G.Đ.P.T Huyền Quang Phật Pháp · Tam Tạng Kinh Điển Tăng Chi Bộ · AN 10.14
Năm Chỗ Chai Cứng · Năm Sợi Dây Trói

Kinh Tâm Hoang Vu

Cetokhila Sutta — AN 10.14 · Pāli · Việt · Anh

Tam TạngTạng KinhTrung BộKinh Tâm Hoang Vu

Còn NĂM TÂM HOANG VU chưa đoạn và NĂM TÂM TRIỀN PHƯỢC chưa cắt thì “đêm đến hay ngày đến, chờ đợi là TỔN GIẢM trong các thiện pháp, KHÔNG phải là tăng trưởng”. Dứt được thì ngược lại.

  • Bộ — Tăng Chi Bộ, Chương Mười Pháp, kinh 14
  • Phẩm — Hộ Trì (Nāthavagga)
  • Nơi chốn — kinh không ghi; Thế Tôn dạy thẳng
  • Đọc kèmMN 16 (Kinh Tâm Hoang Vu) và AN 6.31

Kinh Tâm Hoang Vu (Cetokhilasutta) là bài thứ tư trong Phẩm Hộ Trì, Chương Mười Pháp của Tăng Chi Bộ. Đức Phật nêu một nguyên tắc rất rõ ràng cho người tu: nếu năm "tâm hoang vu" chưa đoạn tận và năm "tâm triền phược" chưa cắt đứt, thì dù ngày qua hay đêm qua, điều chờ đợi chỉ là tổn giảm trong các thiện pháp, chứ không phải tăng trưởng. Ngược lại, nếu mười điều ấy đã dứt, thì chờ đợi là sự lớn mạnh, không phải tổn giảm. Năm tâm hoang vu là năm chỗ chai cứng, khô cằn trong tâm: nghi ngờ bậc Ðạo Sư, nghi ngờ Pháp, nghi ngờ Tăng, nghi ngờ các Học pháp, và phẫn nộ đối với các vị đồng Phạm hạnh — "không có hoan hỷ, tâm tư chống đối, cứng rắn". Năm tâm triền phược là năm dây trói: còn tham ái đối với các dục, đối với tự thân, đối với các sắc pháp; ăn cho đến thỏa thuê, bụng chứa đầy rồi thiên nặng về khoái lạc sàng tọa, ngủ nghỉ, thụy miên; và sống Phạm hạnh chỉ vì mong cầu được sanh lên Thiên giới. Điểm mấu chốt được lặp đi lặp lại sau mỗi mục: khi còn một trong mười điều ấy thì "tâm vị ấy không hướng về nhiệt tâm, chuyên chú, kiên trì, tinh tấn". Nghĩa là chúng không phải lỗi nhỏ về hình thức, mà là những chỗ làm cho sức tu bị rò rỉ, khiến người tu không còn dồn được tâm lực vào việc hành trì. Bản Pāli và bản Anh còn có hai ví dụ mặt trăng: người còn mười điều ấy giống mặt trăng nửa tháng tối, mỗi ngày mỗi hao mòn về dung sắc, hình tròn, ánh sáng và bề cao bề rộng của quỹ đạo (đoạn 7.1, kết phần tiêu cực); người đã dứt sạch thì như mặt trăng nửa tháng sáng, mỗi ngày mỗi tròn đầy thêm (đoạn 14.1, kết cả bài). Xin thưa rõ: bản Việt của Hoà thượng KHÔNG có hai ví dụ ấy — chúng con đã dò, chữ “mặt trăng” không xuất hiện lần nào trong toàn bài. Với Huynh Trưởng Gia Đình Phật Tử, bài kinh này rất thiết thực: nó chỉ ra rằng lòng tin đối với Phật – Pháp – Tăng – Giới và sự hòa hợp với bạn đồng tu chính là nền của mọi tiến bộ; còn ăn ngủ buông thả và tu vì mong cầu phước báo cõi trời là những sợi dây âm thầm trói giữ mình lại.

