G.Đ.P.T Huyền Quang Phật Pháp · Tam Tạng Kinh Điển Tăng Chi Bộ · AN 10.30
Một Ông Vua Thắng Trận · Cúi Đầu Xuống Chân Phật

Kinh Kosalà (Thứ Hai)

Dutiyakosalasutta — AN 10.30 · Pāli · Việt · Anh

Tam TạngTạng KinhTrung BộKinh Kosalà (Thứ Hai)

Vua Pasenadi vừa THẮNG TRẬN trở về — và việc đầu tiên vua làm là đi thẳng đến khu vườn, xuống xe đi bộ, gõ then cửa một ngôi tịnh xá, rồi cúi đầu rạp xuống chân Thế Tôn. Thế Tôn hỏi: vì thấy lợi ích gì?

  • Bộ — Tăng Chi Bộ, Chương Mười Pháp, Phẩm Lớn (Mahāvagga), kinh 30
  • Nơi chốnSàvatthi, rừng Jetavana, khu vườn ông Anàthapindika
  • Người trong kinhvua Pasenadi nước Kosala, các Tỷ-kheo đang kinh hành ngoài trời, và Thế Tôn
  • Đọc kèmAN 10.29 (Kosalà thứ nhất, ngay trước bài này)

Kinh Kosalà thứ hai nằm trong Phẩm Lớn (Mahāvagga), Chương Mười Pháp của Tăng Chi Bộ. Bối cảnh: Thế Tôn trú tại Sàvatthi, rừng Jetavana, khu vườn ông Anàthapindika. Vua Pasenadi nước Kosala vừa thắng một trận chiến trở về, liền đi thẳng đến khu vườn để yết kiến Thế Tôn. Xe chỉ đi được tới đâu thì vua xuống xe, đi bộ vào vườn — một chi tiết nhỏ nhưng cho thấy lòng tôn kính. Gặp các Tỷ-kheo đang kinh hành ngoài trời, vua hỏi Thế Tôn ở đâu. Các vị chỉ ngôi tịnh xá cửa đóng, và dặn vua cách đến: đừng gây tiếng động, đừng hấp tấp, bước vào mái hiên, đằng hắng rồi gõ nơi then cửa. Vua làm đúng như vậy, Thế Tôn mở cửa. Vào tịnh xá, vua cúi đầu rạp xuống chân Phật, hôn chân, lấy tay xoa bóp và xưng tên mình hai lần. Thế Tôn hỏi vì thấy lợi ích gì mà vua lại tỏ những cử chỉ hạ mình đến mức ấy. Vua trả lời: vì lòng biết ơn và cảm tạ. Rồi vua nêu ra một chuỗi lý do — nội dung chính của bài kinh: Thế Tôn thực hiện hạnh phúc và an lạc cho đa số, an lập Thánh chánh lý cho nhiều người; Thế Tôn có giới, có Thánh giới, đầy đủ thiện giới; Thế Tôn lâu ngày sống ở rừng núi hẻo lánh; Thế Tôn biết đủ với bất cứ y áo, đồ khất thực, sàng tọa, dược phẩm nào; Thế Tôn là phước điền vô thượng ở đời; Thế Tôn có được không khó khăn những câu chuyện hướng thượng khai mở tâm trí (ít dục, biết đủ, viễn ly, không tụ hội, tinh cần, giới, định, tuệ, giải thoát, giải thoát tri kiến); Thế Tôn chứng bốn Thiền không khó khăn; Thế Tôn nhớ nhiều đời quá khứ; Thế Tôn có thiên nhãn thanh tịnh siêu nhân; và Thế Tôn đoạn tận lậu hoặc, an trú vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát. Sau khi nêu đủ các lý do, vua xin phép cáo từ vì nhiều công việc. Thế Tôn đáp: hãy làm những gì Đại vương nghĩ là hợp thời. Vua đứng dậy, đảnh lễ, thân hữu hướng về Ngài rồi ra đi. Bài kinh này rất hợp để dạy đoàn sinh về lòng biết ơn (kataññutā) và về việc kính Phật là kính vì đức hạnh chứ không vì hình tướng.

