhitabbaṁ.
Này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo, không thiện xảo trong hành tướng tâm người khác, thời cần phải nguyện rằng: "Ta sẽ thiện xảo trong hành tướng tâm của ta." Như vậy, các Tỷ-kheo các Thầy cần phải học tập.
“Mendicants, if a mendicant isn't skilled in encompassing another's mind, then they should train themselves: 'I will be skilled in encompassing my own mind.'
AN 10.51.3
Kathañca, bhikkhave, bhikkhu sacittapariyāyakusalo hoti?
Và này các Tỳ kheo, như thế nào, Tỷ-kheo thiện xảo trong hành tướng tâm của mình?
And how is a mendicant skilled in encompassing their own mind?
AN 10.51.3
Seyyathāpi, bhikkhave, itthī vā puriso vā daharo yuvā maṇḍanakajātiko ādāse vā parisuddhe pariyodāte acche vā udakapatte sakaṁ mukhanimittaṁ paccavekkhamāno sace tattha passati rajaṁ vā aṅgaṇaṁ vā, tasseva rajassa vā aṅgaṇassa vā pahānāya vāyamati.
Ví như, này các Tỷ-kheo, một người đàn bà hay một người đàn ông, còn trẻ, trong tuổi thanh niên, tánh ưa trang điểm, quán sát hình ảnh mặt mình trong tấm gương thanh tịnh trong sáng, hay trong một bát nước trong. Nếu thấy trên mặt có hột bụi hay dấu nhớp gì, người ấy cố gắng đoạn trừ hột bụi hay dấu nhớp ấy.
Suppose there was a woman or man who was young, youthful, and fond of adornments, and they check their own reflection in a clean bright mirror or a clear bowl of water. If they see any dirt or blemish there, they'd try to remove it.
AN 10.51.3
Evamevaṁ kho, bhikkhave, bhikkhuno paccavekkhaṇā bahukārā hoti kusalesu dhammesu:
Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo quán sát như vậy, được nhiều lợi ích trong các thiện pháp.
In the same way, checking is very helpful for a mendicant's skillful qualities.
AN 10.51.3
‘abhijjhālu nu kho bahulaṁ viharāmi, anabhijjhālu nu kho bahulaṁ viharāmi, byāpannacitto nu kho bahulaṁ viharāmi, abyāpannacitto nu kho bahulaṁ viharāmi, thinamiddhapariyuṭṭhito nu kho bahulaṁ viharāmi, vigatathinamiddho nu kho bahulaṁ viharāmi, uddhato nu kho bahulaṁ viharāmi, anuddhato nu kho bahulaṁ viharāmi, vicikiccho nu kho bahulaṁ viharāmi, tiṇṇavicikiccho nu kho bahulaṁ viharāmi, kodhano nu kho bahulaṁ viharāmi, akkodhano nu kho bahulaṁ viharāmi, saṅkiliṭṭhacitto nu kho bahulaṁ viharāmi, asaṅkiliṭṭhacitto nu kho bahulaṁ viharāmi, sāraddhakāyo nu kho bahulaṁ viharāmi, asāraddhakāyo nu kho bahulaṁ viharāmi, kusīto nu kho bahulaṁ viharāmi, āraddhavīriyo nu kho bahulaṁ viharāmi, asamāhito nu kho bahulaṁ viharāmi, samāhito nu kho bahulaṁ viharāmī’ti.
"Có phải ta sống nhiều với tham? Có phải ta sống nhiều với không tham? Có phải ta sống nhiều với tâm có sân? Có phải ta sống nhiều vớt tâm không có sân? Có phải ta sống nhiều với hôn trầm thụy miên chi phối, hay ta sống nhiều với hôn trầm thụy miên được từ bỏ? Có phải ta sống nhiều với trạo cử, hay ta sống nhiều với không trạo cử? Có phải ta sống nhiều với nghi ngờ, hay ta sống nhiều vượt qua được nghi ngờ? Có phải ta sống nhiều với phẫn nộ, hay ta sống nhiều không bị phẫn nộ? Có phải ta sống nhiều với tâm bị ô nhiễm, hay ta sống nhiều với tâm không bị ô nhiễm? Có phải ta sống nhiều với thân nhiệt nóng, hay ta sống nhiều với thân không nhiệt nóng? Có phải ta sống nhiều với biếng nhác, hay ta sống nhiều với tinh tấn, tinh cần? Có phải ta sống nhiều với không định tĩnh, hay ta sống nhiều với định tĩnh?"
‘Am I often covetous or not? Am I often malicious or not? Am I often overcome with dullness and drowsiness or not? Am I often restless or not? Am I often doubtful or not? Am I often irritable or not? Am I often corrupted in mind or not? Am I often disturbed in body or not? Am I often energetic or not? Am I often immersed in samādhi or not?'
AN 10.51.4
Seyyathāpi, bhikkhave, ādittacelo vā ādittasīso vā. Tasseva celassa vā sīsassa vā nibbāpanāya adhimattaṁ chandañca vāyāmañca ussāhañca ussoḷhiñca appaṭivāniñca satiñca sampajaññañca kareyya.
Ví như, này các Tỷ-kheo, khi khăn bị cháy, hay khi đầu bị cháy, cần phải quyết định, ước muốn, tinh tấn, nỗ lực, dõng mãnh, bất thối, chánh niệm, tỉnh giác để dập tắt khăn hay đầu bị cháy ấy.
Suppose your clothes or head were on fire. In order to extinguish it, you'd apply extraordinary enthusiasm, effort, zeal, vigor, perseverance, mindfulness, and situational awareness.
AN 10.51.5
tena, bhikkhave, bhikkhunā tesuyeva kusalesu dhammesu patiṭṭhāya uttari āsavānaṁ khayāya yogo karaṇīyo”ti.
thời Tỷ-kheo ấy, sau khi an trú trong các thiện pháp ấy, rồi hơn nữa cần chú tâm đoạn diệt các lậu hoặc.
Grounded on those skillful qualities, they should practice meditation further to end the defilements.”
Chữ PāliNghĩaGhi chú
sacittatâm của mình, tự tâmsa- (của mình) + citta (tâm); tên kinh Sacittasutta
paracittapariyāyakusalathiện xảo trong hành tướng tâm người khácHT. Minh Châu dịch pariyāya ở đây là "hành tướng"
paccavekkhaṇāsự quán sát, phản tỉnh, tự soi lại mình
abhijjhā / abhijjhālutham, tham lam; người sống nhiều với tham
byāpannacittatâm có sân, tâm hiềm hận
thinamiddhahôn trầm thụy miên (dã dượi buồn ngủ)
uddhacca / uddhatatrạo cử, dao động; người sống nhiều với trạo cử
vicikicchā / vicikicchanghi ngờ, do dự
kodha / kodhanaphẫn nộ, giận dữ
saṅkiliṭṭhacittatâm bị ô nhiễm
sāraddhakāyathân nhiệt nóng (thân bị kích động, bức xúc)
kusītabiếng nhác, giải đãi
āraddhavīriyatinh tấn, tinh cần (đã phát khởi tinh tấn)
samāhita / asamāhitađịnh tĩnh / không định tĩnh
chanda, vāyāma, ussāha, ussoḷhī, appaṭivānī, sati, sampajaññaước muốn, tinh tấn, nỗ lực, dõng mãnh, bất thối, chánh niệm, tỉnh giácbảy chi phần nỗ lực được kể trong đoạn 4
āsavānaṁ khayađoạn diệt các lậu hoặc
ādittacela, ādittasīsakhăn bị cháy, đầu bị cháyví dụ nổi tiếng về mức khẩn cấp của sự tu tập

