G.Đ.P.T Huyền Quang Phật Pháp · Tam Tạng Kinh Điển Tăng Chi Bộ · AN 10.2
Giữ Giới Cho Sạch · Còn Lại Tự Đến

Kinh Nghĩ Với Dụng Ý

Cetanākaraṇīya Sutta — AN 10.2 · Pāli · Việt · Anh

Tam TạngTạng KinhTrung BộKinh Nghĩ Với Dụng Ý

Một bài kinh rất ngắn mà vẽ trọn MƯỜI BƯỚC từ GIỚI đến GIẢI THOÁT TRI KIẾN. Điều lạ là: không bước nào phải cưỡng cầu. Mỗi bước, Thế Tôn đều nói “không cần phải làm với dụng ý rằng…” — vì “PHÁP NHĨ LÀ VẬY.”

  • Bộ — Tăng Chi Bộ, Chương Mười Pháp, Phẩm Lợi Ích (Ānisaṁsavagga), kinh 2
  • Nơi chốnkinh không ghi; Thế Tôn gọi thẳng “Này các Tỷ-kheo” rồi giảng
  • Nhan đềcetanākaraṇīya: “việc cần làm bằng DỤNG Ý” — và kinh dạy các bước này KHÔNG cần dụng ý
  • Đọc kèmAN 11.1 (cùng chuỗi) và AN 5.24

Đây là một bài kinh rất ngắn nhưng vẽ ra trọn con đường tu từ bước đầu đến bước cuối, và điều đặc biệt là: các bước ấy nối nhau một cách tự nhiên, không cần phải "gắng ép" bằng ý muốn. Thế Tôn dạy rằng người có giới, giới đầy đủ, thì không cần phải khởi lên dụng ý "mong rằng ta không hối tiếc" — vì pháp nhĩ (lẽ tự nhiên của các pháp) là như vậy: giữ giới trong sạch thì tự nhiên không hối tiếc. Rồi từ không hối tiếc sinh hân hoan; từ hân hoan sinh hoan hỷ (pīti); tâm hoan hỷ thì thân được khinh an; thân khinh an thì cảm thọ an lạc; có an lạc thì tâm được Thiền định; tâm định thì biết và thấy như thật; biết thấy như thật thì nhàm chán, ly tham; nhàm chán ly tham thì chứng ngộ giải thoát tri kiến. Mười mắt xích, không mắt nào phải cưỡng cầu. Phần sau, Thế Tôn nói ngược lại chuỗi ấy để chỉ rõ mục đích và lợi ích của từng bước: giới thiện có lợi ích là không hối tiếc, không hối tiếc có lợi ích là hân hoan… cho đến nhàm chán ly tham có lợi ích là giải thoát tri kiến. Kết lại bằng một hình ảnh đẹp: "các pháp khiến cho các pháp (khác) tăng thịnh; các pháp khiến các pháp khác viên mãn, đưa từ bờ bên này qua bờ bên kia." Với Huynh trưởng và đoàn sinh, bài kinh nhắc một điều rất thực tế: đừng sốt ruột đòi có định, có tuệ ngay. Hãy lo giữ giới cho trong sạch, sống không có gì phải hối tiếc — rồi hân hoan, an lạc, định và tuệ sẽ tuần tự đến như nước chảy xuôi dòng. Giới là chân bậc thang đầu tiên, cũng là chỗ nắm chắc nhất trong tay mình.

Bố cục bài kinhTheo đúng thứ tự trong kinh văn

  • 1. Chuỗi mười bước: không cần dụng ý (đoạn 1) — Từ giới đầy đủ → không hối tiếc → hân hoan → hoan hỷ (pīti) → thân khinh an → cảm thọ an lạc → tâm Thiền định → biết thấy như thật → nhàm chán, ly tham → chứng ngộ giải thoát tri kiến. Mỗi bước lặp cùng một khuôn: "không cần phải làm với dụng ý rằng..." và "Pháp nhĩ là vậy".
  • 2. Nói ngược chuỗi: ý nghĩa và lợi ích (đoạn 2) — Đi ngược từ nhàm chán ly tham xuống tới các thiện giới, chỉ rõ mỗi pháp có "ý nghĩa" và "lợi ích" là pháp kế tiếp.
  • 3. Kết: từ bờ này sang bờ kia (đoạn 2 cuối) — Các pháp khiến các pháp khác tăng thịnh và viên mãn, đưa từ bờ bên này qua bờ bên kia.

Mỗi đoạn ghi nguyên văn Pāli, rồi bản Việt, rồi bản tiếng Anh. Số bên trái là số đoạn trong kinh, để đối chiếu được.

