G.Đ.P.T Huyền Quang Phật Pháp · Tam Tạng Kinh Điển Tăng Chi Bộ · AN 9.34
Lạc Mà Không Cảm Thọ · Câu Hỏi Của Tôn Giả Udāyī

Kinh Niết Bàn Là Lạc

Nibbānasukha Sutta — AN 9.34 · Pāli · Việt · Anh

Tam TạngTạng KinhTrung BộKinh Niết Bàn Là Lạc

Tôn giả Sāriputta tuyên bố hai lần: “Lạc là Niết-bàn này.” Tôn giả Udāyī hỏi lại một câu rất thật: “sao đây là lạc, khi ở đây KHÔNG CÓ CÁI GÌ ĐƯỢC CẢM THỌ?”

  • Bộ — Tăng Chi Bộ, Chương Chín Pháp, kinh 34
  • Nơi chốnRājagaha, Veluvana (Trúc Lâm), chỗ nuôi các con sóc
  • Người nóiTôn giả Sāriputta, KHÔNG phải Đức Phật
  • Đọc kèmAN 9.35 (con bò cái) và AN 5.27 (định)

Ðây là bài kinh do chính Tôn giả Xá-lợi-phất (Sāriputta) giảng, không phải Ðức Phật trực tiếp nói, tại rừng Trúc Lâm thành Vương Xá. Tôn giả tuyên bố hai lần: "Này các Hiền giả, lạc là Niết-bàn này." Tôn giả Udāyī liền hỏi một câu rất đời thường mà cũng rất sâu: nếu ở đó không có cái gì được cảm thọ, thì lấy gì gọi là lạc? Câu trả lời của Tôn giả Xá-lợi-phất chính là điểm then chốt của bài kinh: "cái này ở đây là lạc, dầu rằng lạc ấy ở đây không được cảm thọ." Nghĩa là cái vui của Niết-bàn không cùng loại với cái vui do cảm thọ mà có. Ðể làm sáng tỏ, Tôn giả trước hết định nghĩa dục lạc: năm dục trưởng dưỡng (sắc, thanh, hương, vị, xúc) khả lạc khả ý; lạc hỷ khởi lên do duyên năm thứ ấy gọi là dục lạc. Rồi Tôn giả dẫn qua chín bậc thiền chứng theo thứ lớp: bốn Thiền, bốn Vô sắc xứ (Không vô biên xứ, Thức vô biên xứ, Vô sở hữu xứ, Phi tưởng phi phi tưởng xứ), và sau cùng là Diệt thọ tưởng định. Ở mỗi bậc, Tôn giả dùng cùng một khuôn: nếu vị Tỷ-kheo đang an trú trong bậc ấy mà các "tưởng tác ý" của bậc thấp hơn vẫn còn hiện hành — như ở sơ Thiền còn tưởng tác ý câu hữu với dục, ở nhị Thiền còn tưởng câu hữu với tầm, ở tam Thiền còn hỷ, ở tứ Thiền còn xả — thì đó là một chứng bệnh (ābādha) đối với vị ấy. Ví dụ được lặp lại rất dễ nhớ: với một người đang sung sướng, khổ đau khởi lên như một chứng bệnh. Và "chứng bệnh được Thế Tôn gọi là khổ". Càng lên cao, cái còn sót lại của bậc dưới lại thành cái khổ vi tế của bậc trên. Ðến bậc thứ chín, vượt khỏi Phi tưởng phi phi tưởng xứ, chứng và trú Diệt thọ tưởng định, "sau khi thấy với trí tuệ, các lậu hoặc được đoạn tận" — ở đây không còn gì để nêu ra làm chứng bệnh nữa. Do đó, theo pháp môn này, cần phải hiểu Niết-bàn là lạc. Bài học cho Huynh trưởng và đoàn sinh: hạnh phúc thật không phải là chồng thêm cảm thọ dễ chịu, mà là bớt dần cái quấy nhiễu; càng vắng lặng phiền não thì càng an lạc.