Bố cục bài kinhTheo đúng thứ tự trong kinh văn

  • Duyên khởi: vua Pasenadi thắng trận đến khu vườn — Thế Tôn trú ở Sàvatthi, Jetavana. Vua Pasenadi thắng trận trở về, đi xe đến hết đường xe rồi đi bộ vào vườn (đoạn 1.1–1.4).
  • Hỏi các Tỷ-kheo và cách gõ cửa tịnh xá — Vua hỏi các Tỷ-kheo đang kinh hành ngoài trời; các vị chỉ ngôi tịnh xá cửa đóng và dặn: đừng có tiếng động, đừng hấp tấp, vào mái hiên, đằng hắng, gõ then cửa (đoạn 1.5–1.9).
  • Vua đảnh lễ chân Phật và xưng tên — Vua cúi đầu rạp xuống chân Thế Tôn, hôn chân, lấy tay xoa bóp, xưng tên mình hai lần (đoạn 2.1–2.4).
  • Thế Tôn hỏi lý do; vua đáp: vì lòng biết ơn — Thế Tôn hỏi vì thấy lợi ích gì mà làm cử chỉ hạ liệt quá mức như vậy; vua đáp vì lòng biết ơn, lòng cảm tạ (đoạn 3.1–3.2).
  • Các lý do vua kính mộ Thế Tôn — Lần lượt: thực hiện hạnh phúc an lạc cho đa số (4); có giới, Thánh giới, thiện giới (5); lâu ngày sống ở rừng núi hẻo lánh (6); biết đủ với y áo, đồ khất thực, sàng tọa, dược phẩm (7); là phước điền vô thượng ở đời (8); có được không khó khăn các câu chuyện hướng thượng khai mở tâm trí (9); chứng bốn Thiền không khó khăn (10); nhớ nhiều đời quá khứ (11); thiên nhãn thanh tịnh siêu nhân thấy chúng sanh theo hạnh nghiệp (12); đoạn tận lậu hoặc, an trú vô lậu tâm giải thoát tuệ giải thoát (13).
  • Vua cáo từ — Vua xin đi vì nhiều công việc; Thế Tôn đáp hãy làm những gì nghĩ là hợp thời; vua đảnh lễ, thân hữu hướng về Ngài rồi ra đi (đoạn 14.1–14.4).

Mỗi đoạn ghi nguyên văn Pāli, rồi bản Việt, rồi bản tiếng Anh. Số bên trái là số đoạn trong kinh, để đối chiếu được.

