G.Đ.P.T Huyền Quang Phật Pháp · Tam Tạng Kinh Điển Tăng Chi Bộ · AN 10.44
Tự Soi Mười Điều · Rồi Mới Mở Lời

Kinh Tại Kusanàrà

Kusinārā Sutta — AN 10.44 · Pāli · Việt · Anh

Tam TạngTạng KinhTrung BộKinh Tại Kusanàrà

Muốn chỉ lỗi người khác thì trước hết phải TỰ SOI LẠI CHÍNH MÌNH: quán sát NĂM pháp nơi nội thân, rồi an trú NĂM pháp nơi nội tâmrồi mới được mở lời. Con nghĩ đây là bài kinh mẫu mực nhất về cách góp ý trong một đoàn thể.

  • Bộ — Tăng Chi Bộ, Chương Mười Pháp, kinh 44
  • Phẩm — Mắng Nhiếc (Akkosavagga)
  • Nơi chốnKusinārā, khóm rừng Baliharaṇa
  • Bài đi đôiAN 5.198 (năm chi phần lời thiện thuyết) trên trang này

Kinh này rất ngắn nhưng cực kỳ thiết thực cho đời sống đoàn thể. Đức Phật dạy: một Tỷ-kheo muốn buộc tội (chỉ lỗi, cử tội) người khác thì trước hết phải tự soi lại chính mình — quán sát năm pháp nơi nội thân, và an trú năm pháp nơi nội tâm — rồi mới được buộc tội người khác. Năm pháp phải tự quán sát trước khi mở lời: (1) Thân hành của ta có thanh tịnh, "không có sứt mẻ, không có uế nhiễm" hay không? (2) Khẩu hành của ta có thanh tịnh hay không? (3) Ta có an lập từ tâm, không sân hận đối với các vị đồng Phạm hạnh hay không? (4) Ta có nghe nhiều, thọ trì, tụng đọc, suy tư và thể nhập với chánh kiến những pháp "sơ thiện, trung thiện, hậu thiện" hay không? (5) Ta có khéo thông hiểu, khéo phân tích, khéo quyết định cả hai bộ giới bổn Pātimokkha hay không? Nếu thiếu điều nào, kinh nói thẳng: người khác sẽ bảo lại vị ấy — "Tôn giả hãy học tập về thân", "hãy học tập về lời", "hãy an lập từ tâm", "hãy học tập về Agama (A-hàm) đi", "mong rằng Tôn giả hãy học tập về luật". Nghĩa là chưa đủ tư cách thì lời chỉ lỗi sẽ mất trọng lượng, thậm chí quay ngược lại chính mình. Năm pháp phải an trú nơi tâm trước khi nói, cũng chính là năm điều kiện của lời nói chân chánh: nói đúng thời, nói đúng sự thật, nói lời nhu hòa, nói lời liên hệ đến mục đích, và nói với tâm từ bi — không phải phi thời, không phải không đúng sự thật, không thô bạo, không vô ích, không sân hận. Với Huynh Trưởng Gia Đình Phật Tử, đây là bài kinh mẫu mực về cách góp ý, nhắc lỗi đoàn sinh và huynh trưởng khác: tự kiểm trước, rồi mới nói; và nói với tâm từ, đúng lúc, đúng sự thật, nhu hòa, có lợi ích.