Bố cục bài kinhTheo đúng thứ tự trong kinh văn

  • 1. Duyên khởi và lời tuyên bố của Tôn giả Xá-lợi-phất (TTC 1) — Tôn giả Sāriputta trú ở Rājagaha, tại Veluvana, chỗ nuôi dưỡng các con sóc; bảo các Tỷ-kheo: lạc là Niết-bàn này (nói hai lần).
  • 2. Câu hỏi của Tôn giả Udāyī (TTC 2) — Udāyī hỏi: sao đây là lạc, khi ở đây không có cái gì được cảm thọ?
  • 3. Trả lời then chốt và định nghĩa dục lạc (TTC 3) — Chính vì không được cảm thọ nên đó là lạc. Kế đó nêu năm dục trưởng dưỡng (sắc, thanh, hương, vị, xúc) và định nghĩa dục lạc là lạc hỷ khởi lên do duyên năm dục trưởng dưỡng ấy.
  • 4. Bốn Thiền: mỗi bậc, tưởng tác ý của bậc dưới là một chứng bệnh (TTC 4-7) — Sơ Thiền — tưởng tác ý câu hữu với dục; Thiền thứ hai — với tầm; Thiền thứ ba — với hỷ; Thiền thứ tư — với xả. Mỗi trường hợp đều là một chứng bệnh; ví như với người sung sướng, khổ đau khởi lên như một chứng bệnh; chứng bệnh được Thế Tôn gọi là khổ. Kết: cần phải hiểu Niết-bàn là lạc.
  • 5. Bốn Vô sắc xứ (TTC 8-11) — Không vô biên xứ — tưởng tác ý câu hữu với sắc; Thức vô biên xứ — với Không vô biên xứ; Vô sở hữu xứ — với Thức vô biên xứ; Phi tưởng phi phi tưởng xứ — với Vô sở hữu xứ. Cùng khuôn: là một chứng bệnh, là khổ; cần phải hiểu Niết-bàn là lạc.
  • 6. Diệt thọ tưởng định và kết luận (TTC 12) — Vượt khỏi Phi tưởng phi phi tưởng xứ, chứng và trú Diệt thọ tưởng định; sau khi thấy với trí tuệ, các lậu hoặc được đoạn tận. Với pháp môn này, cần phải hiểu Niết-bàn là lạc.

Mỗi đoạn ghi nguyên văn Pāli, rồi bản Việt, rồi bản tiếng Anh. Số bên trái là số đoạn trong kinh, để đối chiếu được.