AN 10.30:1.9
“Eso, mahārāja, vihāro saṁvutadvāro. Tena appasaddo upasaṅkamitvā ataramāno ālindaṁ pavisitvā ukkāsitvā aggaḷaṁ ākoṭehi; vivarissati te bhagavā dvāran”ti.
Tâu Ðại vương, đây là ngôi tịnh xá, có cửa đóng. Ngài hãy đi đến ngôi nhà ấy, đừng có tiếng động, đừng có hấp tấp, bước vào mái hiên, đằng hắng, rồi gõ nơi then cửa. Thế Tôn sẽ mở cửa cho Đại vương.
Great king, that's his dwelling, with the door closed. Approach it quietly, without hurrying; go onto the porch, clear your throat, and knock on the door-panel. The Buddha will open the door.
AN 10.30:2.2–2.4
Atha kho rājā pasenadi kosalo vihāraṁ pavisitvā bhagavato pādesu sirasā nipatitvā bhagavato pādāni mukhena ca paricumbati pāṇīhi ca parisambāhati nāmañca sāveti:
“rājāhaṁ, bhante, pasenadi kosalo;
rājāhaṁ, bhante, pasenadi kosalo”ti.
Rồi vua Pasenadi, nước Kosalàđi đi vào tịnh xá, đầu cúi rạp xuống trước chân Thế Tôn, miệng hôn chân Thế Tôn, lấy tay xoa bóp, và nói lên tên mình: —Bạch Thế Tôn, con là vua Pasenadi nước Kosalà. Bạch Thế Tôn, con là vua Pasenadi nước Kosalà.
Then King Pasenadi entered the Buddha's dwelling. He bowed with his head to the Buddha's feet, caressing them and covering them with kisses, and pronounced his name: "Sir, I am Pasenadi, king of Kosala! I am Pasenadi, king of Kosala!"
AN 10.30:3.1–3.2
“Kaṁ pana tvaṁ, mahārāja, atthavasaṁ sampassamāno imasmiṁ sarīre evarūpaṁ paramanipaccakāraṁ karosi, mettūpahāraṁ upadaṁsesī”ti?
“Kataññutaṁ kho ahaṁ, bhante, kataveditaṁ sampassamāno bhagavati evarūpaṁ paramanipaccakāraṁ karomi, mettūpahāraṁ upadaṁsemi.
Thưa Ðại vương, do Ðại vương thấy ý nghĩa lợi ích gì mà Ðại vương lại làm những cử chỉ hạ liệt quá mức như vậy và tỏ lộ lòng kính mộ đối với cái thân này? Bạch Thế Tôn, để nêu rõ lòng biết ơn của con, để nói lên lòng cảm tạ của con đối với Thế Tôn, mà con làm những cử chỉ hạ liệt quá mức như vậy và tỏ bày lòng từ ái đối với Thế Tôn.
"But, Great King, for what reason do you act with such utmost deference for this body, conveying your manifest love?" "Sir, it's because of my gratitude and thanks for the Buddha that I act with such utmost deference, conveying my manifest love.
AN 10.30:4.1
Bhagavā hi, bhante, bahujanahitāya paṭipanno bahujanasukhāya bahuno janassa ariye ñāye patiṭṭhāpitā yadidaṁ kalyāṇadhammatāya kusaladhammatāya.
Bạch Thế Tôn, Thế Tôn là vị đã thực hiện hạnh phúc cho đa số, an lạc cho đa số, là vị đã an lập Thánh chánh lý cho đa số, tức là chánh chơn pháp tánh, thiện pháp tánh.
The Buddha is practicing for the welfare and happiness of the people. He has established many people in the noble system, that is, the principles of goodness and skillfulness.
AN 10.30:6.1
Puna caparaṁ, bhante, bhagavā dīgharattaṁ āraññiko, araññavanapatthāni pantāni senāsanāni paṭisevati.
Lại nữa, bạch Thế Tôn, Thế Tôn đã lâu ngày là vị sống ở rừng, sống tại các trú xứ rừng núi, các vùng cao nguyên hẻo lánh xa vắng.
Furthermore, the Buddha lives in the wilderness, frequenting remote lodgings in the wilderness and the forest.
AN 10.30:7.1
Puna caparaṁ, bhante, bhagavā santuṭṭho itarītaracīvarapiṇḍapātasenāsanagilānapaccayabhesajjaparikkhārena.
Lại nữa, bạch Thế Tôn, Thế Tôn là vị biết đủ với bất cứ vật dụng nào được cúng dường, như y áo, đồ ăn khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh.
Furthermore, the Buddha is content with any kind of robes, almsfood, lodgings, and medicines and supplies for the sick.
AN 10.30:8.1
Puna caparaṁ, bhante, bhagavā āhuneyyo pāhuneyyo dakkhiṇeyyo añjalikaraṇīyo anuttaraṁ puññakkhettaṁ lokassa.
Lại nữa, bạch Thế Tôn, Thế Tôn là vị đáng được cung kính, đáng được tôn trọng, đáng được cúng dường, đáng được chắp tay là phước điền vô thượng ở đời.
Furthermore, the Buddha is worthy of offerings dedicated to the gods, worthy of hospitality, worthy of a religious donation, worthy of greeting with cupped palms, and is the supreme field of merit for the world.
AN 10.30:9.1
Puna caparaṁ, bhante, bhagavā yāyaṁ kathā abhisallekhikā cetovivaraṇasappāyā, seyyathidaṁ—appicchakathā santuṭṭhikathā pavivekakathā asaṁsaggakathā vīriyārambhakathā sīlakathā samādhikathā paññākathā vimuttikathā vimuttiñāṇadassanakathā, evarūpāya kathāya nikāmalābhī akicchalābhī akasiralābhī.
Lại nữa, bạch Thế Tôn, những câu chuyện nào thuộc hướng thượng, khai mở tâm trí, ví như câu chuyện về ít dục, câu chuyện biết đủ, câu chuyện về viễn ly, câu chuyện về không tụ hội, câu chuyện về tinh cần tinh tấn, câu chuyện về giới, câu chuyện về định, câu chuyện về tuệ, câu chuyện về giải thoát, câu chuyện về giải thoát tri kiến, các câu chuyện như vậy, Thế Tôn có được không khó khăn, có được không mệt nhọc, có được không phí sức.
Furthermore, the Buddha gets to take part in talk about self-effacement that helps open the heart, when he wants, without trouble or difficulty. That is, talk about fewness of wishes, contentment, seclusion, aloofness, arousing energy, ethics, immersion, wisdom, freedom, and the knowledge and vision of freedom.
AN 10.30:13.1
Puna caparaṁ, bhante, bhagavā āsavānaṁ khayā anāsavaṁ cetovimuttiṁ paññāvimuttiṁ diṭṭheva dhamme sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharati.
Lại nữa, bạch Thế Tôn, Thế Tôn do đoạn tận các lậu hoặc, ngay trong hiện tại tự mình với thắng trí chứng ngộ, chứng đạt và an trú vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát.
Furthermore, the Buddha has realized the undefiled freedom of heart and freedom by wisdom, and lives having realized it with his own insight in this very life due to the ending of defilements.
Chữ PāliNghĩaGhi chú
kataññutā / kataveditalòng biết ơn / lòng cảm tạ (biết ơn và tỏ bày sự biết ơn)Đây là lý do vua Pasenadi nêu ra cho cử chỉ đảnh lễ của mình.
paramanipaccakāracử chỉ hạ mình tột bực (bản Minh Châu: 'cử chỉ hạ liệt quá mức')
mettūpahārasự tỏ bày lòng từ ái / lòng kính mộ
ariya ñāyaThánh chánh lý
kalyāṇadhammatā / kusaladhammatāchánh chơn pháp tánh / thiện pháp tánh
santuṭṭhabiết đủ, tri túc
āhuneyyo pāhuneyyo dakkhiṇeyyo añjalikaraṇīyođáng được cung kính, tôn trọng, cúng dường, chắp tay
anuttaraṁ puññakkhettaṁ lokassaphước điền vô thượng ở đời
abhisallekhikā kathācâu chuyện thuộc hướng thượng (đoạn giảm, tiết chế)
cattāri jhānānibốn Thiền, thuộc tăng thượng tâm, hiện tại lạc trú
pubbenivāsānussatitùy niệm các đời sống quá khứ
dibbacakkhuthiên nhãn thanh tịnh siêu nhân
āsavānaṁ khayađoạn tận các lậu hoặc
cetovimutti / paññāvimuttitâm giải thoát / tuệ giải thoát