Bố cục bài kinhTheo đúng thứ tự trong kinh văn

  • 1. Duyên khởi — Thế Tôn trú tại Kusanàrà, trong khóm rừng Baliharana, gọi các Tỷ-kheo và thuyết giảng (đoạn 1).
  • 2. Lời dạy tổng quát: quán sát năm pháp, an trú năm pháp rồi mới buộc tội — Tỷ-kheo muốn buộc tội người khác phải quán sát năm pháp nội thân và an trú năm pháp nội tâm rồi mới buộc tội người khác (đoạn 2).
  • 3. Năm pháp cần quán sát nội thân — Lần lượt: thân hành thanh tịnh; khẩu hành thanh tịnh; an lập từ tâm không sân hận với các đồng Phạm hạnh; nghe nhiều thọ trì giáo pháp; khéo thông hiểu hai bộ giới bổn Pātimokkha. Mỗi pháp đều kèm lời người khác sẽ nói nếu vị ấy còn thiếu (đoạn 3–7).
  • 4. Năm pháp cần an trú nội tâm (năm điều kiện của lời nói) — Nói đúng thời, đúng sự thật, nhu hòa, liên hệ đến mục đích, và với tâm từ bi (đoạn 8–9).
  • 5. Kết luận — Lặp lại lời dạy: sau khi quán sát năm pháp và an trú năm pháp này nơi nội tâm, hãy buộc tội người khác (cuối đoạn 9).

Mỗi đoạn ghi nguyên văn Pāli, rồi bản Việt, rồi bản tiếng Anh. Số bên trái là số đoạn trong kinh, để đối chiếu được.

