G.Đ.P.T Huyền Quang Phật Pháp · Tam Tạng Kinh Điển Tăng Chi Bộ · AN 9.14
Chín Câu Hỏi Về Ý Nghĩ · Và Một Lời Dặn Sau Lời Khen

Kinh Tôn Giả Samiddhi

Samiddhisutta — AN 9.14 · Pāli · Việt · Anh

Tam TạngTạng KinhTrung BộKinh Tôn Giả Samiddhi

Tôn giả Sāriputta hỏi CHÍN câu về các tư duy tầmnhững ý nghĩ khởi lên trong tâm. Tôn giả Samiddhi đáp trúng cả chín.ngay sau lời khenmột lời dặn.

  • Bộ — Tăng Chi Bộ, Chương Chín Pháp, Phẩm Tiếng Rống Con Sư Tử, kinh 14
  • Nơi chốnkinh KHÔNG nêu
  • Người trong kinhTôn giả Sāriputta hỏi, Tôn giả Samiddhi đáp; Thế Tôn không có mặt
  • Đọc kèmAN 9.13 (Tôn giả Koṭṭhika, cùng phẩm) và AN 9.11

Đây là một bài kinh rất ngắn, hình thức vấn đáp giữa hai vị Tôn giả: Tôn giả Sāriputta hỏi, Tôn giả Samiddhi đáp. Chủ đề là "các tư duy tầm" (saṅkappavitakkā) — tức những ý nghĩ, dự tính, suy tư khởi lên trong tâm một người. Tôn giả Sāriputta hỏi chín câu, mỗi câu soi một mặt của cùng một dòng tâm ý. Các tư duy tầm lấy gì làm sở duyên? Đáp: danh sắc. Cái gì khiến chúng đi đến sai khác? Đáp: các giới. (Câu hỏi này chúng con chép đúng lời bản dịch của HT. Thích Minh Châu; nguyên văn Pāli “Te pana, samiddhi, kva nānattaṁ gacchanti” hỏi theo hướng NƠI CHỐN — “chúng đi đến sai khác Ở ĐÂU”, và bản tiếng Anh dịch là “Where do they become diversified?”.) Chúng lấy gì làm tập khởi? Đáp: xúc. Chúng qui tụ ở đâu? Đáp: ở các cảm thọ. Lấy gì làm thượng thủ? Đáp: định. Lấy gì làm tăng thượng? Đáp: niệm. Lấy gì làm tối thượng? Đáp: tuệ. Lấy gì làm lõi cây? Đáp: giải thoát. Chúng thể nhập vào gì? Đáp: bất tử. Sau đó Tôn giả Sāriputta lặp lại toàn bộ chín câu hỏi cùng chín câu trả lời, xác nhận từng câu một, rồi khen: "Lành thay, này Samiddhi! Lành thay, này Samiddhi!" Nhưng liền sau lời khen là một lời nhắc rất đáng chú ý: "Nhưng Hiền giả chớ có kiêu mạn về vấn đề này." Với Huynh Trưởng và đoàn sinh, bài kinh có hai điểm học được. Thứ nhất là một bản đồ gọn của đời sống tâm: ý nghĩ không từ trên trời rơi xuống, mà có sở duyên, có tập khởi, có nơi qui tụ; và con đường đi lên của nó là định — niệm — tuệ — giải thoát — bất tử, tức lấy giải thoát làm lõi cây chứ không dừng ở chỗ hiểu biết. Thứ hai là bài học về thái độ: trả lời đúng hết, được bậc Thượng thủ khen, mà vẫn được dặn đừng vì đó mà sinh kiêu mạn. Hiểu giáo pháp giỏi mà kiêu mạn thì cái hiểu ấy trở thành chướng ngại.

Bố cục bài kinhTheo đúng thứ tự trong kinh văn

  • 1. Duyên khởi — Tôn giả Samiddhi đến gặp Tôn giả Sāriputta, chào hỏi rồi ngồi xuống một bên; Tôn giả Sāriputta mở lời hỏi.
  • 2. Chín câu vấn đáp về tư duy tầm — Sở duyên (danh sắc) — sai khác (các giới) — tập khởi (xúc) — qui tụ (cảm thọ) — thượng thủ (định) — tăng thượng (niệm) — tối thượng (tuệ) — lõi cây (giải thoát) — thể nhập (bất tử).
  • 3. Xác nhận, tán thán và lời răn về kiêu mạn — Tôn giả Sāriputta nhắc lại toàn bộ chín cặp hỏi–đáp, khen 'Lành thay', rồi dặn Tôn giả Samiddhi chớ vì đó mà kiêu mạn.