Xin thưa, bài kinh này mở đầu bằng một chi tiết rất nhỏ mà con thấy đáng dừng lại.

Vua Pasenadi vừa THẮNG một trận chiến trở về.việc đầu tiên vua làm không phải là ăn mừngvua đi thẳng đến khu vườn.

Xe chỉ đi được tới đâu thì vua xuống xe, ĐI BỘ vào vườn. Kinh không bình luận gì về chi tiết ấy — nhưng chi tiết ấy tự nói.

Rồi chỗ này thì gần như là một bài học nhỏ về LỄ: vua hỏi các Tỷ-kheo Thế Tôn ở đâu, và các vị chỉ ngôi tịnh xá CỬA ĐÓNG, kèm lời dặn rất cụ thể.

“Đừng có tiếng động, đừng có hấp tấp, bước vào mái hiên, ĐẰNG HẮNG, rồi GÕ NƠI THEN CỬA.”Một ông vua, và người ta dặn ông cách gõ cửa.

Thế Tôn mở cửa. Vào tịnh xá, vua cúi đầu rạp xuống chân Thế Tôn, miệng hôn chân, lấy tay xoa bóp, và xưng tên mình HAI LẦN: “con là vua Pasenadi nước Kosalà.”

chính Thế Tôn là người HỎI: “do Ðại vương thấy ý nghĩa lợi ích gì mà Ðại vương lại làm những cử chỉ hạ liệt quá mức như vậy?”

Xin thưa chữ ấy trong Pāli là paramanipaccakāracử chỉ hạ mình tột bực. Bản của Hoà thượng in là “cử chỉ hạ liệt quá mức”, và chúng con giữ nguyên lời Hoà thượng.

Vua trả lời bằng HAI chữ, và hai chữ ấy là cái lõi của bài kinh: “để nêu rõ lòng BIẾT ƠN của con, để nói lên lòng CẢM TẠ của con.”kataññutākatavedita.

Rồi vua nêu MƯỜI lý do, và xin để ý: KHÔNG lý do nào nói về phép lạ, cũng KHÔNG lý do nào nói về tướng tốt.

Thế Tôn thực hiện hạnh phúc và an lạc cho ĐA SỐ, an lập Thánh chánh lý cho nhiều người; Thế Tôn CÓ GIỚI, có Thánh giới, đầy đủ thiện giới.

Thế Tôn LÂU NGÀY sống ở rừng núi hẻo lánh; BIẾT ĐỦ với bất cứ y áo, đồ khất thực, sàng tọa, dược phẩm nào.

Thế Tôn là PHƯỚC ĐIỀN VÔ THƯỢNG ở đời; và Thế Tôn “có được KHÔNG KHÓ KHĂN” những câu chuyện hướng thượng khai mở tâm tríít dục, biết đủ, viễn ly, không tụ hội, tinh cần, giới, định, tuệ, giải thoát, giải thoát tri kiến.