AN 10.44, đoạn 1 (an10.44:1.1)
Ekaṁ samayaṁ bhagavā kusinārāyaṁ viharati baliharaṇe vanasaṇḍe. Tatra kho bhagavā bhikkhū āmantesi:
Một thời, Thế Tôn trú ở Kusanàrà, trong khóm rừng Baliharana. Tại đấy, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo:
At one time the Buddha was staying near Kusinārā in the Forest of Offerings. There the Buddha addressed the mendicants,
AN 10.44, đoạn 2 (an10.44:2.1–2.2)
“Codakena, bhikkhave, bhikkhunā paraṁ codetukāmena pañca dhamme ajjhattaṁ paccavekkhitvā pañca dhamme ajjhattaṁ upaṭṭhāpetvā paro codetabbo. Katame pañca dhammā ajjhattaṁ paccavekkhitabbā?
—Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo buộc tội muốn buộc tội người khác sau khi quán sát nội trú thân năm pháp, sau khi khiến năm pháp an trú nội thân, rồi hãy buộc tội người khác. Thế nào là năm pháp cần phải quán sát nội thân?
“Mendicants, a mendicant who wants to accuse another should first check five things in themselves and establish five things in themselves. What five things should they check in themselves?
AN 10.44, đoạn 3 (an10.44:2.4–2.7)
‘parisuddhakāyasamācāro nu khomhi, parisuddhenamhi kāyasamācārena samannāgato acchiddena appaṭimaṁsena. Saṁvijjati nu kho me eso dhammo udāhu no’ti? … ‘iṅgha tāva āyasmā kāyikaṁ sikkhassū’ti, itissa bhavanti vattāro.
“Ta có thân hành thanh tịnh hay không? Ta có thành tựu thân hành thanh tịnh không có sứt mẻ, không có uế nhiễm hay không? Ta có pháp này hay không có?” Này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo thân hành không có thanh tịnh, không thành tựu thân hành thanh tịnh, có sứt mẻ, có uế nhiễm, có người sẽ nói về vị ấy như sau: “Tôn giả hãy học tập về thân”.
‘Is my bodily behavior pure? Do I have pure bodily behavior that is impeccable and irreproachable? Is this thing found in me or not?’ If it’s not, there’ll be some who say: ‘Come on, venerable, train your own bodily behavior first.’
AN 10.44, đoạn 5 (an10.44:4.2–4.5)
‘mettaṁ nu kho me cittaṁ paccupaṭṭhitaṁ sabrahmacārīsu anāghātaṁ. Saṁvijjati nu kho me eso dhammo udāhu no’ti? … ‘iṅgha tāva āyasmā sabrahmacārīsu mettaṁ cittaṁ upaṭṭhāpehī’ti, itissa bhavanti vattāro.
“Ta có an lập từ tâm, không sân hận đối với các đồng Phạm hạnh hay không? Trong ta có pháp ấy hay không có?” Này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo không an lập từ tâm, sân hận đối với các đồng Phạm hạnh, có người sẽ nói về vị ấy như sau: “Tôn giả hãy an lập từ tâm đối với các vị đồng Phạm hạnh”.
‘Is my heart established in love for my spiritual companions, without resentment? Is this thing found in me or not?’ If it’s not, there will be people who say: ‘Come on, venerable, establish your heart in love for your spiritual companions first.’
AN 10.44, đoạn 6 (an10.44:5.2, 5.5)
‘bahussuto nu khomhi sutadharo sutasannicayo, ye te dhammā ādikalyāṇā majjhekalyāṇā pariyosānakalyāṇā sātthaṁ sabyañjanaṁ kevalaparipuṇṇaṁ parisuddhaṁ brahmacariyaṁ abhivadanti, tathārūpā me dhammā bahussutā honti dhātā vacasā paricitā manasānupekkhitā diṭṭhiyā suppaṭividdhā. Saṁvijjati nu kho me eso dhammo udāhu no’ti? … ‘iṅgha tāva āyasmā āgamaṁ pariyāpuṇassū’ti, itissa bhavanti vattāro.
“Ta có phải là người nghe nhiều, thọ trì điều đã nghe, cất giữ điều đã nghe hay không? Những pháp sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, có nghĩa, có văn, đề cao đời sống Phạm hạnh hoàn toàn viên mãn thanh tịnh, những pháp ấy, ta có nghe nhiều, có thọ trì, có tụng đọc bằng lời, có suy tư với ý, được khéo thể nhập với chánh kiến không? Pháp ấy có nơi ta hay không?” … có người sẽ nói về vị ấy như sau: “Tôn giả hãy học tập về Agama (A-hàm) đi”.
‘Am I very learned, remembering and keeping what I’ve learned? These teachings are good in the beginning, good in the middle, and good in the end, meaningful and well-phrased, describing a spiritual practice that’s entirely full and pure. Am I very learned in such teachings, remembering them, rehearsing them, mentally scrutinizing them, and penetrating them theoretically? Is this thing found in me or not?’ … ‘Come on, venerable, memorize the scriptures first.’
AN 10.44, đoạn 7 (an10.44:6.2, 6.4–6.7)
