G.Đ.P.T Huyền Quang Phật Pháp · Tam Tạng Kinh Điển Tăng Chi Bộ · AN 10.17
Mười Pháp Làm Chỗ Nương Tựa

Kinh Vị Hộ Trì (1)

Paṭhama-nātha Sutta — AN 10.17 · Pāli · Việt · Anh

Tam TạngTạng KinhTrung BộKinh Vị Hộ Trì (1)

“Hãy TRÚ VỚI VỊ HỘ TRÌ, chớ trú KHÔNG CÓ vị hộ trì. Đau khổ là người sống không có vị hộ trì.” Rồi Thế Tôn nêu MƯỜI pháp TÁC THÀNH vị hộ trì — nghĩa là chỗ nương tựa ấy KHÔNG ở ngoài, mà là MƯỜI PHÁP nơi chính mình.

  • Bộ — Tăng Chi Bộ, Chương Mười Pháp, kinh 17
  • Phẩm — Hộ Trì (Nāthavagga)
  • Nơi chốn — kinh không ghi; Thế Tôn dạy thẳng
  • Đọc kèmAN 10.18 (Vị Hộ Trì 2, khai triển rộng cùng mười pháp)

Kinh Vị Hộ Trì thứ nhất (Paṭhamanāthasutta) là một bài kinh ngắn nhưng rất thiết thực cho đời sống tu học. Mở đầu, Thế Tôn dạy: "Này các Tỷ-kheo, hãy trú với vị hộ trì, chớ trú không có vị hộ trì. Này các Tỷ-kheo, đau khổ là người sống không có vị hộ trì." Ngài nêu rõ mười pháp tác thành vị hộ trì (nāthakaraṇā dhammā) - nghĩa là chính mười đức tính này che chở, nương đỡ cho người tu, chứ không phải một ai bên ngoài. Mười pháp ấy là: (1) có giới, sống chế ngự với giới bổn Pātimokkha, đầy đủ oai nghi chánh hạnh, thấy nguy hiểm trong những lỗi nhỏ nhặt; (2) nghe nhiều, thọ trì và chất chứa những gì đã nghe, tụng đọc bằng lời, quán sát với ý, thể nhập với chánh kiến; (3) làm bạn với thiện, thân hữu với thiện, giao thiệp với thiện; (4) dễ nói, kham nhẫn và khéo chấp nhận những lời giáo giới; (5) khéo léo và tinh cần trong mọi công việc lớn nhỏ của các vị đồng Phạm hạnh, vừa đủ để làm, vừa đủ để tổ chức; (6) ưa pháp, cùng nói chuyện một cách dễ thương, hân hoan trong thắng Pháp thắng Luật; (7) sống tinh cần tinh tấn, đoạn trừ các pháp bất thiện, không bỏ rơi gánh nặng đối với các thiện pháp; (8) biết đủ đối với y, đồ ăn khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh; (9) chánh niệm, nhớ được việc đã làm đã nói từ lâu; (10) có trí tuệ về sanh diệt, trí tuệ bậc Thánh hướng đến chơn chánh đoạn tận khổ đau. Cuối kinh, Thế Tôn nhắc lại lời dạy mở đầu và xác nhận đó là mười pháp tác thành vị hộ trì. Đối với Huynh trưởng và đoàn sinh Gia Đình Phật Tử, mười pháp này gần như một bảng tự kiểm: giữ giới, học hỏi, chọn bạn lành, dễ nghe lời nhắc nhở, siêng năng gánh việc chung, mến Pháp, tinh tấn, biết đủ, chánh niệm và mở trí tuệ. Ai có đủ mười điều ấy thì tự mình đã có chỗ nương tựa vững chắc.