Mỗi đoạn ghi nguyên văn Pāli, rồi bản Việt, rồi bản tiếng Anh. Số bên trái là số đoạn trong kinh, để đối chiếu được.

AN 9.14, đoạn 1 (an9.14:1.1)
Atha kho āyasmā samiddhi yenāyasmā sāriputto tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā āyasmantaṁ sāriputtaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinnaṁ kho āyasmantaṁ samiddhiṁ āyasmā sāriputto etadavoca:
Rồi Tôn giả Samiddhi đi đến Tôn giả Sàriputta, sau khi đến, chào đón hỏi thăm Tôn giả Sàriputta, sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu, liền ngồi xuống một bên. Rồi Tôn giả Sàriputta nói với Tôn giả Samiddhi đang ngồi xuống một bên:
Then Venerable Samiddhi went up to Venerable Sāriputta, bowed, and sat to one side. Venerable Sāriputta said to him:
AN 9.14, đoạn 2 (an9.14:2.1–2.2)
“Kimārammaṇā, samiddhi, purisassa saṅkappavitakkā uppajjantī”ti?
“Nāmarūpārammaṇā, bhante”ti.
—Do sở duyên gì, này Samiddhi, một người khởi lên các tư duy tầm?
—Do danh sắc làm sở duyên, thưa Tôn giả.
“Samiddhi, based on what do thoughts arise in a person?” “Based on name and form, sir.”
AN 9.14, đoạn 4 (an9.14:4.1–4.2)
“Te pana, samiddhi, kiṁsamudayā”ti?
“Phassasamudayā, bhante”ti.
—Nhưng này Samiddhi, chúng lấy gì làm tập khởi?
—Lấy xúc làm tập khởi, thưa Tôn giả.
“What is their origin?” “Contact is their origin.”
AN 9.14, đoạn 6–7 (an9.14:6.1–7.2)
“Te pana, samiddhi, kiṁpamukhā”ti?
“Samādhippamukhā, bhante”ti.
“Te pana, samiddhi, kiṁadhipateyyā”ti?
“Satādhipateyyā, bhante”ti.
—Nhưng này Samiddhi, chúng lấy gì làm thượng thủ?
—Chúng lấy định làm thượng thủ, thưa Tôn giả.
—Nhưng này Samiddhi, chúng lấy gì làm tăng thượng?
—Chúng lấy niệm làm tăng thượng, thưa Tôn giả.
“What is their chief?” “Immersion is their chief.” “What is their ruler?” “Mindfulness is their ruler.”
AN 9.14, đoạn 8 (an9.14:8.1–8.2)
“Te pana, samiddhi, kiṁuttarā”ti?
“Paññuttarā, bhante”ti.
—Này Samiddhi, chúng lấy cái gì làm tối thượng?
—Chúng là tuệ làm tối thượng, thưa Tôn giả.
“What is their overseer?” “Wisdom is their overseer.”
AN 9.14, đoạn 9–10 (an9.14:9.1–10.2)
“Te pana, samiddhi, kiṁsārā”ti?
“Vimuttisārā, bhante”ti.
“Te pana, samiddhi, kiṁogadhā”ti?
“Amatogadhā, bhante”ti.
—Này Samiddhi, chúng lấy gì làm lõi cây?
—Chúng lấy giải thoát làm lõi cây, thưa Tôn giả.
—Này Samiddhi, chúng thể nhập vào gì?
—Chúng thể nhập vào bất tử, thưa Tôn giả.
“What is their core?” “Freedom is their core.” “What is their objective?” “Their objective is freedom from death.”
AN 9.14, đoạn 11 (an9.14:11.10–11.11)
Sādhu sādhu, samiddhi.
Sādhu kho tvaṁ, samiddhi, puṭṭho puṭṭho vissajjesi, tena ca mā maññī”ti.
Lành thay, này Samiddhi! Lành thay, này Samiddhi! Hiền giả đã trả lời các câu hỏi. Nhưng Hiền giả chớ có kiêu mạn về vấn đề này.
Good, good, Samiddhi! It’s good that you answered each question. But don’t get conceited because of that.”
Chữ PāliNghĩaGhi chú
saṅkappavitakkācác tư duy tầm — ý nghĩ, dự tính, suy tư khởi lên trong tâmBản Anh của Sujato dịch gọn là "thoughts".
ārammaṇasở duyên — đối tượng làm chỗ nương cho tâm khởi lên
nāmarūpadanh sắc — phần tâm và phần thân sắc hợp thành con người
dhātugiới — các yếu tố; số nhiều dhātūsu: "trong các giới"
phassaxúc — sự tiếp chạm giữa căn, cảnh và thức
samudayatập khởi — nguồn sanh khởi
samosaraṇachỗ qui tụ — nơi các pháp cùng gặp nhau
vedanāthọ, cảm thọ — cảm giác khổ, lạc, không khổ không lạc
samādhiđịnh — tâm chuyên nhất, an trú
satiniệm — sự ghi nhớ, tỉnh giác trên đối tượng
paññātuệ — trí tuệ thấy rõ như thật
vimuttigiải thoát
sāralõi cây — phần cốt lõi, tinh túy
amatabất tử — Niết-bànamatogadhā: thể nhập vào bất tử.
mā maññichớ có kiêu mạn, chớ tự cho mình là hơnTừ gốc maññati/māna: sự ngã mạn, so đo hơn kém.
sādhulành thay, tốt lành