AN 9.34, TTC 1 (an9.34:1.1-1.2)
Ekaṁ samayaṁ āyasmā sāriputto rājagahe viharati veḷuvane kalandakanivāpe. Tatra kho āyasmā sāriputto bhikkhū āmantesi:
Một thời, Tôn giả Sàriputta trú ở Ràjagaha, tại Veluvana, chỗ nuôi dưỡng các con sóc. Tại đấy, Tôn giả Sàriputta bảo các Tỷ-kheo:
At one time Venerable Sāriputta was staying near Rājagaha in the Bamboo Grove, the squirrels’ feeding ground. There he addressed the mendicants:
AN 9.34, TTC 1 (an9.34:1.3-1.4)
“sukhamidaṁ, āvuso, nibbānaṁ. Sukhamidaṁ, āvuso, nibbānan”ti.
—Này các Hiền giả, lạc là Niết-bàn này; này các Hiền giả, lạc là Niết-bàn này.
“Reverends, extinguishment is bliss! Extinguishment is bliss!”
AN 9.34, TTC 2 (an9.34:1.5-1.6)
Evaṁ vutte, āyasmā udāyī āyasmantaṁ sāriputtaṁ etadavoca: “kiṁ panettha, āvuso sāriputta, sukhaṁ yadettha natthi vedayitan”ti?
Khi nghe nói vậy, Tôn giả Udàyi nói với Tôn giả Sàriputta: —Thưa Hiền giả Sàriputta, sao đây là lạc, khi ở đây không có cái gì được cảm thọ?
When he said this, Venerable Udāyī said to him, “But Reverend Sāriputta, what’s blissful about it, since nothing is felt?”
AN 9.34, TTC 3 (an9.34:1.7)
“Etadeva khvettha, āvuso, sukhaṁ yadettha natthi vedayitaṁ.
—Này Hiền giả, cái này ở đây là lạc, dầu rằng lạc ấy ở đây không được cảm thọ.
“The fact that nothing is felt is precisely what’s blissful about it.
AN 9.34, TTC 3 (an9.34:1.15-1.16)
ime kho, āvuso, pañca kāmaguṇā. Yaṁ kho, āvuso, ime pañca kāmaguṇe paṭicca uppajjati sukhaṁ somanassaṁ, idaṁ vuccatāvuso, kāmasukhaṁ.
Này Hiền giả, có năm dục trưởng dưỡng này. Này Hiền giả do duyên năm dục trưởng dưỡng này khởi lên lạc hỷ, này Hiền giả, đây gọi là dục lạc.
These are the five kinds of sensual stimulation. The pleasure and happiness that arise from these five kinds of sensual stimulation is called sensual pleasure.
AN 9.34, TTC 4 (an9.34:2.3-2.5)
Seyyathāpi, āvuso, sukhino dukkhaṁ uppajjeyya yāvadeva ābādhāya; evamevassa te kāmasahagatā saññāmanasikārā samudācaranti. Svassa hoti ābādho. Yo kho panāvuso, ābādho dukkhametaṁ vuttaṁ bhagavatā.
Ví như, này chư Hiền, với một người sung sướng, khổ đau có thể khởi lên như một chứng bệnh. Cũng vậy, với Tỷ-kheo ấy, các tưởng tác ý, câu hữu với dục vẫn hiện hành; như vậy, đối với Tỷ-kheo ấy là một chứng bệnh. Này chư Hiền, chứng bệnh được Thế Tôn gọi là khổ.
Suppose a happy person were to experience pain; that would be an affliction for them. In the same way, should perception and focus accompanied by sensual pleasures beset them, that’s an affliction for them. And affliction has been called suffering by the Buddha.
AN 9.34, TTC 12 (an9.34:10.1)
Puna caparaṁ, āvuso, bhikkhu sabbaso nevasaññānāsaññāyatanaṁ samatikkamma saññāvedayitanirodhaṁ upasampajja viharati, paññāya cassa disvā āsavā parikkhīṇā honti.
Này chư Hiền, Tỷ-kheo vượt khỏi Phi tưởng phi phi tưởng xứ một cách hoàn toàn, chứng và trú Diệt thọ tưởng định. Vị ấy, sau khi thấy với trí tuệ, các lậu hoặc được đoạn tận.
Furthermore, take a mendicant who, going totally beyond the dimension of neither perception nor non-perception, enters and remains in the cessation of perception and feeling. And, having seen with wisdom, their defilements come to an end.
AN 9.34, TTC 12 (an9.34:11.1)
Imināpi kho etaṁ, āvuso, pariyāyena veditabbaṁ yathā sukhaṁ nibbānan”ti.
Với pháp môn này, này chư Hiền, cần phải hiểu Niết-bàn là lạc.
That too is a way to understand how extinguishment is bliss.”
Chữ PāliNghĩaGhi chú
nibbānaNiết-bànHT. Thích Minh Châu dịch "Niết-bàn"; Bhikkhu Sujato dịch "extinguishment" (sự dập tắt).
sukhalạc, an vuiTên kinh Nibbānasukha = cái lạc của Niết-bàn.
vedayitacái được cảm thọTrong câu hỏi của Tôn giả Udāyī: "natthi vedayitaṁ" — không có cái gì được cảm thọ.
kāmaguṇā (pañca kāmaguṇā)năm dục trưởng dưỡng (sắc, thanh, hương, vị, xúc khả ái)
kāmasukhadục lạc
ābādhachứng bệnhẨn dụ trung tâm của kinh: cái còn sót lại của bậc thiền thấp hơn là "một chứng bệnh".
dukkhakhổ"Chứng bệnh được Thế Tôn gọi là khổ."
saññāmanasikārācác tưởng tác ý
jhānaThiền (bốn bậc: sơ Thiền, Thiền thứ hai, thứ ba, thứ tư)
vitakka-vicāratầm và tứ
pītihỷ
upekkhāxả
ākāsānañcāyatanaKhông vô biên xứ
viññāṇañcāyatanaThức vô biên xứ
ākiñcaññāyatanaVô sở hữu xứ
nevasaññānāsaññāyatanaPhi tưởng phi phi tưởng xứ
saññāvedayitanirodhaDiệt thọ tưởng định
āsavālậu hoặc"āsavā parikkhīṇā honti" — các lậu hoặc được đoạn tận.
pariyāyapháp môn, cách trình bày"Với pháp môn này... cần phải hiểu Niết-bàn là lạc."
āvusonày Hiền giả / này chư HiềnCách xưng hô giữa các Tỷ-kheo đồng hàng; vì kinh này do Tôn giả Xá-lợi-phất giảng, không phải Ðức Phật.

