G.Đ.P.T Huyền Quang Phật Pháp · Tam Tạng Kinh Điển Tăng Chi Bộ · AN 9.35
Con Bò Vụng Về · Chân Trước Chưa Vững Đã Giơ Chân Sau

Kinh Ví Dụ Con Bò Cái

Gāvī-upamā Sutta — AN 9.35 · Pāli · Việt · Anh

Tam TạngTạng KinhTrung BộKinh Ví Dụ Con Bò Cái

Con bò cái vụng về đi núi hiểm: chân trước CHƯA ĐẶT VỮNG nó đã GIƠ CHÂN SAU LÊN — nên chỗ mới không tới được, chỗ cũ cũng không về được. Người tu nôn nóng vượt bậc cũng vậy: “rơi vào cả hai phía, đọa vào cả hai phía”.

  • Bộ — Tăng Chi Bộ, Chương Chín Pháp, kinh 35
  • Phẩm — Đại Phẩm (Mahāvagga)
  • Nơi chốn — kinh không ghi; mở đầu ngay bằng “Ví như, này các Tỷ-kheo…”
  • Đọc kèmAN 5.27 (định là tâm tự lắng) và AN 6.55 (dây đàn)

Kinh Con Bò Cái (Gāvīupamāsutta) dùng hình ảnh rất mộc mạc để dạy cách tu thiền định cho đúng bậc, đúng lớp. Đức Phật ví dụ một con bò cái sống ở rừng núi nhưng "ngu si, không thông minh, không biết đồng ruộng, không thiện xảo đi đến các núi non hiểm trở". Nó muốn đi tới phương hướng chưa từng đi, ăn cỏ chưa từng ăn, uống nước chưa từng uống; nhưng chân trước chưa đặt vững nó đã giơ chân sau lên. Kết quả: nó không tới được chỗ mới, mà chỗ cũ cũng không trở về an toàn được. Cũng vậy, có Tỷ-kheo chứng được Thiền thứ nhất nhưng "không thực hành, không tu tập tướng ấy, không làm cho sung mãn, không trú một cách khéo trú", rồi vội muốn nhảy lên Thiền thứ hai. Vị ấy không lên được Thiền thứ hai, mà quay lại Thiền thứ nhất cũng không vào nổi. Đức Phật gọi đó là "Tỷ-kheo rơi vào cả hai phía, đọa vào cả hai phía". Ngược lại, con bò cái hiền trí, thông minh, biết đồng ruộng, thiện xảo: đặt chân trước cho thật vững rồi mới giơ chân sau, nên đi tới được chỗ mới và trở về chỗ cũ an toàn. Cũng vậy, vị Tỷ-kheo hiền trí chứng Thiền thứ nhất thì ở lại đó thực hành, tu tập, làm cho sung mãn, trú một cách khéo trú; vững rồi mới bước lên bậc kế. Cứ như thế vị ấy đi lên qua bốn Thiền, rồi Không vô biên xứ, Thức vô biên xứ, Vô sở hữu xứ, Phi tưởng phi phi tưởng xứ, cho đến Diệt thọ tưởng định — mỗi bậc đều "không lẫn lộn" (không xông vào, không hấp tấp) bậc kế tiếp. Phần cuối kinh dạy quả của lối tu vững chãi ấy: khi vị Tỷ-kheo nhập và xuất các Thiền chứng một cách thuần thục, tâm trở thành nhu nhuyến, kham nhậm; định được khéo tu tập, trở thành vô lượng; và tùy theo pháp gì cần chứng ngộ với thắng trí, vị ấy đều có khả năng chứng đạt — kể cả thần thông, thiên nhĩ, tha tâm, túc mạng, thiên nhãn, và cuối cùng là đoạn tận các lậu hoặc. Bài học cho Huynh trưởng và đoàn sinh: tu học phải chắc từng bậc, đừng nôn nóng vượt cấp; nền chưa vững mà vội bước lên thì mất cả hai.