Bố cục bài kinhTheo đúng thứ tự trong kinh văn

  • Lời mở: hãy sống có vị hộ trì — Phật dạy các Tỷ-kheo hãy trú với vị hộ trì, chớ trú không có vị hộ trì; sống không có vị hộ trì là đau khổ. Rồi nêu có mười pháp tác thành vị hộ trì (nāthakaraṇā dhammā).
  • Pháp thứ nhất: có giới — Tỷ-kheo có giới, sống chế ngự với giới bổn Pātimokkha, đầy đủ oai nghi chánh hạnh, thấy nguy hiểm trong những lỗi nhỏ nhặt, chấp nhận và tu học trong các học pháp.
  • Pháp thứ hai: nghe nhiều (đa văn) — Tỷ-kheo nghe nhiều, thọ trì và chất chứa những gì đã nghe; các pháp sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, có nghĩa có văn, đề cao Phạm hạnh viên mãn thanh tịnh, vị ấy đã tụng đọc bằng lời, quán sát với ý, thể nhập với chánh kiến.
  • Pháp thứ ba: làm bạn với thiện — Tỷ-kheo làm bạn với thiện, thân hữu với thiện, giao thiệp với thiện (kalyāṇamitta).
  • Pháp thứ tư: dễ nói, dễ được khuyên dạy — Tỷ-kheo dễ nói, thành tựu những pháp tác thành người dễ nói, kham nhẫn và khéo chấp nhận những lời giáo giới.
  • Pháp thứ năm: khéo léo, siêng năng trong công việc chung — Đối với các công việc lớn nhỏ của các vị đồng Phạm hạnh, vị ấy khéo léo và tinh cần, thành tựu sự quán sát các phương tiện, vừa đủ để làm, vừa đủ để tổ chức.
  • Pháp thứ sáu: ưa pháp — Tỷ-kheo ưa pháp, cùng nói chuyện một cách dễ thương, hân hoan trong thắng Pháp, trong thắng Luật.
  • Pháp thứ bảy: tinh cần tinh tấn — Sống tinh cần tinh tấn, đoạn trừ các pháp bất thiện, làm cho đầy đủ các thiện pháp, nỗ lực kiên trì, không bỏ rơi gánh nặng đối với các thiện pháp.
  • Pháp thứ tám: biết đủ — Biết đủ đối với các vật dụng như y, đồ ăn khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh.
  • Pháp thứ chín: chánh niệm — Tỷ-kheo chánh niệm, thành tựu niệm tuệ tối thắng, ức niệm và tùy niệm việc đã làm từ lâu, đã nói từ lâu.
  • Pháp thứ mười: có trí tuệ — Tỷ-kheo có trí tuệ, thành tựu trí tuệ về sanh diệt, trí tuệ thuộc bậc Thánh, thể nhập và hướng đến chơn chánh đoạn tận khổ đau.
  • Kết: nhắc lại lời dạy — Phật nhắc lại: hãy trú với vị hộ trì, chớ trú không có vị hộ trì; đau khổ là người trú không có vị hộ trì. Đây là mười pháp tác thành vị hộ trì.

Mỗi đoạn ghi nguyên văn Pāli, rồi bản Việt, rồi bản tiếng Anh. Số bên trái là số đoạn trong kinh, để đối chiếu được.