Bố cục bài kinhTheo đúng thứ tự trong kinh văn

  • Mở đầu: ai chưa đoạn tận thì tổn giảm — Đức Phật dạy: Tỷ-kheo hay Tỷ-kheo-ni nào năm tâm hoang vu chưa đoạn tận, năm tâm triền phược chưa cắt đứt, thì đêm đến hay ngày đến, chờ đợi là tổn giảm trong các thiện pháp, không phải là tăng trưởng.
  • Năm tâm hoang vu chưa được đoạn tận (cetokhila) — Nghi ngờ bậc Ðạo Sư; nghi ngờ Pháp; nghi ngờ Tăng; nghi ngờ các Học pháp; phẫn nộ đối với các vị đồng Phạm hạnh. Mỗi trường hợp, tâm vị ấy không hướng về nhiệt tâm, chuyên chú, kiên trì, tinh tấn.
  • Năm tâm triền phược chưa được cắt đứt (cetasovinibandha) — Chưa ly tham đối với các dục; đối với tự thân; đối với các sắc pháp; ăn cho đến thỏa thuê, bụng chứa đầy rồi thiên về khoái lạc sàng tọa, ngủ nghỉ, thụy miên; sống Phạm hạnh với mong cầu được sanh Thiên giới.
  • Hai ví dụ mặt trăng — chỉ có trong bản Pāli và bản Anh — Bản Pāli và bản Anh có hai ví dụ mặt trăng đặt ở hai chỗ khác nhau: mặt trăng HẠ TUẦN (đoạn 7.1) KẾT phần tiêu cực — ai chưa đoạn tận thì như trăng mờ dần; và mặt trăng THƯỢNG TUẦN (đoạn 14.1) KẾT CẢ BÀI, sau phần tích cực — ai đã đoạn tận thì như trăng sáng dần. Bản Việt của Hoà thượng KHÔNG có hai ví dụ này (chúng con đã dò: chữ “mặt trăng” không xuất hiện lần nào trong toàn bài).
  • Mặt ngược lại: đã đoạn tận, đã cắt đứt thì lớn mạnh — Toàn bộ mười điều được lặp lại theo chiều ngược: không nghi ngờ Ðạo Sư, Pháp, Tăng, Học pháp, không phẫn nộ với đồng Phạm hạnh; không tham ái các dục, tự thân, sắc pháp; không ăn cho thỏa thuê rồi ham ngủ nghỉ; không sống Phạm hạnh vì mong sanh Thiên giới. Khi ấy tâm hướng về nhiệt tâm, chuyên chú, kiên trì, tinh tấn, và chờ đợi là sự lớn mạnh trong các thiện pháp.

Mỗi đoạn ghi nguyên văn Pāli, rồi bản Việt, rồi bản tiếng Anh. Số bên trái là số đoạn trong kinh, để đối chiếu được.