Xin thưa bài kinh này bắt đầu bằng một câu hỏi rất thật, và con nghĩ chính vì thật mà nó quý.

Tôn giả Sāriputta tuyên bố hai lần: “Này các Hiền giả, LẠC LÀ NIẾT-BÀN NÀY.”

Tôn giả Udāyī liền hỏi: “Thưa Hiền giả, SAO ĐÂY LÀ LẠC, khi ở đây KHÔNG CÓ CÁI GÌ ĐƯỢC CẢM THỌ?”

Xin thưa câu hỏi ấy rất đáng nể: Tôn giả Udāyī KHÔNG giả vờ hiểu. Chỗ nào chưa thông thì hỏi thẳngvà nhờ hỏi mà cả chúng được nghe lời giải.

Câu đáp là điểm then chốt của cả bài: “Này Hiền giả, CÁI NÀY Ở ĐÂY LÀ LẠC, DẦU RẰNG lạc ấy ở đây KHÔNG ĐƯỢC CẢM THỌ.”

Nghĩa là: cái vui của Niết-bàn KHÔNG CÙNG LOẠI với cái vui do CẢM THỌ mà có.

Rồi Tôn giả định nghĩa DỤC LẠC cho rõ trước đã: năm dục trưởng dưỡng — sắc, thanh, hương, vị, xúc khả lạc khả ý; lạc hỷ khởi lên DO DUYÊN năm thứ ấy thì gọi là DỤC LẠC.

Rồi Ngài dẫn qua CHÍN BẬC theo thứ lớp: bốn Thiền, rồi bốn Vô sắc xứ, và sau cùng là Diệt thọ tưởng định.

Và ở MỖI bậc, Ngài dùng ĐÚNG MỘT KHUÔN — con nghĩ đây là chỗ hay nhất, và cũng dễ dạy nhất.

Nếu vị Tỷ-kheo đang an trú trong bậc ấy mà “tưởng tác ý” của BẬC THẤP HƠN vẫn còn hiện hành — ở sơ Thiền còn tưởng câu hữu với DỤC, ở nhị Thiền còn TẦM, ở tam Thiền còn HỶ, ở tứ Thiền còn XẢ — thì đó là MỘT CHỨNG BỆNH đối với vị ấy.

Và ví dụ thì rất dễ nhớ: “Ví như với một người ĐANG SUNG SƯỚNG, khổ đau có thể khởi lên NHƯ MỘT CHỨNG BỆNH.” Rồi câu chốt: “Chứng bệnh được Thế Tôn gọi là KHỔ.”

Xin thưa chỗ sâu là đây: càng lên cao, CÁI CÒN SÓT LẠI của bậc dưới lại thành CÁI KHỔ VI TẾ của bậc trên. Cái hôm qua là niềm vui, hôm nay thành chỗ vướng.