TTC 1 (an10.17:1.1-1.4)
Sanāthā, bhikkhave, viharatha, mā anāthā. Dukkhaṁ, bhikkhave, anātho viharati. Dasayime, bhikkhave, nāthakaraṇā dhammā. Katame dasa?
Này các Tỷ-kheo, hãy trú với vị hộ trì, chớ trú không có vị hộ trì. Này các Tỷ-kheo, đau khổ là người sống không có vị hộ trì. Này các Tỷ-kheo, mười pháp này tạo thành vị hộ trì. Thế nào là mười?
“Mendicants, you should live with a protector, not without one. Living without a protector is suffering. There are ten qualities that serve as protector. What ten?
TTC 2 (an10.17:1.5, 1.7)
Idha, bhikkhave, bhikkhu sīlavā hoti, pātimokkhasaṁvarasaṁvuto viharati ācāragocarasampanno aṇumattesu vajjesu bhayadassāvī, samādāya sikkhati sikkhāpadesu. … ayampi dhammo nāthakaraṇo.
Này các Tỷ-kheo, ở đây Tỷ-kheo có giới, sống chế ngự với sự chế ngự của giới bổn Pàtimokkha, đầy đủ oai nghi, chánh hạnh, thấy nguy hiểm trong những lỗi nhỏ nhặt, chấp nhận và tu học trong các học pháp… đây là pháp tác thành vị hộ trì.
Firstly, a mendicant is ethical, restrained in the monastic code, conducting themselves well and resorting for alms in suitable places. Seeing danger in the slightest fault, they keep the rules they’ve undertaken. … This is a quality that serves as protector.
TTC 3 (an10.17:2.1, 2.3)
Puna caparaṁ, bhikkhave, bhikkhu bahussuto hoti sutadharo sutasannicayo, ye te dhammā ādikalyāṇā majjhekalyāṇā pariyosānakalyāṇā sātthaṁ sabyañjanaṁ kevalaparipuṇṇaṁ parisuddhaṁ brahmacariyaṁ abhivadanti, tathārūpāssa dhammā bahussutā honti dhātā vacasā paricitā manasānupekkhitā diṭṭhiyā suppaṭividdhā. … ayampi dhammo nāthakaraṇo.
Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo nghe nhiều, thọ trì những gì đã nghe, chất chứa những gì đã nghe. Những pháp nào sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, có nghĩa, có văn, đề cao đời sống Phạm hạnh hoàn toàn viên mãn thanh tịnh, những pháp ấy, vị ấy đã nghe nhiều, đã thọ trì, đã tụng đọc bằng lời, đã quán sát với ý, đã thể nhập với chánh kiến; đây là pháp tác thành vị hộ trì.
Furthermore, a mendicant is very learned, remembering and keeping what they’ve learned. These teachings are good in the beginning, good in the middle, and good in the end, meaningful and well-phrased, describing a spiritual practice that’s entirely full and pure. They are very learned in such teachings, remembering them, rehearsing them, mentally scrutinizing them, and penetrating them theoretically. … This too is a quality that serves as protector.
TTC 4 (an10.17:3.1-3.3)
Puna caparaṁ, bhikkhave, bhikkhu kalyāṇamitto hoti kalyāṇasahāyo kalyāṇasampavaṅko. Yampi, bhikkhave, bhikkhu kalyāṇamitto hoti kalyāṇasahāyo kalyāṇasampavaṅko, ayampi dhammo nāthakaraṇo.
Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo làm bạn với thiện, thân hữu với thiện, giao thiệp với thiện. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo nào làm nào bạn với thiện, thân hữu với thiện, giao thiệp với thiện; đây là pháp tác thành vị hộ trì.
Furthermore, a mendicant has good friends, companions, and associates. … This too is a quality that serves as protector.
TTC 5 (an10.17:4.1, 4.3)
Puna caparaṁ, bhikkhave, bhikkhu suvaco hoti sovacassakaraṇehi dhammehi samannāgato, khamo padakkhiṇaggāhī anusāsaniṁ. … ayampi dhammo nāthakaraṇo.
Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo dễ nói, thành tựu những pháp tác thành người dễ nói, kham nhẫn và khéo chấp nhận những lời giáo giới… đây là pháp tác thành vị hộ trì.
Furthermore, a mendicant is easy to admonish, having qualities that make them easy to admonish. They’re patient, and take instruction respectfully. … This too is a quality that serves as protector.
TTC 6 (an10.17:5.1, 5.3)
Puna caparaṁ, bhikkhave, bhikkhu yāni tāni sabrahmacārīnaṁ uccāvacāni kiṅkaraṇīyāni, tattha dakkho hoti analaso tatrūpāyāya vīmaṁsāya samannāgato, alaṁ kātuṁ alaṁ saṁvidhātuṁ. … ayampi dhammo nāthakaraṇo.
Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo có những công việc gì cần phải làm, hoặc lớn, hoặc nhỏ, đối với các vị đồng Phạm Hạnh; ở đây, vị ấy khéo léo và tinh cần, thành tựu sự quán sát các phương tiện, vừa đủ để làm, vừa đủ để tổ chức… đây là pháp tác thành vị hộ trì.
Furthermore, a mendicant is deft and tireless in a diverse spectrum of duties for their spiritual companions, understanding how to go about things in order to complete and organize the work. … This too is a quality that serves as protector.
TTC 11 (an10.17:10.1, 10.3)
Puna caparaṁ, bhikkhave, bhikkhu paññavā hoti udayatthagāminiyā paññāya samannāgato ariyāya nibbedhikāya sammā dukkhakkhayagāminiyā. … ayampi dhammo nāthakaraṇo.
Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo có trí tuệ, thành tựu với trí tuệ về sanh diệt, trí tuệ thuộc bậc Thánh, thể nhập và hướng đến chơn chánh đoạn tận khổ đau… đây là pháp tác thành vị hộ trì.
Furthermore, a mendicant is wise. They have the wisdom of arising and passing away which is noble, penetrative, and leads to the complete ending of suffering. … This too is a quality that serves as protector.
Đoạn kết (an10.17:11.1-11.3)
Sanāthā, bhikkhave, viharatha, mā anāthā. Dukkhaṁ, bhikkhave, anātho viharati. Ime kho, bhikkhave, dasa nāthakaraṇā dhammā”ti.
Này các Tỷ-kheo, hãy trú với vị hộ trì, chớ trú không có vị hộ trì. Này các Tỷ-kheo, đau khổ là người trú không có vị hộ trì. Này các Tỷ-kheo, đây là mười pháp tác thành vị hộ trì.
You should live with a protector, not without one. Living without a protector is suffering. These are the ten qualities that serve as protector.”
Chữ PāliNghĩaGhi chú
nāthavị hộ trì, chỗ nương tựa, người che chởsanātha = có vị hộ trì; anātha = không có vị hộ trì
nāthakaraṇā dhammācác pháp tác thành vị hộ trìBản Sujato: qualities that serve as protector
sīlavācó giới, giữ giới
pātimokkhasaṁvarasự chế ngự của giới bổn Pātimokkha
bahussutanghe nhiều, đa văn
kalyāṇamittabạn lành, làm bạn với thiệnkèm kalyāṇasahāya (thân hữu với thiện), kalyāṇasampavaṅka (giao thiệp với thiện)
suvacadễ nói, dễ được khuyên dạy
anusāsanīlời giáo giới, lời chỉ dạy
dhammakāmaưa pháp, mến pháp
abhidhamma, abhivinayathắng Pháp, thắng Luật
āraddhavīriyatinh cần tinh tấn, đã khởi lên nghị lực
santuṭṭhabiết đủ, tri túc
satimā / satinepakkachánh niệm / niệm tuệ tối thắng
paññavācó trí tuệ
udayatthagāminī paññātrí tuệ về sanh diệt
nibbedhikāthể nhập, thấu suốt
dukkhakkhayađoạn tận khổ đau