Bố cục bài kinhTheo đúng thứ tự trong kinh văn

  • 1. Ví dụ con bò cái ngu si — Con bò cái rừng núi ngu si, không biết đồng ruộng: chân trước chưa đặt vững đã giơ chân sau, nên không tới được chỗ mới cũng không trở về chỗ cũ an toàn (an9.35:1.1–1.9).
  • 2. Tỷ-kheo ngu si rơi vào cả hai phía — Vị Tỷ-kheo chứng Thiền thứ nhất nhưng không tu tập cho sung mãn, vội muốn lên Thiền thứ hai; kết quả không chứng được Thiền thứ hai mà Thiền thứ nhất cũng mất — gọi là 'rơi vào cả hai phía, đọa vào cả hai phía' (an9.35:1.10–2.7).
  • 3. Ví dụ con bò cái hiền trí — Con bò cái hiền trí, thiện xảo: đặt vững chân trước rồi mới giơ chân sau, nên đi tới được chỗ mới và trở về an toàn (an9.35:3.1–3.9).
  • 4. Tỷ-kheo hiền trí tuần tự đi lên các Thiền chứng — Mỗi bậc chứng được, vị ấy 'thực hành, tu tập, làm cho sung mãn tướng ấy, trú một cách khéo trú' rồi mới lên bậc kế; đi qua bốn Thiền, Không vô biên xứ, Thức vô biên xứ, Vô sở hữu xứ, Phi tưởng phi phi tưởng xứ, đến Diệt thọ tưởng định (an9.35:3.10–11.3).
  • 5. Quả: tâm nhu nhuyến, kham nhậm và các thắng trí — Do nhập xuất thuần thục các Thiền chứng, tâm trở thành nhu nhuyến kham nhậm, định vô lượng khéo tu tập; vị ấy có khả năng chứng đạt thần thông, thiên nhĩ thông, tha tâm thông, túc mạng, thiên nhãn, và đoạn tận các lậu hoặc (an9.35:12.1–18.2).

Mỗi đoạn ghi nguyên văn Pāli, rồi bản Việt, rồi bản tiếng Anh. Số bên trái là số đoạn trong kinh, để đối chiếu được.