AN 10.2, đoạn 1 (an10.2:1.1–1.3)
Sīlavato, bhikkhave, sīlasampannassa na cetanāya karaṇīyaṁ: 'avippaṭisāro me uppajjatū'ti. Dhammatā esā, bhikkhave, yaṁ sīlavato sīlasampannassa avippaṭisāro uppajjati.
Này các Tỷ-kheo, với người có giới, có giới đầy đủ, không cần phải làm với dụng ý rằng: "Mong rằng không hối tiếc sẽ sanh khởi nơi ta". Pháp nhĩ là vậy, này Tỷ-kheo, với người có giới, có giới đầy đủ, không hối tiếc sanh khởi.
"Mendicants, an ethical person, who has fulfilled ethical conduct, need not make a wish: 'May I have no regrets!' It's only natural that an ethical person has no regrets.
AN 10.2, đoạn 1 (an10.2:1.4–1.6)
Avippaṭisārissa, bhikkhave, na cetanāya karaṇīyaṁ: 'pāmojjaṁ me uppajjatū'ti. Dhammatā esā, bhikkhave, yaṁ avippaṭisārissa pāmojjaṁ jāyati.
Này các Tỷ-kheo, với người không hối tiếc, không cần phải làm với dụng ý rằng: "Mong rằng hân hoan sẽ sanh khởi nơi ta". Pháp nhĩ là vậy, này các Tỷ-kheo, với người có không hối tiếc, hân hoan sanh khởi.
When you have no regrets you need not make a wish: 'May I feel joy!' It's only natural that joy springs up when you have no regrets.
AN 10.2, đoạn 1 (an10.2:1.13–1.15)
Passaddhakāyassa, bhikkhave, na cetanāya karaṇīyaṁ: 'sukhaṁ vediyāmī'ti. Dhammatā esā, bhikkhave, yaṁ passaddhakāyo sukhaṁ vediyati.
Này các Tỷ-kheo, với người có thân khinh an, không cần phải làm với dụng ý rằng: "Mong rằng ta cảm thọ an lạc". Pháp nhĩ là vậy, này các Tỷ-kheo, với người có thân khinh an, an lạc được cảm thọ.
When your body is tranquil you need not make a wish: 'May I feel bliss!' It's only natural to feel bliss when your body is tranquil.
AN 10.2, đoạn 1 (an10.2:1.16–1.18)
Sukhino, bhikkhave, na cetanāya karaṇīyaṁ: 'cittaṁ me samādhiyatū'ti. Dhammatā esā, bhikkhave, yaṁ sukhino cittaṁ samādhiyati.
Này các Tỷ-kheo, với người có an lạc, không cần phải làm với dụng ý: "Mong rằng tâm ta được Thiền định". Pháp nhĩ là vậy, này các Tỷ-kheo, với người có an lạc, tâm được Thiền định.
When you feel bliss you need not make a wish: 'May my mind be immersed in samādhi!' It's only natural for the mind to be immersed in samādhi when you feel bliss.
AN 10.2, đoạn 1 (an10.2:1.19–1.21)
Samāhitassa, bhikkhave, na cetanāya karaṇīyaṁ: 'yathābhūtaṁ jānāmi passāmī'ti. Dhammatā esā, bhikkhave, yaṁ samāhito yathābhūtaṁ jānāti passati.
Này các Tỷ-kheo, với người có Thiền định, không cần phải làm với dụng ý: "Mong rằng ta biết, ta thấy như thật". Pháp nhĩ là vậy, này các Tỷ-kheo, người có tâm Thiền định, biết và thấy như thật.
When your mind is immersed in samādhi you need not make a wish: 'May I truly know and see!' It's only natural to truly know and see when your mind is immersed in samādhi.
AN 10.2, đoạn 1 (an10.2:1.22–1.24)
Yathābhūtaṁ, bhikkhave, jānato passato na cetanāya karaṇīyaṁ: 'nibbindāmi virajjāmī'ti. Dhammatā esā, bhikkhave, yaṁ yathābhūtaṁ jānaṁ passaṁ nibbindati virajjati.
Này các Tỷ-kheo, người biết và thấy như thật, không cần phải làm với dụng ý: "Mong rằng ta sẽ nhàm chán, ta sẽ ly tham" Pháp nhĩ là vậy, này các Tỷ-kheo, người biết và thấy như thật, nhàm chán và ly tham.
When you truly know and see you need not make a wish: 'May I become disillusioned and dispassionate!' It's only natural to become disillusioned and dispassionate when you truly know and see.
AN 10.2, đoạn 1 (an10.2:1.25–1.27)
Nibbinnassa, bhikkhave, virattassa na cetanāya karaṇīyaṁ: 'vimuttiñāṇadassanaṁ sacchikaromī'ti. Dhammatā esā, bhikkhave, yaṁ nibbinno viratto vimuttiñāṇadassanaṁ sacchikaroti.
Này các Tỷ-kheo, người nhàm chán, ly tham không cần phải làm với dụng ý: "Mong rằng ta sẽ chứng ngộ giải thoát tri kiến". Pháp nhĩ là vậy, này các Tỷ-kheo, người nhàm chán, ly tham, chứng ngộ giải thoát tri kiến.
When you're disillusioned and dispassionate you need not make a wish: 'May I realize the knowledge and vision of freedom!' It's only natural to realize the knowledge and vision of freedom when you're disillusioned and dispassionate.
AN 10.2, đoạn 2 (an10.2:2.10)
Iti kho, bhikkhave, dhammā dhamme abhisandenti, dhammā dhamme paripūrenti apārā pāraṁ gamanāyā"ti.
Như vậy, này các Tỷ-kheo, các pháp khiến cho các pháp (khác) tăng thịnh; các pháp khiến các pháp khác viên mãn, đưa từ bờ bên này qua bờ bên kia.
And so, mendicants, good qualities flow on and fill up from one to the other, for going from the near shore to the far shore.
Chữ PāliNghĩaGhi chú
cetanādụng ý, ý muốn cố tìnhNhan đề kinh: cetanākaraṇīya — "việc cần làm bằng dụng ý"; kinh dạy các bước này không cần dụng ý.
dhammatāpháp nhĩ, lẽ tự nhiên của các phápHT. Minh Châu dịch "Pháp nhĩ là vậy"; Sujato: "It's only natural".
sīla / sīlasampannagiới / giới đầy đủ
avippaṭisārakhông hối tiếc
pāmojjahân hoan
pītihoan hỷ, hỷ
passaddhi / passaddhakāyakhinh an / thân khinh an
sukhaan lạc
samādhiThiền định, định
yathābhūtañāṇadassananhư thật tri kiến — biết và thấy như thật
nibbidānhàm chán
virāgaly tham
vimuttiñāṇadassanagiải thoát tri kiến
ānisaṁsalợi íchTên phẩm: Ānisaṁsavagga — Phẩm Lợi Ích.
apārā pāraṁtừ bờ bên này qua bờ bên kia