Đến bậc thứ chín — vượt khỏi Phi tưởng phi phi tưởng xứ, chứng và trú DIỆT THỌ TƯỞNG ĐỊNH, “sau khi thấy với trí tuệ, các lậu hoặc được đoạn tận” — thì KHÔNG CÒN GÌ để nêu ra làm chứng bệnh nữa.

Và đó là lý do kết: “Với pháp môn này, cần phải hiểu NIẾT-BÀN LÀ LẠC.”

Xin thưa lời cuối cho anh chị em Huynh Trưởng. Đề mục Niết-bàn thì quá cao với đoàn sinh, nhưng cái LỐI LẬP LUẬN của bài kinh thì dạy được ngay.

Ý gọn: hạnh phúc thật KHÔNG phải là CHỒNG THÊM cảm thọ dễ chịu, mà là BỚT DẦN cái quấy nhiễu. Càng vắng lặng phiền não thì càng an.

Và xin nói với các em về Tôn giả Udāyī: chỗ nào chưa hiểu thì HỎImột câu hỏi thật thà có khi làm cả chúng được nghe pháp.

Xin thưa một ghi nhận về trang, không dám sửa thầm. Một ô trích lúc đầu ghi biên số là “1.16”, nhưng cột Pāli và cột Anh gồm CẢ HAI đoạn1.15 (“ime kho, āvuso, pañca kāmaguṇā.”) và 1.16. Chúng con đã tải lại tệp nguồn, in ra từng đoạn để đối chiếu; chữ chép đúng nguyên văn, chỉ ghi lại biên số cho khớp thành “1.15-1.16”.

  • “Niết-bàn là một cảm giác sung sướng tột cùng.” Câu đáp nói thẳng: “là lạc DẦU RẰNG ở đây KHÔNG ĐƯỢC CẢM THỌ”không cùng loại với vui do cảm thọ.
  • “Tôn giả Udāyī hỏi vì kém hiểu.” Ngài KHÔNG giả vờ hiểu; nhờ câu hỏi ấy mà cả chúng được nghe lời giải.
  • “Lên bậc cao thì hết khổ.” Kinh nói ngược: cái còn sót của bậc dưới thành CHỨNG BỆNH của bậc trênkhổ càng vi tế.
  • “Chứng bệnh là nói ví von cho vui.” Kinh chốt rất rõ: “Chứng bệnh được Thế Tôn gọi là KHỔ.”
  • “Bài này Đức Phật thuyết.” Người nói là Tôn giả Sāriputta, tại Trúc Lâm.
  • Ngành Oanh. Đừng dạy đề mục Niết-bàn. Chỉ nói: hết bị quấy rầy thì tự nhiên dễ chịu.
  • Ngành Thiếu. Học câu hỏi của Tôn giả Udāyīví dụ chứng bệnh.
  • Ngành Thanh và Huynh Trưởng. Bàn: vì sao “bớt cái quấy nhiễu” lại là hạnh phúc, chứ không phải “chồng thêm cái vui”?
  • Ai tuyên bố “lạc là Niết-bàn này”?
  • Tôn giả Udāyī hỏi câu gì?
  • Câu đáp then chốt là gì?
  • “Chứng bệnh” trong bài kinh nghĩa là gì?
  • Vì sao đến bậc thứ chín thì không còn chứng bệnh?

Nguyên văn Pāli chép từ ấn bản Mahāsaṅgīti — tệp dữ liệu gốc bilara-data của suttacentral.net, từng đoạn có đánh số. Bản tiếng Việt của Hoà thượng Thích Minh Châu; bản tiếng Anh của Tỳ-kheo Sujato. Bài này đã qua một lượt soi lại độc lập. Lượt soi ấy chỉ ra 1 chỗ cần xem lại; chỗ nào là lỗi thật thì chúng tôi đã sửa và ghi rõ ở Phần IV. Muốn đọc trọn bài kinh, xin xem nguyên văn ba thứ tiếng. Thấy chỗ nào khác ấn bản in, xin báo cho chúng tôi.