AN 9.35, đoạn 1 (an9.35:1.1)
“Seyyathāpi, bhikkhave, gāvī pabbateyyā bālā abyattā akhettaññū akusalā visame pabbate carituṁ.
Ví như, này các Tỷ-kheo, một con bò cái sống ở rừng núi, ngu si, không thông minh, không biết đồng ruộng, không thiện xảo đi đến các núi non hiểm trở.
“Mendicants, suppose there was a mountain cow who was foolish, incompetent, unskillful, and lacked common sense when roaming on rugged mountains.
AN 9.35, đoạn 1 (an9.35:1.4)
Sā purimaṁ pādaṁ na suppatiṭṭhitaṁ patiṭṭhāpetvā pacchimaṁ pādaṁ uddhareyya.
và con bò cái ấy đã giơ chân sau lên, trước khi nó khéo đặt một cách tốt đẹp bàn chân trước
She’d take a step with a fore-hoof; but before it was properly set down, she’d lift up a hind-hoof.
AN 9.35, đoạn 2 (an9.35:2.7)
Ayaṁ vuccati, bhikkhave, ‘bhikkhu ubhato bhaṭṭho ubhato parihīno, seyyathāpi sā gāvī pabbateyyā bālā abyattā akhettaññū akusalā visame pabbate carituṁ’.
Này các Tỷ-kheo, đây gọi là Tỷ-kheo rơi vào cả hai phía, đọa vào cả hai phía, ví như con bò cái ấy sống ở rừng núi, ngu si , không thông minh, không biết chỗ đồng ruộng, không thiện xảo đi đến các núi non hiểm trở.
This is called a mendicant who has slipped and fallen from both sides. They’re like the mountain cow who was foolish, incompetent, unskillful, and lacking in common sense when roaming on rugged mountains.
AN 9.35, đoạn 3 (an9.35:3.1)
Seyyathāpi, bhikkhave, gāvī pabbateyyā paṇḍitā byattā khettaññū kusalā visame pabbate carituṁ.
Ví như, này các Tỷ-kheo, một con bò cái sống ở rừng núi, hiền trí, thông minh, biết đồng ruộng, biết thiện xảo đi đến các núi non hiểm trở.
Suppose there was a mountain cow who was astute, competent, skillful, and used common sense when roaming on rugged mountains.
AN 9.35, đoạn 3 (an9.35:3.4–3.5)
Sā purimaṁ pādaṁ suppatiṭṭhitaṁ patiṭṭhāpetvā pacchimaṁ pādaṁ uddhareyya.
và con bò cái ấy, sau khi nó khéo đặt một cách tốt đẹp bàn chân trước rồi giơ chân sau lên, và nó có thể đi đến phương hướng trước kia chưa đi, ăn cỏ trước kia chưa được ăn, và uống nước trước kia chưa được uống.
She’d take a step with a fore-hoof; and after it was properly set down, she’d lift up a hind-hoof.
AN 9.35, đoạn 3 (an9.35:3.11)
So taṁ nimittaṁ āsevati bhāveti bahulīkaroti svādhiṭṭhitaṁ adhiṭṭhāti.
Vị ấy thực hành, tu tập làm cho sung mãn tướng ấy, trú một cách khéo trú.
They cultivate, develop, and make much of that basis, ensuring that it’s properly stabilized.
AN 9.35, đoạn 12 (an9.35:12.1–12.2)
Yato kho, bhikkhave, bhikkhu taṁ tadeva samāpattiṁ samāpajjatipi vuṭṭhātipi, tassa mudu cittaṁ hoti kammaññaṁ. Mudunā kammaññena cittena appamāṇo samādhi hoti subhāvito.
Này các Tỷ-kheo, khi nào Tỷ-kheo nhập vào và xuất ra khỏi Thiền chứng ấy, tâm vị ấy trở thành nhu nhuyến, kham nhậm. Với tâm nhu nhuyến kham nhậm, định được khéo tu tập, trở thành vô lượng.
When a mendicant enters and emerges from any one of these attainments, their mind becomes pliable and workable. With a pliable and workable mind, their immersion becomes limitless and well developed.
AN 9.35, đoạn 13 (an9.35:13.2)
tatra tatreva sakkhibhabbataṁ pāpuṇāti sati sati āyatane.
Tại đấy, tại đấy, vị ấy có khả năng chứng đạt được, dầu thuộc loại xứ nào.
They are capable of realizing it, since each and every one is within range.
Chữ PāliNghĩaGhi chú
gāvī pabbateyyācon bò cái sống ở rừng núiHình ảnh chủ đạo của kinh; tên kinh Gāvīupamā = ví dụ con bò cái.
bāla / paṇḍitangu si / hiền tríCặp đối lập chia kinh thành hai phần.
khettaññūbiết chỗ đồng ruộng (biết vùng đất của mình)Bản Anh dịch thoáng là 'used common sense'.
nimittatướng (đề mục, dấu hiệu của định)HT. Minh Châu dịch 'tướng ấy'.
āsevati bhāveti bahulīkarotithực hành, tu tập, làm cho sung mãnCông thức quen thuộc chỉ sự huân tập lặp đi lặp lại.
svādhiṭṭhitaṁ adhiṭṭhātitrú một cách khéo trú (an lập cho thật vững)
ubhato bhaṭṭho ubhato parihīnorơi vào cả hai phía, đọa vào cả hai phíaCâu then chốt cảnh tỉnh người tu vượt cấp.
anabhihiṁsamānokhông lẫn lộn (không xông vào, không hấp tấp) bậc thiền kế tiếpHT. Minh Châu dịch 'không lẫn lộn'; bản Sujato: 'without charging at'.
jhānaThiền (bốn bậc thiền sắc giới)
vitakka–vicāratầm và tứDiệt tầm tứ thì vào Thiền thứ hai.
ākāsānañcāyatanaKhông vô biên xứ
viññāṇañcāyatanaThức vô biên xứ
ākiñcaññāyatanaVô sở hữu xứ
nevasaññānāsaññāyatanaPhi tưởng phi phi tưởng xứ
saññāvedayitanirodhaDiệt thọ tưởng địnhBậc chứng cao nhất nêu trong kinh này.
mudu cittaṁ kammaññaṁtâm nhu nhuyến, kham nhậm
appamāṇo samādhiđịnh vô lượng
abhiññāthắng trí
sati sati āyatanedầu thuộc loại xứ nào (khi có đủ cơ sở)
āsavānaṁ khayādo đoạn tận các lậu hoặcĐích cuối cùng của kinh.