Xin thưa bài kinh này ngắn nhất trong những bài chúng con đã dựng, mà con nghĩ nó gỡ được một cái vướng rất lớncái vướng SỐT RUỘT.

Kinh không có “Như vầy tôi nghe”, không ghi nơi chốn. Thế Tôn gọi thẳng “Này các Tỷ-kheo” rồi vào ngay.

Và Ngài lặp MỘT KHUÔN CÂU DUY NHẤT, mười lần: “với người có A, KHÔNG CẦN PHẢI LÀM VỚI DỤNG Ý rằng: mong rằng B sẽ sanh khởi nơi ta. PHÁP NHĨ LÀ VẬY — với người có A, B sanh khởi.”

Chuỗi ấy là: CÓ GIỚI → không hối tiếc → hân hoan → hoan hỷ → thân khinh an → cảm thọ an lạc → tâm được Thiền định → biết thấy như thật → nhàm chán, ly tham → chứng ngộ GIẢI THOÁT TRI KIẾN.

Xin thưa chữ “PHÁP NHĨ LÀ VẬY” (dhammatā) mới là ruột của bài kinh. Bản Anh dịch rất gọn: “It’s only natural” — LẼ TỰ NHIÊN NÓ THẾ.

Nghĩa là các bước này KHÔNG phải là mười việc phải làm. Chỉ có bước ĐẦU là việc phải làmchín bước sau là chuyện tự xảy ra.

bước đầu ấy là GIỚIthứ nằm gọn trong tay mình, không cần đợi duyên, không cần ai cho phép.

Xin để ý mắt xích thứ hai, vì nó nối rất khéo: giới → KHÔNG HỐI TIẾC (avippaṭisāra). Giữ giới không phải để được khengiữ giới để tối nằm xuống KHÔNG CÓ GÌ PHẢI ÂN HẬN.

từ chỗ không có gì ân hận thì cái vui mới mọc lên được. Người trong lòng có chuyện áy náy thì ngồi thiền cách gì cũng không yênbài kinh nói đúng chỗ ấy.