‘ubhayāni kho pana me pātimokkhāni vitthārena svāgatāni honti suvibhattāni suppavattīni suvinicchitāni suttaso anubyañjanaso. Saṁvijjati nu kho me eso dhammo udāhu no’ti? … ‘idaṁ panāyasmā, kattha vuttaṁ bhagavatā’ti, iti puṭṭho na sampāyissati. Tassa bhavanti vattāro: ‘iṅgha tāva āyasmā vinayaṁ sikkhassū’ti, itissa bhavanti vattāro. Ime pañca dhammā ajjhattaṁ paccavekkhitabbā.
“Cả hai bộ giới bổn Pàtimokkha, ta có khéo truyền đạt một cách rộng rãi, khéo phân tích, khéo thông hiểu, khéo quyết định theo kinh, theo chi tiết hay không?” … “Thưa Tôn giả, vấn đề này được Thế Tôn nói tại chỗ nào?”, được hỏi như vậy, vị ấy không có thể trả lời. Người ta sẽ nói về vị ấy như sau: “Mong rằng Tôn giả hãy học tập về luật”. Như vậy, có người sẽ nói với vị ấy. Năm pháp này, cần phải tự quán sát về nội thân.
‘Have both monastic codes been passed down to me in detail, well analyzed, well mastered, and well evaluated in both the rules and accompanying material? Is this thing found in me or not?’ If it’s not, and if they are unable to respond when asked “Venerable, where was this spoken by the Buddha?” there will be people who say: ‘Come on, venerable, train in the monastic code first.’ These are the five things they should check in themselves.
AN 10.44, đoạn 8–9 (an10.44:7.1–7.7)
Katame pañca dhammā ajjhattaṁ upaṭṭhāpetabbā? ‘Kālena vakkhāmi, no akālena; bhūtena vakkhāmi, no abhūtena; saṇhena vakkhāmi, no pharusena; atthasaṁhitena vakkhāmi, no anatthasaṁhitena; mettacitto vakkhāmi, no dosantaro’ti—ime pañca dhammā ajjhattaṁ upaṭṭhāpetabbā.
Năm pháp nào cần phải an trú nội tâm? “Ta nói đúng thời, không phải phi thời; ta nói đúng sự thật, không phải không đúng sự thật; ta nói lời nhu hòa, không phải nói lời thô bạo; ta nói lời liên hệ đến mục đích, không phải lời không liên hệ đến mục đích; ta nói với tâm từ bi, không nói với tâm sân hận”. Năm pháp này cần phải an trú nội tâm.
What five things should they establish in themselves? ‘I will speak at the right time, not at the wrong time. I will speak truthfully, not falsely. I will speak gently, not harshly. I will speak beneficially, not harmfully. I will speak lovingly, not from secret hate.’ These are the five things they should establish in themselves.
AN 10.44, cuối đoạn 9 (an10.44:7.8)
Codakena, bhikkhave, bhikkhunā paraṁ codetukāmena ime pañca dhamme ajjhattaṁ paccavekkhitvā ime pañca dhamme ajjhattaṁ upaṭṭhāpetvā paro codetabbo”ti.
Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo muốn buộc tội người khác, sau khi quán sát nội tâm về năm pháp này, sau khi an trú nội tâm về năm pháp này, hãy buộc tội người khác.
A mendicant who wants to accuse another should first check these five things in themselves and establish these five things in themselves.”
Chữ PāliNghĩaGhi chú
codakaVị buộc tội, người cử tội (người nêu lỗi của người khác trong Tăng chúng)Bản Minh Châu dịch "Tỷ-kheo buộc tội"; Sujato: "a mendicant who accuses".
paccavekkhati / paccavekkhitabbaQuán sát, xét lại (điều cần được quán sát)Năm pháp cần "quán sát nội thân" trước khi buộc tội.
upaṭṭhāpeti / upaṭṭhāpetabbaAn trú, thiết lập nơi tâm (điều cần được an trú)
kāyasamācāraThân hành — cách cư xử về thân
vacīsamācāraKhẩu hành — cách cư xử về lời nói
parisuddhaThanh tịnh, trong sạch
acchidda, appaṭimaṁsaKhông có sứt mẻ, không có uế nhiễmTheo bản Minh Châu; Sujato: "impeccable and irreproachable".
mettaṁ cittaṁTừ tâm — tâm thương yêu
anāghātaKhông sân hận, không hiềm hận
sabrahmacārīCác vị đồng Phạm hạnh — bạn cùng tu
bahussuta, sutadhara, sutasannicayaNghe nhiều, thọ trì điều đã nghe, cất giữ điều đã nghe
ādikalyāṇa, majjhekalyāṇa, pariyosānakalyāṇaSơ thiện, trung thiện, hậu thiện
sātthaṁ sabyañjanaṁCó nghĩa, có văn
brahmacariyaPhạm hạnh — đời sống thanh tịnh
āgamaA-hàm — kinh điển được truyền tụngBản Minh Châu để nguyên "Agama (A-hàm)"; Sujato: "the scriptures".
pātimokkhaGiới bổn Ba-la-đề-mộc-xoa"Cả hai bộ giới bổn" = giới bổn Tỳ-kheo và Tỳ-kheo-ni.
vinayaLuật
kālena / akālenaĐúng thời / phi thời
bhūtena / abhūtenaĐúng sự thật / không đúng sự thật
saṇhena / pharusenaNhu hòa / thô bạo
atthasaṁhitenaLiên hệ đến mục đích, có lợi ích
mettacitto / dosantaroVới tâm từ bi / với tâm sân hận (nội tâm ôm sân)
AkkosavaggaPhẩm Mắng Nhiếc — phẩm thứ 5 của Chương Mười Pháp, nơi kinh này thuộc về