Xin thưa ví dụ của bài kinh này mộc mạc tới mức em nhỏ nào cũng hình dung được — mà lại dạy đúng một chỗ người lớn hay vấp nhất.

Một con bò cái sống ở rừng núi, kinh tả là “ngu si, không thông minh, KHÔNG BIẾT ĐỒNG RUỘNG, không thiện xảo đi đến các núi non hiểm trở”.

muốn đi tới phương hướng CHƯA TỪNG ĐI, ăn cỏ CHƯA TỪNG ĂN, uống nước CHƯA TỪNG UỐNG.

Xin để ý: cái MUỐN ấy KHÔNG có gì sai. Muốn tiến lên là điều tốt.

Chỗ hỏng nằm ở MỘT chi tiết duy nhất: “con bò cái ấy đã GIƠ CHÂN SAU LÊN, TRƯỚC KHI nó khéo đặt một cách tốt đẹp BÀN CHÂN TRƯỚC”.

Kết quả: chỗ mới KHÔNG tới được, mà chỗ cũ cũng KHÔNG trở về an toàn được.

Rồi Thế Tôn lật sang pháp: có vị Tỷ-kheo chứng được Thiền thứ nhất — nhưng “KHÔNG thực hành, KHÔNG tu tập tướng ấy, KHÔNG làm cho sung mãn, KHÔNG trú một cách khéo trú” — rồi vội muốn nhảy lên Thiền thứ hai.

Vị ấy KHÔNG lên được Thiền thứ hai, mà quay lại Thiền thứ nhất cũng KHÔNG vào nổi.

Thế Tôn gọi thẳng: “Tỷ-kheo RƠI VÀO CẢ HAI PHÍA, ĐỌA VÀO CẢ HAI PHÍA.”

Rồi con bò cái HIỀN TRÍ: “sau khi nó khéo đặt một cách tốt đẹp bàn chân trước RỒI giơ chân sau lên” — nên đi tới được chỗ mới VÀ trở về chỗ cũ an toàn.

Và vị Tỷ-kheo hiền trí thì ở lại bậc mình đang có“thực hành, tu tập làm cho sung mãn tướng ấy, TRÚ MỘT CÁCH KHÉO TRÚ”vững rồi mới bước lên bậc kế.

Cứ như thế vị ấy đi lên qua bốn Thiền, rồi Không vô biên xứ, Thức vô biên xứ, Vô sở hữu xứ, Phi tưởng phi phi tưởng xứ, cho đến Diệt thọ tưởng định — và kinh dùng một chữ rất hay: mỗi bậc đều KHÔNG “xông vào” bậc kế tiếp.

Phần cuối nói về QUẢ: khi vị ấy nhập và xuất các Thiền chứng một cách thuần thục, thì “tâm vị ấy trở thành NHU NHUYẾN, KHAM NHẬM”, và “định được khéo tu tập, trở thành VÔ LƯỢNG”.

Xin thưa hai chữ NHU NHUYẾNKHAM NHẬM rất đáng nhớ: tâm MỀM ra thì mới UỐN được; tâm KHAM NHẬM thì mới SAI KHIẾN được.

vì mềm mà mạnh“tùy theo pháp gì cần chứng ngộ với thắng trí, vị ấy đều có khả năng chứng đạt”.