Xin thưa câu mở đầu bài kinh này rất lạ, và con nghĩ nó hay ngay từ chỗ lạ ấy.

Thế Tôn dạy: “nếu Tỷ-kheo KHÔNG THIỆN XẢO trong hành tướng tâm NGƯỜI KHÁC, thời cần phải nguyện rằng: ‘Ta sẽ thiện xảo trong hành tướng TÂM CỦA TA.’”

Xin thưa lời ấy rất khiêm, và rất thực tế. Kinh KHÔNG bảo ai cũng phải đọc được tâm người. Kinh nói: nếu không làm được điều đó — mà phần đông là không — thì ÍT NHẤT phải đọc được tâm MÌNH.

Rồi Ngài đưa ra ví dụ, và ví dụ này con thấy vừa đẹp vừa dễ thương:

“Ví như một người đàn bà hay một người đàn ông, còn trẻ, trong tuổi thanh niên, TÁNH ƯA TRANG ĐIỂM, quán sát hình ảnh mặt mình trong tấm gương thanh tịnh trong sáng, hay trong một bát nước trong. Nếu thấy trên mặt có hột bụi hay dấu nhớp gì, người ấy CỐ GẮNG ĐOẠN TRỪ hột bụi hay dấu nhớp ấy.”

Xin thưa con thấy Thế Tôn chọn ví dụ này rất khéo, và xin nói vì sao. Người soi gương ấy KHÔNG tự ghét mình. Ngược lại — họ ƯA chính mình, muốn mình sạch đẹp, nên mới soi.

Và thấy vết nhớp thì họ LAU ĐI, chứ không ngồi đó tự trách. Thấy sạch thì HOAN HỶ.

Xin thưa con nghĩ đó chính là thái độ đúng khi tự soi tâm, và rất nên dạy cho các em. Soi tâm KHÔNG phải để mắng mình. Là để LAU.

Rồi Thế Tôn cho hẳn MƯỜI CÂU HỎI, mỗi câu là một CẶP — có và không:

(1) Có phải ta sống nhiều với THAM, hay với KHÔNG THAM?

(2) Với tâm có SÂN, hay tâm KHÔNG SÂN?

(3) Bị HÔN TRẦM THỤY MIÊN chi phối, hay đã từ bỏ được?

(4) Với TRẠO CỬ, hay KHÔNG trạo cử?

(5) Với NGHI NGỜ, hay đã vượt qua nghi ngờ?