AN 10.14, đoạn 1.1
“Yassa kassaci, bhikkhave, bhikkhussa vā bhikkhuniyā vā pañca cetokhilā appahīnā pañca cetasovinibandhā asamucchinnā, tassa yā ratti vā divaso vā āgacchati hāniyeva pāṭikaṅkhā kusalesu dhammesu no vuddhi.
Này các Tỷ-kheo, với Tỷ-kheo hay Tỷ-kheo-ni nào năm tâm hoang vu chưa đoạn tận, năm tâm triền phược chưa được cắt đứt, với vị ấy, đêm đến hay ngày đến, chờ đợi là tổn giảm trong các thiện pháp, không phải là tăng trưởng.
“Mendicants, a monk or nun who has not given up five kinds of hard-heartedness and has not severed five shackles of the heart can expect decline, not growth, in skillful qualities, whether by day or by night.
AN 10.14, đoạn 2.2–2.4
Idha, bhikkhave, bhikkhu satthari kaṅkhati vicikicchati nādhimuccati na sampasīdati. Yo so, bhikkhave, bhikkhu satthari kaṅkhati vicikicchati nādhimuccati na sampasīdati, tassa cittaṁ na namati ātappāya anuyogāya sātaccāya padhānāya. Yassa cittaṁ na namati ātappāya anuyogāya sātaccāya padhānāya, evamassāyaṁ paṭhamo cetokhilo appahīno hoti.
Này các Tỷ-kheo, ở đây Tỷ-kheo nào nghi ngờ bậc Ðạo Sư, do dự, không quyết đoán, không có tịnh tín, thời tâm vị ấy không hướng về nhiệt tâm, chuyên chú, kiên trì, tinh tấn. Nếu tâm của ai không hướng về nhiệt tâm, chuyên chú, kiên trì, tinh tấn, như vậy là tâm hoang vu thứ nhất chưa được đoạn tận.
Firstly, a mendicant has doubts about the Teacher. They’re uncertain, undecided, and lacking confidence. This being so, their mind doesn’t incline toward keenness, commitment, persistence, and striving. This is the first kind of hard-heartedness they haven’t given up.
AN 10.14, đoạn 3.4–3.6
sabrahmacārīsu kupito hoti anattamano āhatacitto khilajāto. Yo so, bhikkhave, bhikkhu sabrahmacārīsu kupito hoti anattamano āhatacitto khilajāto, tassa cittaṁ na namati ātappāya anuyogāya sātaccāya padhānāya. Yassa cittaṁ na namati ātappāya anuyogāya sātaccāya padhānāya, evamassāyaṁ pañcamo cetokhilo appahīno hoti.
Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo nào phẫn nộ đối với các vị đồng Phạm hạnh, không có hoan hỷ, tâm tư chống đối, cứng rắn, thời tâm của vị này không hướng về nhiệt tâm, chuyên chú, kiên trì, tinh tấn. Nếu tâm của ai không hướng về nhiệt tâm, chuyên chú, kiên trì, tinh tấn, như vậy là tâm hoang vu thứ năm chưa được đoạn tận.
A mendicant is angry and upset with their spiritual companions, resentful and closed off. This being so, their mind doesn’t incline toward keenness, commitment, persistence, and striving. This is the fifth kind of hard-heartedness they haven’t given up.
AN 10.14, đoạn 4.2
Idha, bhikkhave, bhikkhu kāmesu avītarāgo hoti avigatacchando avigatapemo avigatapipāso avigatapariḷāho avigatataṇho.
Này các Tỷ-kheo, ở đây Tỷ-kheo, đối với những dục, không phải không tham ái, không phải không luyến ái, không phải không khát ái, không phải không nhiệt não, thời tâm của vị ấy không hướng về nhiệt tâm, chuyên chú, kiên trì, tinh tấn.
Firstly, a mendicant isn’t free of greed, desire, fondness, thirst, passion, and craving for sensual pleasures.
AN 10.14, đoạn 5.3
yāvadatthaṁ udarāvadehakaṁ bhuñjitvā seyyasukhaṁ passasukhaṁ middhasukhaṁ anuyutto viharati …
Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo nào ăn cho đến thỏa thuê, cho đến bụng chứa đầy, sống thiên về khoái lạc sàng tọa, khoái lạc ngủ nghỉ, khoái lạc thụy miên, thời tâm của vị ấy không hướng về nhiệt tâm, chuyên chú, kiên trì, tinh tấn.
They eat as much as they like until their belly is full, then indulge in the pleasures of sleeping, lying down, and drowsing …
AN 10.14, đoạn 5.4
aññataraṁ devanikāyaṁ paṇidhāya brahmacariyaṁ carati: ‘imināhaṁ sīlena vā vatena vā tapena vā brahmacariyena vā devo vā bhavissāmi devaññataro vā’ti.
Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo nào sống Phạm hạnh với mong cầu được sanh Thiên giới, có ý nghĩ: “Ta với giới này, với hạnh này, với khổ hạnh này, hay với Phạm hạnh này sẽ được sanh làm chư Thiên này hay chư Thiên khác”, thời tâm của vị ấy không hướng về nhiệt tâm, chuyên chú, kiên trì, tinh tấn.
They lead the spiritual life wishing to be reborn in one of the orders of gods: ‘By this precept or observance or fervent austerity or spiritual practice, may I become one of the gods!’
AN 10.14, đoạn 8.1
Yassa kassaci, bhikkhave, bhikkhussa vā bhikkhuniyā vā pañca cetokhilā pahīnā pañca cetasovinibandhā susamucchinnā, tassa yā ratti vā divaso vā āgacchati vuddhiyeva pāṭikaṅkhā kusalesu dhammesu no parihāni.
Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo hay Tỷ-kheo-ni nào tâm hoang vu đã đoạn tân, năm tâm triền phược đã cắt đứt, với vị ấy, đêm đến hay ngày đến, chờ đợi là sự lớn mạnh trong các thiện pháp, không phải là tổn giảm.
A monk or nun who has given up five kinds of hard-heartedness and has severed five shackles of the heart can expect growth, not decline, in skillful qualities, whether by day or by night.
Chữ PāliNghĩaGhi chú
cetokhilatâm hoang vu — chỗ chai cứng, khô cằn trong tâmkhila nghĩa gốc là đất cằn, đất bỏ hoang; bản Anh dịch "hard-heartedness"
cetasovinibandhatâm triền phược — sự trói buộc của tâmbản Anh: "shackles of the heart"
vicikicchānghi ngờ, do dự
sattharbậc Ðạo Sư (Đức Phật)
sikkhāHọc pháp, sự học giới
sabrahmacārīcác vị đồng Phạm hạnh, bạn cùng tu
ātappa, anuyoga, sātacca, padhānanhiệt tâm, chuyên chú, kiên trì, tinh tấncụm từ lặp lại suốt bài kinh
vītarāgaly tham, đã lìa tham ái
kusalā dhammācác thiện pháp
kāḷapakkha / juṇhapakkhanửa tháng trăng tối (hạ tuần) / nửa tháng trăng sáng (thượng tuần)