Xin thưa lời cuối cho anh chị em Huynh Trưởng. Con nghĩ bài kinh này nên đọc cho các em ngành Thanhtuổi hay muốn nhảy thẳng vào chỗ cao.

Và cũng đúng cho chính việc dạy của mình: một em chưa thuộc năm giới mà đã bắt học Bát Chánh Đạo thì rất dễ thành con bò cái vụng về ấycái mới không nắm được, cái cũ cũng rơi.

Xin để ý điều an ủi: Thế Tôn KHÔNG chê cái MUỐN TIẾN. Cả hai con bò đều muốn đi tới chỗ chưa từng đi. Khác nhau chỉ ở CHÂN TRƯỚC đã vững hay chưa.

Xin thưa một ghi nhận về trang, không dám sửa thầm. Một ô trích lúc đầu ghi biên số là “an9.35:3.4”, nhưng cột tiếng Việt có thêm vế “và nó có thể đi đến phương hướng trước kia chưa đi…”, vốn thuộc đoạn 3.5. Có ý kiến đề nghị ghi là “3.4–3.6”; chúng con đã TỰ TẢI LẠI tệp nguồn và in ra đoạn 3.6 — đoạn ấy là “Yasmiṁ cassā padese ṭhitāya evamassa:”, KHÔNG nằm trong ô trích. Vậy biên số đúng là “3.4–3.5”. Chúng con cũng KHÔNG cắt bớt chữ nào của bản Việt cho “khớp một-một” với cột Pāli.

  • “Muốn tiến lên nhanh là tham.” CẢ HAI con bò đều muốn đi tới chỗ chưa từng đi. Khác nhau ở chân trước đã vững hay chưa.
  • “Rơi vào cả hai phía nghĩa là đọa lạc.” Nghĩa là KHÔNG lên được bậc mới mà bậc cũ cũng MẤT — nói về Thiền chứng, không nói về cõi tái sanh.
  • “Trú một cách khéo trú là ngồi cho lâu.” Kinh nói “thực hành, tu tập, LÀM CHO SUNG MÃN tướng ấy”là làm cho ĐẦY, cho VỮNG, không phải cho DÀI.
  • “Tâm nhu nhuyến là tâm yếu.” Kinh ghép ngay với KHAM NHẬM: mềm nên uốn được, kham nhậm nên sai khiến được — vì mềm mà mạnh.
  • “Bài kinh này chỉ dành cho người tu thiền sâu.” Nó nói đúng cách DẠY và HỌC theo bậcchưa thuộc bậc dưới mà ép lên bậc trên là hỏng cả hai.
  • Ngành Oanh. Diễn thử: cho các em bước trên một hàng gạch, nhấc chân sau khi chân trước chưa vững — rồi hỏi chuyện gì xảy ra?
  • Ngành Thiếu. Học hai con bò và câu “rơi vào cả hai phía”.
  • Ngành Thanh và Huynh Trưởng. Bàn: mình đang ép em nào học bậc trên khi bậc dưới chưa vững?“trú một cách khéo trú” trong việc học của mình là gì?
  • Con bò cái vụng về sai ở chỗ nào?
  • “Rơi vào cả hai phía” nghĩa là gì?
  • Vị Tỷ-kheo hiền trí làm gì trước khi lên bậc kế?
  • Quả của lối tu vững chãi là gì?
  • Vì sao nói “vì mềm mà mạnh”?

Nguyên văn Pāli chép từ ấn bản Mahāsaṅgīti — tệp dữ liệu gốc bilara-data của suttacentral.net, từng đoạn có đánh số. Bản tiếng Việt của Hoà thượng Thích Minh Châu; bản tiếng Anh của Tỳ-kheo Sujato. Bài này đã qua một lượt soi lại độc lập. Lượt soi ấy chỉ ra 1 chỗ cần xem lại; chỗ nào là lỗi thật thì chúng tôi đã sửa và ghi rõ ở Phần IV. Muốn đọc trọn bài kinh, xin xem nguyên văn ba thứ tiếng. Thấy chỗ nào khác ấn bản in, xin báo cho chúng tôi.