Xin thưa bài kinh này ngắn mà con nghĩ là bài thiết thực nhất cho một đoàn thể — vì nó nói đúng cái việc tuần nào cũng có: GÓP Ý, NHẮC LỖI NHAU.

Chữ trong kinh là “BUỘC TỘI”, “CỬ TỘI” (codaka)tức nêu lỗi của một người ra trước chúng. Trong đoàn mình thì đó là việc góp ý, nhắc nhở.

Và lời dạy mở đầu đã đặt ngay một điều kiện: “Tỷ-kheo muốn buộc tội người khác, SAU KHI QUÁN SÁT năm pháp nội thân, SAU KHI khiến năm pháp AN TRÚ nội tâm, RỒI HÃY buộc tội người khác.”

Xin để ý hai chữ “RỒI HÃY”. Kinh KHÔNG cấm chỉ lỗi. Kinh chỉ đặt MƯỜI cái cửa phải qua trước.

NĂM PHÁP PHẢI TỰ QUÁN SÁT — và mỗi pháp đều được hỏi bằng chính lời của mình, rất thẳng:

MỘT: “Ta có THÂN HÀNH THANH TỊNH hay không? Ta có thành tựu thân hành thanh tịnh KHÔNG CÓ SỨT MẺ, KHÔNG CÓ UẾ NHIỄM hay không? Ta có pháp này hay không có?”

HAI: cùng câu hỏi ấy với KHẨU HÀNH.

BA: “Ta có AN LẬP TỪ TÂM, KHÔNG SÂN HẬN đối với các đồng Phạm hạnh hay không?”

BỐN: “Ta có phải là người NGHE NHIỀU, THỌ TRÌ điều đã nghe, CẤT GIỮ điều đã nghe hay không?” — những pháp “SƠ THIỆN, TRUNG THIỆN, HẬU THIỆN, có nghĩa, có văn”.

NĂM: “Cả HAI BỘ GIỚI BỔN Pātimokkha, ta có khéo truyền đạt rộng rãi, KHÉO PHÂN TÍCH, KHÉO THÔNG HIỂU, KHÉO QUYẾT ĐỊNH hay không?”

Và đây là chỗ kinh nói rất thẳng, xin bác để ý. Nếu thiếu điều nào thì “CÓ NGƯỜI SẼ NÓI VỀ VỊ ẤY”: “Tôn giả hãy HỌC TẬP VỀ THÂN đi”; “hãy học tập về LỜI đi”; “hãy AN LẬP TỪ TÂM đi”; “hãy học tập về A-HÀM đi”; “mong rằng Tôn giả hãy học tập về LUẬT”.

Xin thưa: kinh không nói người ấy SAI khi chỉ lỗi. Kinh nói lời ấy sẽ QUAY NGƯỢC LẠI CHÍNH MÌNH. Chưa đủ tư cách thì lời chỉ lỗi mất hết trọng lượng — và người ta chỉ còn nhìn vào mình.

Rồi NĂM PHÁP PHẢI AN TRÚ NƠI TÂM — và xin bác nhận ra ngay, vì năm điều này ta đã gặp:

“Ta nói ĐÚNG THỜI, không phải phi thời; ta nói ĐÚNG SỰ THẬT, không phải không đúng sự thật; ta nói LỜI NHU HOÀ, không phải thô bạo; ta nói lời LIÊN HỆ ĐẾN MỤC ĐÍCH, không phải vô ích; ta nói VỚI TÂM TỪ BI, không phải với nội tâm sân hận.”

Xin thưa: đó chính là NĂM CHI PHẦN CỦA LỜI THIỆN THUYẾT ở Kinh AN 5.198 trên trang này. Bài kia dạy chung cho mọi lời nói; bài này đem đúng năm điều ấy đặt vào một chỗ khó nhất — LÚC ĐI CHỈ LỖI NGƯỜI.