Xin thưa, bài kinh này rất ngắnchín câu hỏi, chín câu đáp, rồi một lời dặn. Nhưng chín câu ấy ghép lại thành một BẢN ĐỒ rất gọn của đời sống tâm.

Chủ đề là “các tư duy tầm” (saṅkappavitakkā) — xin thưa cho dễ hiểu: những Ý NGHĨ, dự tính, suy tư khởi lên trong đầu mình.

Câu một — chúng lấy gì làm SỞ DUYÊN? Đáp: DANH SẮC, tức thân và tâm này.

Xin để ý ngay chỗ này: ý nghĩ KHÔNG từ trên trời rơi xuống. Nó có chỗ nương.

Câu hai — chúng đi đến SAI KHÁC ở đâu? Đáp: CÁC GIỚI (dhātu, các yếu tố).

Câu ba — chúng lấy gì làm TẬP KHỞI? Đáp: XÚC. Câu bốn — chúng QUI TỤ ở đâu? Đáp: ở các CẢM THỌ.

Xin thưa bốn câu đầu tả CÁCH Ý NGHĨ SINH RA: có thân tâm, có tiếp xúc, rồi có cảm thọvà ý nghĩ tụ về đó.

Rồi năm câu sau đổi chiềukhông còn tả ý nghĩ sinh ra, mà chỉ CON ĐƯỜNG ĐI LÊN.

Lấy gì làm THƯỢNG THỦ?ĐỊNH. Lấy gì làm TĂNG THƯỢNG?NIỆM. Lấy gì làm TỐI THƯỢNG?TUỆ.

Lấy gì làm LÕI CÂY?GIẢI THOÁT. Chúng THỂ NHẬP vào gì?BẤT TỬ.

Xin thưa chữ “LÕI CÂY” là chữ đáng dừng lại. Lõi cây là phần cứng nhất, phần thật của câykhông phải vỏ, không phải giác.

kinh nói lõi cây KHÔNG phải là TUỆtuệ chỉ là “tối thượng”lõi cây là GIẢI THOÁT. Tức hiểu cho giỏi vẫn chưa phải là chỗ tới.

đúng ý ấy được nói ra ngay ở đoạn kết, theo một cách con thấy rất bất ngờ.

Tôn giả Sāriputta lặp lại đủ chín câu hỏi cùng chín câu trả lời, xác nhận từng câu một, rồi khen: “Lành thay, này Samiddhi! Lành thay, này Samiddhi!”

Nhưng liền sau lời khen là một câu dặn: “Nhưng Hiền giả CHỚ CÓ KIÊU MẠN về vấn đề này.”