Xin thưa câu mở đầu bài kinh này rất ngắn mà con thấy thấm lạ thường:

“Này các Tỷ-kheo, HÃY TRÚ VỚI VỊ HỘ TRÌ, CHỚ TRÚ KHÔNG CÓ VỊ HỘ TRÌ. ĐAU KHỔ LÀ NGƯỜI SỐNG KHÔNG CÓ VỊ HỘ TRÌ.

Nghe câu ấy, ta dễ tưởng Thế Tôn sắp bảo phải tìm một NGƯỜI nào đó che chở.

Nhưng câu tiếp theo mới bất ngờ: “MƯỜI PHÁP này TẠO THÀNH vị hộ trì” (nāthakaraṇā dhammā).

Nghĩa là: chỗ nương tựa ấy KHÔNG PHẢI một người ở ngoàilà MƯỜI PHÁP nơi CHÍNH MÌNH.

Xin thưa mười pháp ấy như sau, và xin bác để ý chúng đi từ NỀN lên tới NGỌN:

(1) CÓ GIỚI — sống chế ngự với giới bổn Pātimokkha, đầy đủ oai nghi chánh hạnh, thấy nguy hiểm trong những lỗi NHỎ NHẶT.

(2) NGHE NHIỀU (đa văn) — thọ trì, chất chứa điều đã nghe, “đã tụng đọc bằng LỜI, đã quán sát với Ý, đã THỂ NHẬP với chánh kiến”.

Xin thưa ba bước ấy rất đáng dạy: MIỆNG đọc → Ý xét → KIẾN thấu. Nghe rồi để đó thì chưa gọi là đa văn.

(3) LÀM BẠN VỚI THIỆN, thân hữu với thiện, giao thiệp với thiện (kalyāṇamitta).

(4) DỄ NÓI — “thành tựu những pháp tác thành người dễ nói, KHAM NHẪN và KHÉO CHẤP NHẬN những lời giáo giới”.

Xin thưa pháp thứ tư này con thấy rất đáng nhắc, vì nó khó hơn ta tưởng: “DỄ NÓI” nghĩa là NGƯỜI KHÁC GÓP Ý ĐƯỢC.

(5) KHÉO LÉO VÀ TINH CẦN TRONG CÔNG VIỆC CHUNG — “những công việc lớn nhỏ của các vị đồng Phạm hạnh”, vị ấy “thành tựu sự quán sát các phương tiện, VỪA ĐỦ ĐỂ LÀM, VỪA ĐỦ ĐỂ TỔ CHỨC”.

Xin thưa con thấy pháp này rất hợp với anh chị em Huynh Trưởng — việc chung của đoàn, lớn nhỏ đều nhận.

(6) ƯA PHÁP — “cùng nói chuyện một cách DỄ THƯƠNG, hân hoan trong thắng Pháp, trong thắng Luật”.

(7) TINH CẦN TINH TẤN — “nỗ lực kiên trì, KHÔNG BỎ RƠI GÁNH NẶNG đối với các thiện pháp”.

(8) BIẾT ĐỦ đối với y, đồ ăn khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh.