Phần sau, Thế Tôn nói NGƯỢC lại cả chuỗiđi từ ly tham xuống tới giới — để chỉ rõ mỗi pháp có “ý nghĩa” và “lợi ích” là pháp KẾ TIẾP.

kết bằng một câu rất đẹp: “các pháp khiến cho các pháp khác TĂNG THỊNH; các pháp khiến các pháp khác VIÊN MÃN, đưa TỪ BỜ BÊN NÀY QUA BỜ BÊN KIA.”

Xin thưa lời cuối cho anh chị em Huynh Trưởng. Con nghĩ bài này rất nên dạy cho những em ĐANG SỐT RUỘTem nào ngồi thiền mãi không thấy gì, rồi nản.

Vì kinh nói rõ: ĐỊNH KHÔNG PHẢI LÀ THỨ ÉP RA ĐƯỢC. Mong cho có định thì càng không có. Định là cái ĐẾN, sau an lạc; mà an lạc đến sau khinh an; mà khinh an đến sau hoan hỷ.

Nên việc của mình chỉ có một: lo cái gốc — GIỮ GIỚI CHO SẠCH, SỐNG KHÔNG CÓ GÌ PHẢI HỐI. Còn lại, kinh nói, PHÁP NHĨ LÀ VẬY.

Xin thưa một dòng ghi chú để bác và anh chị em đối chiếu khỏi thấy vênh. Bản dịch của Hoà thượng dùng chữ “hân hoan” cho pāmojja và chữ “hoan hỷ” cho pamudita / pīti. Hai chữ này trong tiếng Việt rất gần nghĩa nhau, nên khi đọc song song với bản Pāli xin để ý chúng là HAI chi phần khác nhau trong chuỗi, không phải một chữ dịch hai kiểu.

  • “Kinh dạy cứ giữ giới rồi ngồi chờ.” Giới là việc PHẢI LÀM, và làm cho đầy đủ. Cái không phải cưỡng cầuchín bước SAU nó.
  • “Không cần dụng ý nghĩa là không cần cố gắng.” Cetanā ở đây là cái ý MONG CHO CÓmong cho có định, mong cho có tuệ. Chính cái mong ấy mới là chỗ vướng.
  • “Giữ giới là để được khen.” Mắt xích ngay sau giới là KHÔNG HỐI TIẾCchuyện giữa mình với mình, không dính tới ai.
  • “Nhàm chán là chán đời.” Nibbidā đứng SAU “biết và thấy như thật” — đó là hết say mê vì đã thấy rõ, không phải chán nản.
  • “Bài kinh này chỉ cho người xuất gia.” Mắt xích đầu là GIỚIngười tại gia cũng có giới của mình, và chuỗi bắt đầu ngay từ đó.
  • “Hân hoan và hoan hỷ là một chữ.” Trong bản Việt hai chữ rất gần nghĩa, nhưng đó là HAI mắt xích khác nhau: pāmojja rồi mới tới pīti.
  • Ngành Oanh. Chỉ dạy hai mắt xích đầu: “không làm điều quấy thì tối nằm xuống không có gì phải lo — mà hết lo thì tự nhiên vui.”
  • Ngành Thiếu. Học thuộc chuỗi mười bước theo thứ tự, và chữ “Pháp nhĩ là vậy”.
  • Ngành Thanh và Huynh Trưởng. Dạy cho em nào đang sốt ruột vì ngồi thiền không thấy gì. Bàn: vì sao MONG CHO CÓ ĐỊNH lại là chỗ vướng?
  • Mắt xích đầu tiên của chuỗi là gì?
  • “Pháp nhĩ là vậy” nghĩa là gì?
  • Vì sao giới lại đưa đến không hối tiếc?
  • Trong mười bước, bước nào là việc mình phải làm?
  • Câu “từ bờ bên này qua bờ bên kia” ở cuối kinh nói điều gì?

Nguyên văn Pāli chép từ ấn bản Mahāsaṅgīti — tệp dữ liệu gốc bilara-data của suttacentral.net, từng đoạn có đánh số. Bản tiếng Việt của Hoà thượng Thích Minh Châu; bản tiếng Anh của Tỳ-kheo Sujato. Bài này đã qua một lượt soi lại độc lập. Lượt soi ấy chỉ ra 1 chỗ cần xem lại; chỗ nào là lỗi thật thì chúng tôi đã sửa và ghi rõ ở Phần IV. Muốn đọc trọn bài kinh, xin xem nguyên văn ba thứ tiếng. Thấy chỗ nào khác ấn bản in, xin báo cho chúng tôi.