Xin thưa đây là chỗ hay nhất của bài kinh. Người đáp đúng cả chín câu, được bậc Thượng thủ khen hai lầnvà ngay lúc ấy được dặn đừng vì đó mà tự cao.

đúng lúc mình vừa nói hay nhất là lúc dễ kiêu nhất.bài kinh vừa nói xong rằng LÕI CÂY là GIẢI THOÁT, không phải cái hiểu.

Xin thưa lời cuối cho anh chị em Huynh Trưởng. Con nghĩ bài này rất hợp để dạy các em lớn và các anh chị mới học giáo lý.

Vì nó vừa cho một khung để hiểu tâm mình, vừa dặn ngay rằng hiểu giỏi mà kiêu thì cái hiểu ấy thành chướng ngại.

Xin thưa một chỗ chữ nghĩa, và xin nói rõ chúng con KHÔNG sửa lời Hoà thượng. Câu hỏi thứ hai, bản dịch của HT. Thích Minh Châu in là “cái gì khiến chúng đi đến sai khác?”; nguyên văn Pāli “Te pana, samiddhi, KVA nānattaṁ gacchanti” hỏi theo hướng NƠI CHỐN — chữ kva nghĩa là “ở đâu” — và bản tiếng Anh dịch là “Where do they become diversified?”

Chúng con đã tải bản Minh Châu về đối chiếu: câu ấy đúng là nguyên văn lời Hoà thượng, nên chúng con GIỮ NGUYÊNchỉ ghi chú thêm chữ Pāli để bạn đọc đối chiếu được. Câu trả lời “các giới” thì cả ba bản đều như nhau.

Ngoài ra: mười ba trong mười bốn ô Pāli/Anh đúng nguyên văn; một ô tiếng Anh bị thêm một dấu ngoặc kép ở đầu, đã dựng lại thẳng từ tệp nguồn; bảy ô tiếng Việt đều đúng nguyên văn.

  • “Tuệ là chỗ tới.” Kinh nói tuệ là TỐI THƯỢNG, nhưng LÕI CÂY là GIẢI THOÁThai chỗ khác nhau.
  • “Ý nghĩ tự nhiên mà có.” Kinh chỉ rõ sở duyên là danh sắc, tập khởi là xúc, qui tụ ở cảm thọ.
  • “Trả lời đúng là xong.” Ngay sau lời khen là câu “chớ có kiêu mạn về vấn đề này”.
  • “Bản Việt hỏi khác bản Pāli là dịch sai.” Chúng tôi không nói vậy: chỗ ấy là nguyên văn lời Hoà thượng, và câu trả lời thì ba bản như nhau; chúng tôi giữ nguyên và chỉ ghi chú.
  • Hỏi các em: một ý nghĩ vừa rồi của em từ đâu ra? Rồi lần theo: có thấy gì, nghe gì, cảm gì trước đó không?
  • Vẽ chuỗi định — niệm — tuệ — giải thoát — bất tử thành một bậc thang.
  • Chữ “lõi cây”đem một khúc cây thật ra cho các em xem vỏ, giác và lõi.
  • Câu dặn cuối — hỏi các em: được khen xong, lòng mình làm sao?
  • Vì sao LÕI CÂY là giải thoát chứ không phải tuệ?
  • Vì sao lời dặn “chớ kiêu mạn” lại đến NGAY SAU lời khen?
  • Biết ý nghĩ có sở duyên, có tập khởi — điều đó giúp gì khi mình nổi giận?
  • Trong chín câu, câu nào mình thấy khó hiểu nhất — và mình sẽ hỏi ai?

Nguyên văn Pāli chép từ ấn bản Mahāsaṅgīti — tệp dữ liệu gốc bilara-data của suttacentral.net, từng đoạn có đánh số. Bản tiếng Việt của Hoà thượng Thích Minh Châu; bản tiếng Anh của Tỳ-kheo Sujato. Bài này đã qua một lượt soi lại độc lập. Lượt soi ấy chỉ ra 1 chỗ cần xem lại; chỗ nào là lỗi thật thì chúng tôi đã sửa và ghi rõ ở Phần IV. Muốn đọc trọn bài kinh, xin xem nguyên văn ba thứ tiếng. Thấy chỗ nào khác ấn bản in, xin báo cho chúng tôi.