(9) CHÁNH NIỆM — “thành tựu niệm tuệ tối thắng, ức niệm và tùy niệm việc ĐÃ LÀM TỪ LÂU, ĐÃ NÓI TỪ LÂU”.

(10) CÓ TRÍ TUỆ — “thành tựu trí tuệ về SANH DIỆT, trí tuệ thuộc bậc Thánh, thể nhập và hướng đến chơn chánh đoạn tận khổ đau”.

Rồi Thế Tôn LẶP LẠI câu mở đầu để kết: “hãy trú với vị hộ trì, chớ trú không có vị hộ trì; ĐAU KHỔ là người trú không có vị hộ trì.”

Xin thưa lời cuối cho anh chị em, và con nghĩ bài này rất an ủi.

Mười pháp ấy KHÔNG có pháp nào là “tìm được người che chở”. Cả mười đều là việc mình LÀM ĐƯỢC: giữ giới, học pháp, chọn bạn lành, chịu nghe góp ý, siêng việc chung, ưa pháp, tinh tấn, biết đủ, chánh niệm, và trí tuệ.

Nghĩa là: người đủ mười pháp ấy thì ĐI ĐÂU CŨNG CÓ CHỖ NƯƠNG — vì chỗ nương ấy ĐI THEO MÌNH.

Và ngược lại, câu “ĐAU KHỔ là người sống không có vị hộ trì” cũng rất thật: người không có giới, không có bạn lành, không ai nói được — thì dù đông người quanh mình vẫn là TRƠ TRỌI.

Xin thưa một ghi nhận về trang. Bản dựng đầu nói rằng trong bản Pāli “các đoạn lặp lại được rút bằng …pe…” — nghe như hầu hết các đoạn. Chúng con đã TỰ TẢI LẠI tệp nguồn và ĐẾM TẬN NƠI: chỉ có BỐN đoạn dùng dấu lược (1.6, 2.2, 4.2, 5.2), còn các đoạn lặp khác đều chép ĐẦY ĐỦ. Đã sửa lại cho đúng.

  • “Vị hộ trì là một người che chở mình.” Kinh nói rõ: MƯỜI PHÁP TẠO THÀNH vị hộ trìchỗ nương tựa nằm nơi CHÍNH MÌNH, không phải người ngoài.
  • “Đa văn là nghe cho nhiều.” Kinh nêu ba bước: tụng đọc bằng LỜI, quán sát với Ý, thể nhập với CHÁNH KIẾN. Nghe rồi để đó thì chưa phải.
  • “Dễ nói là hiền lành, ai nói gì cũng vâng.” Kinh ghi “KHAM NHẪN và KHÉO CHẤP NHẬN những lời GIÁO GIỚI”là chịu để người khác góp ý sửa mình, không phải xuôi theo mọi chuyện.
  • “Mười pháp này chỉ dành cho người xuất gia.” Hình thức là của Tỷ-kheo, nhưng tám trong mười pháp — giới, học, bạn lành, dễ nói, siêng việc chung, ưa pháp, tinh tấn, chánh niệm — người cư sĩ dùng được ngay.
  • Ngành Oanh. Chỉ ba pháp cho dễ: giữ điều luật, chơi với bạn tốt, và chịu nghe khi được nhắc.
  • Ngành Thiếu. Học đủ mười, rồi mỗi em tự chấm mình có mấy pháp.
  • Ngành Thanh và Huynh Trưởng. Soi kỹ pháp thứ tư (DỄ NÓI) và pháp thứ năm (siêng việc chung) — hai pháp này làm nên hay hỏng một đơn vị.
  • “Vị hộ trì” trong kinh này là ai?
  • Đa văn gồm mấy bước?
  • “Dễ nói” nghĩa là gì?
  • Pháp thứ mười nói về điều gì?
  • Vì sao nói sống không có vị hộ trì là đau khổ?

Nguyên văn Pāli chép từ ấn bản Mahāsaṅgīti — tệp dữ liệu gốc bilara-data của suttacentral.net, từng đoạn có đánh số. Bản tiếng Việt của Hoà thượng Thích Minh Châu; bản tiếng Anh của Tỳ-kheo Sujato. Bài này đã qua một lượt soi lại độc lập. Lượt soi ấy chỉ ra 1 chỗ cần xem lại; chỗ nào là lỗi thật thì chúng tôi đã sửa và ghi rõ ở Phần IV. Muốn đọc trọn bài kinh, xin xem nguyên văn ba thứ tiếng. Thấy chỗ nào khác ấn bản in, xin báo cho chúng tôi.