Xin thưa hai chữ “HOANG VU” dịch rất khéo: Pāli cetokhilakhilachỗ đất chai cứng, khô cằn, cày không vào.

Còn “TRIỀN PHƯỢC” (cetasovinibandha) là SỢI DÂY TRÓI. Một bên là đất chai, một bên là dây buộchai kiểu cản trở khác nhau.

NĂM TÂM HOANG VU: nghi ngờ bậc ĐẠO SƯ; nghi ngờ PHÁP; nghi ngờ TĂNG; nghi ngờ các HỌC PHÁP; và PHẪN NỘ đối với các vị ĐỒNG PHẠM HẠNH“không có hoan hỷ, tâm tư chống đối, cứng rắn”.

Xin để ý điều thứ năm: bốn điều đầu là nghi, điều cuối lại là GIẬN BẠN ĐỒNG TU. Kinh xếp nó NGANG HÀNG với nghi ngờ Đức Phật.

NĂM TÂM TRIỀN PHƯỢC: còn tham ái đối với các DỤC; đối với TỰ THÂN; đối với các SẮC PHÁP; “ăn cho đến thỏa thuê, cho đến bụng chứa đầy, sống thiên về khoái lạc sàng tọa, khoái lạc ngủ nghỉ, khoái lạc thụy miên”; và sống Phạm hạnh VỚI MONG CẦU được sanh Thiên giới.

Xin thưa điều thứ năm của nhóm này rất đáng ngẫm: tu mà nhắm tới PHƯỚC BÁO cõi trời cũng bị kể là MỘT SỢI DÂY TRÓI.

sau MỖI mục, kinh lặp lại ĐÚNG MỘT CÂU — con nghĩ đây mới là chỗ cốt tủy: “thời tâm vị ấy KHÔNG HƯỚNG VỀ nhiệt tâm, chuyên chú, kiên trì, tinh tấn”.

Nghĩa là mười điều ấy KHÔNG phải lỗi nhỏ về hình thức — chúng là những chỗ làm SỨC TU BỊ RÒ RỈ, khiến người tu không còn dồn được tâm lực vào việc hành trì.

Xin thưa lời cuối cho anh chị em Huynh Trưởng. Bài này rất hợp để tự soi, và con nghĩ hai điều đáng soi nhất là hai điều “rất người”.

Một là GIẬN BẠN ĐỒNG TU: trong đoàn, giận một anh chị em khác nghe thì nhỏ — mà kinh xếp ngang với nghi ngờ Đức Phật, vì nó làm tâm mình chai đúng như đất khô.

Hai là ĂN NO RỒI NGỦ: nghe thì buồn cười, mà kinh kể thành một sợi dây trói hẳn hoi — anh chị em nhớ AN 6.17, các Tỷ-kheo trẻ ngủ tới sáng.

Xin thưa mấy ghi nhận về trang, không dám sửa thầm, và xin thưa trước rằng đây KHÔNG phải lỗi của Hoà thượng.