Và xin để ý cách kinh viết mỗi điều: có vế KHẲNG ĐỊNH rồi kèm vế PHỦ ĐỊNH. “Đúng thời, KHÔNG PHẢI phi thời.” Như thể phải tự nói ra cả hai vế thì mới chắc là mình không tự gạt.

Xin thưa điều con thấy đắt nhất: chi phần thứ năm là “với TÂM TỪ BI, không phải với NỘI TÂM SÂN HẬN”. Bốn điều trước người ngoài kiểm được; điều thứ năm chỉ mình mình biết. Và đúng lúc đi chỉ lỗi ai, đó là điều dễ tự gạt nhất.

Rồi kinh kết bằng chính lời mở đầu: sau khi quán sát năm pháp và an trú năm pháp này, “HÃY BUỘC TỘI NGƯỜI KHÁC”.

Xin thưa lại một lần nữa cho rõ, vì chỗ này rất dễ hiểu lệch: bài kinh KHÔNG dạy im lặng cho yên chuyện. Câu cuối vẫn là “HÃY buộc tội người khác”. Việc chỉ lỗi là việc PHẢI LÀM — chỉ là phải đủ tư cách và đủ tâm mới làm.

Xin thưa lời cuối cho anh chị em. Con nghĩ mười điều này nên viết ra dán ở đoàn quán, và đọc lại trước mỗi lần họp Huynh Trưởng có việc phải góp ý cho nhau.

Và với các em, xin rút gọn thành hai câu hỏi mà em nào cũng tự hỏi được: “Điều mình sắp trách bạn, chính mình có phạm không?”“Lúc này trong lòng mình đang thương bạn hay đang bực bạn?”

  • “Kinh dạy đừng chỉ lỗi ai, cứ im cho yên.” Câu kết vẫn là “HÃY buộc tội người khác”. Kinh chỉ đặt MƯỜI cửa phải qua trước.
  • “Chỉ cần nói đúng sự thật là được.” Đúng sự thật chỉ là MỘT trong năm pháp phải an trú; còn đúng thời, nhu hoà, có lợi ích, và VỚI TÂM TỪ BI.
  • “Thiếu tư cách thì lời góp ý vẫn đúng.” Kinh nói “có người sẽ nói về vị ấy”lời ấy quay ngược lại chính mình, và người ta chỉ còn nhìn vào mình.
  • “Năm pháp nội tâm là chuyện riêng, ai kiểm được.” Đúng là chi phần thứ năm chỉ mình mình biếtvà chính vì vậy kinh bắt phải TỰ NÓI RA trước khi mở lời.
  • Ngành Oanh. Hai câu hỏi: “Điều em sắp trách bạn, chính em có phạm không?”“Lòng em lúc này thương bạn hay bực bạn?”
  • Ngành Thiếu. Học năm pháp nội tâm, đọc kèm AN 5.198 trên trang này.
  • Ngành Thanh và Huynh Trưởng. Dán mười điều ở đoàn quán, đọc lại trước mỗi buổi họp có việc phải góp ý cho nhau.
  • Năm pháp phải tự quán sát là gì?
  • Nếu thiếu một pháp thì điều gì xảy ra?
  • Năm pháp phải an trú nơi tâm là gì?
  • Câu kết của bài kinh nói gì?

Nguyên văn Pāli chép từ ấn bản Mahāsaṅgīti — tệp dữ liệu gốc bilara-data của suttacentral.net, từng đoạn có đánh số. Bản tiếng Việt của Hoà thượng Thích Minh Châu; bản tiếng Anh của Tỳ-kheo Sujato. Bài này đã qua một lượt soi lại độc lập. Muốn đọc trọn bài kinh, xin xem nguyên văn ba thứ tiếng. Thấy chỗ nào khác ấn bản in, xin báo cho chúng tôi.