(6) Với PHẪN NỘ, hay không bị phẫn nộ?

(7) Với TÂM BỊ Ô NHIỄM, hay tâm không bị ô nhiễm?

(8) Với THÂN NHIỆT NÓNG, hay thân không nhiệt nóng?

(9) Với BIẾNG NHÁC, hay với TINH TẤN TINH CẦN?

(10) Với KHÔNG ĐỊNH TĨNH, hay với ĐỊNH TĨNH?

Xin bác để ý hai chữ “SỐNG NHIỀU” lặp lại trong cả mười câu. Kinh KHÔNG hỏi “ta có bao giờ giận không” — ai mà chẳng có. Kinh hỏi: ta sống NHIỀU với cái nào?

Con nghĩ cách hỏi ấy rất từ bi, vì nó hỏi về CHIỀU HƯỚNG của đời mình, chứ không bắt tội một lần lỡ.

Xin thưa thêm: mười câu này gần trùng với NĂM TRIỀN CÁI ở kinh AN 5.51 — tham, sân, hôn trầm thụy miên, trạo cử, nghi nằm ngay năm câu đầu. Rồi thêm năm điều nữa: phẫn nộ, tâm ô nhiễm, thân nhiệt nóng, biếng nhác, không định tĩnh.

Rồi kinh dạy phải làm gì với kết quả soi, và chia hai đường rõ ràng.

NẾU THẤY BẤT THIỆN: phải “quyết định, ước muốn, tinh tấn, nỗ lực, dõng mãnh, bất thối, chánh niệm, tỉnh giác” để đoạn tận, ví như khi KHĂN BỊ CHÁY hay ĐẦU BỊ CHÁY.

Xin thưa hình ảnh ĐẦU BỊ CHÁY thì không ai chần chừ được. Không hẹn mai, không bàn cãi. Dập ngay.

NẾU THẤY THIỆN: kinh KHÔNG bảo dừng lại tự mãn. Kinh bảo an trú trong các thiện pháp ấy rồi CHÚ TÂM ĐOẠN DIỆT CÁC LẬU HOẶC — tức đi tiếp.

Xin thưa lời cuối cho anh chị em, và con nghĩ bài này rất tiện dùng hằng ngày. Mười câu ấy ngắn, đọc chưa tới một phút. Cuối ngày tự hỏi một lượt, thấy vết nào thì lau vết đó.

Và xin nhớ tinh thần của tấm gương: soi để lau, không phải để mắng.

Xin thưa một điều nhỏ về bản văn. Bản số hoá tiếng Việt có vài chỗ lỗi nhà in (“vớt tâm”, “sống nhiếu”)trong ô trích chúng con GIỮ NGUYÊN như nguồn, không sửa chữ nào của Hoà thượng; xin anh chị em đọc là “với tâm”“sống nhiều”.

  • “Tự soi tâm là tự trách mình.” Ví dụ của kinh là người ƯA TRANG ĐIỂM soi gươngthấy vết thì LAU, thấy sạch thì HOAN HỶ. Soi để sửa, không để mắng.
  • “Phải không bao giờ giận mới đạt.” Cả mười câu đều hỏi “sống NHIỀU với…” — hỏi về chiều hướng của đời mình, không bắt tội một lần lỡ.
  • “Thấy mình tốt rồi thì yên tâm.” Kinh dạy: an trú trong thiện pháp ấy rồi CHÚ TÂM ĐOẠN DIỆT CÁC LẬU HOẶCphải đi tiếp.
  • “Không đọc được tâm người thì tu chưa tới.” Kinh nói ngược: không thiện xảo tâm người thì hãy nguyện thiện xảo TÂM MÌNHđó mới là việc phải học.
  • Ngành Oanh. Chỉ lấy hình ảnh soi gương: mặt lấm thì rửa, không ai giận cái gương.
  • Ngành Thiếu. Dùng mười câu làm bảng tự soi cuối tuần, mỗi em tự trả lời, không đọc cho ai nghe.
  • Ngành Thanh và Huynh Trưởng. Đối chiếu mười câu này với năm triền cái (AN 5.51), xem năm điều thêm vào nói gì. Và bàn hình ảnh “đầu bị cháy”.
  • Vì sao Thế Tôn nói tới tâm người khác trước?
  • Ví dụ soi gương dạy thái độ gì?
  • Hai chữ “sống nhiều” quan trọng ở chỗ nào?
  • Thấy pháp bất thiện thì phải làm gì?
  • Thấy pháp thiện rồi thì dừng lại chưa?

Nguyên văn Pāli chép từ ấn bản Mahāsaṅgīti — tệp dữ liệu gốc bilara-data của suttacentral.net, từng đoạn có đánh số. Bản tiếng Việt của Hoà thượng Thích Minh Châu; bản tiếng Anh của Tỳ-kheo Sujato. Bài này đã qua một lượt soi lại độc lập. Muốn đọc trọn bài kinh, xin xem nguyên văn ba thứ tiếng. Thấy chỗ nào khác ấn bản in, xin báo cho chúng tôi.