Bản Pāli và bản Anh có HAI VÍ DỤ MẶT TRĂNG: mặt trăng HẠ TUẦN (đoạn 7.1) kết phần tiêu cực — ai chưa đoạn tận thì như trăng mờ dần; và mặt trăng THƯỢNG TUẦN (đoạn 14.1) kết cả bài — ai đã đoạn tận thì như trăng sáng dần.

Chúng con đã TỰ TẢI LẠI bản Minh Châu và dò tận nơi: bản Việt KHÔNG CÓ hai ví dụ ấychữ “mặt trăng” không xuất hiện một lần nào trong toàn bài.

Do đó ba chỗ đã được sửa: (1) bản dựng đầu để một ô trích cho đoạn 7.1 với cột tiếng Việt TRỐNG — đã bỏ hẳn ô ấy; (2) một ô khác ghi biên số “8.1 và 14.1”cột Việt là đoạn 8.1 còn cột Pāli/Anh lại là đoạn 14.1 — ba cột không cùng một câu; đã ghi lại thành “8.1”thay cột Pāli/Anh bằng chính đoạn 8.1, chữ lấy thẳng từ tệp nguồn; (3) mục bố cục gộp hai ví dụ mặt trăng làm một và đặt sai chỗ — đã xếp lại và ghi rõ chúng chỉ có trong bản Pāli và bản Anh.

Thêm một chỗ nhỏ xin ghi nhận nguyên trạng: ở ô trích đoạn 8.1, bản in ghi “tâm hoang vu đã ĐOẠN TÂN”lỗi ấn bản của chữ đoạn tận. Chúng con GIỮ NGUYÊN chữ của bản in, chỉ chú thích ở đây, không tự ý sửa lời Hoà thượng.

  • “Tâm hoang vu nghĩa là tâm trống rỗng.” khilađất CHAI CỨNG, khô cằn, cày không vàokhông phải trống, mà là CỨNG.
  • “Giận bạn đồng tu là chuyện nhỏ.” Kinh xếp nó NGANG HÀNG với nghi ngờ Đức Phật, Pháp, Tăng và Học pháp.
  • “Tu để được sanh cõi trời là tốt.” Kinh kể đó là MỘT SỢI DÂY TRÓItâm triền phược thứ năm.
  • “Mười điều ấy chỉ là lỗi hình thức.” Câu lặp sau mỗi mục nói rõ hậu quả: “tâm vị ấy KHÔNG hướng về nhiệt tâm, chuyên chú, kiên trì, tinh tấn”.
  • “Bản Việt có ví dụ mặt trăng.” KHÔNG có — hai ví dụ ấy chỉ nằm trong bản Pāli và bản Anh.
  • Ngành Oanh. Chỉ giải hai chữ “đất chai”: lòng mình mà cứng lại thì gieo gì cũng không lên.
  • Ngành Thiếu. Học năm tâm hoang vu, và để ý điều thứ năm không phải là nghi.
  • Ngành Thanh và Huynh Trưởng. Dùng làm bảng tự soi. Soi kỹ hai điều rất người: giận bạn đồng tu, và ăn no rồi ngủ.
  • “Hoang vu” và “triền phược” khác nhau ra sao?
  • Năm tâm hoang vu là gì?
  • Điều thứ năm của nhóm đầu khác bốn điều kia ở chỗ nào?
  • Câu lặp sau mỗi mục nói gì?
  • Hai ví dụ mặt trăng nằm ở bản nào?

Nguyên văn Pāli chép từ ấn bản Mahāsaṅgīti — tệp dữ liệu gốc bilara-data của suttacentral.net, từng đoạn có đánh số. Bản tiếng Việt của Hoà thượng Thích Minh Châu; bản tiếng Anh của Tỳ-kheo Sujato. Bài này đã qua một lượt soi lại độc lập. Lượt soi ấy chỉ ra 2 chỗ cần xem lại; chỗ nào là lỗi thật thì chúng tôi đã sửa và ghi rõ ở Phần IV. Muốn đọc trọn bài kinh, xin xem nguyên văn ba thứ tiếng. Thấy chỗ nào khác ấn bản in, xin báo cho chúng tôi.