Rồi bốn lý do cuối đi vào chỗ chứng: chứng bốn Thiền không khó khăn; nhớ nhiều đời quá khứ; thiên nhãn thanh tịnh siêu nhân; và ĐOẠN TẬN CÁC LẬU HOẶC, an trú vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát.

Xin thưa một chỗ con thấy rất đẹp ở đoạn kết. Vua xin cáo từ vì “nhiều công việc” — và Thế Tôn KHÔNG giữ lại, KHÔNG dạy thêm một lời nào.

Ngài chỉ đáp: “hãy làm những gì Ðại vương nghĩ là hợp thời.” Vua đảnh lễ, thân hữu hướng về Ngài, rồi ra đi.

Xin thưa lời cuối cho anh chị em Huynh Trưởng. Con nghĩ bài này là một bài rất dễ dạy về LÒNG BIẾT ƠN — vì nó không giảng lý thuyết, nó chỉ CHO XEM một người biết ơn thì làm gì.

Xuống xe đi bộ. Gõ cửa nhẹ. Cúi xuống. Và NÓI RA vì sao mình cúi xuống.Chữ katavedita chính là chỗ ấy: biết ơn thì phải TỎ BÀY ra.

Và xin để ý mười lý do vua nêu ĐỀU là ĐỨC HẠNH, chứ không phải hình tướng. Kính Phật là kính vì cái ấy.

Xin thưa về trang. Ba ô Pāli bị người tra cứu chép lại không khớp từng chữ với tệp nguồn, chúng con đã dựng lại thẳng từ nguồn; một ô tiếng Việt bị THÊM dấu gạch đầu dòng mà bản Minh Châu không có, đã chép lại đúng nguyên văn. Không có chỗ nào sai về nội dung.

một chỗ xin thưa để bạn đọc khỏi tưởng trang gõ sai: ô trích đoạn 2.2–2.4 có chữ “nước Kosalàđi đi vào tịnh xá”đó là lỗi SẮP CHỮ của bản điện tử (dính chữ “đi”), chúng con GIỮ NGUYÊN theo bản, không tự sửa lời Hoà thượng.

  • “Vua thắng trận nên đến khoe.” Vua nói rõ lý do là LÒNG BIẾT ƠN, và mười lý do nêu ra đều là đức hạnh của Thế Tôn, không một chữ nào về trận đánh.
  • “Thế Tôn khen vua vì lạy mình.” Thế Tôn KHÔNG khenNgài HỎI vì thấy lợi ích gì.
  • “Cử chỉ hạ liệt” là chê. Chữ Pāli paramanipaccakāra nghĩa là cử chỉ hạ mình TỘT BỰC. Bản in của Hoà thượng dùng chữ “hạ liệt quá mức”, chúng tôi giữ nguyên.
  • “Kính Phật là kính hình tướng.” Không lý do nào trong mười lý do nói về tướng tốttoàn là giới, hạnh, viễn ly, biết đủ và chứng đắc.
  • Diễn lại đoạn gõ cửa cho các em: đừng có tiếng động, đừng hấp tấp, đằng hắng, rồi gõ. Đó là LỄ, dạy bằng động tác.
  • Hỏi các em: mình biết ơn ai? Rồi đòi thêm một bước: NÓI RA cho người ấy ngheđó là katavedita.
  • Chi tiết “xuống xe đi bộ” — hỏi các em ở chùa có chỗ nào mình nên “xuống xe” không?
  • Lấy mười lý do của vua làm mẫu: viết mười điều mình quý ở một người, không được nói về vẻ ngoài.
  • Vì sao Thế Tôn HỎI thay vì nhận lời đảnh lễ?
  • Biết ơn trong lòng đã đủ chưa, hay phải tỏ bày ra? Bài kinh nghiêng về bên nào?
  • Trong mười lý do, lý do nào làm mình cảm nhất — và vì sao?
  • Vì sao đoạn kết Thế Tôn KHÔNG dạy thêm lời nào?

Nguyên văn Pāli chép từ ấn bản Mahāsaṅgīti — tệp dữ liệu gốc bilara-data của suttacentral.net, từng đoạn có đánh số. Bản tiếng Việt của Hoà thượng Thích Minh Châu; bản tiếng Anh của Tỳ-kheo Sujato. Bài này đã qua một lượt soi lại độc lập. Lượt soi ấy chỉ ra 1 chỗ cần xem lại; chỗ nào là lỗi thật thì chúng tôi đã sửa và ghi rõ ở Phần IV. Muốn đọc trọn bài kinh, xin xem nguyên văn ba thứ tiếng. Thấy chỗ nào khác ấn bản in, xin báo cho chúng tôi.