G.Đ.P.T Huyền Quang Phật Pháp · Tam Tạng Kinh Điển Tăng Chi Bộ · AN 9.13
Mười Câu Hỏi · Mười Lần “Không Phải Vậy”

Kinh Tôn Giả Koṭṭhika

Koṭṭhika Sutta — AN 9.13 · Pāli · Việt · Anh

Tam TạngTạng KinhTrung BộKinh Tôn Giả Koṭṭhika

Tôn giả Mahàkotthita hỏi Tôn giả Sàriputta mười câu: có phải sống Phạm hạnh là để ĐỔI NGHIỆP BÁO theo ý mình chăng? Mười lần đều nghe một câu đáp: “Không phải vậy, thưa Hiền giả.”

  • Bộ — Tăng Chi Bộ, Chương Chín Pháp, Phẩm Tiếng Rống Con Sư Tử, kinh 13
  • Nhân vậtTôn giả Mahàkotthita hỏi, Tôn giả Sàriputta đáp
  • Đặc điểmtoàn bài là đối đáp giữa HAI VỊ ĐẠI ĐỆ TỬ, không có lời Thế Tôn
  • Đọc kèmSN 56.11 (Bốn Sự Thật) và AN 3.61

Tôn giả Mahàkotthita đến hỏi Tôn giả Sàriputta một loạt câu hỏi cùng một khuôn: có phải người ta sống Phạm hạnh (brahmacariya) dưới Thế Tôn là để đổi nghiệp báo theo ý mình chăng? Năm cặp câu hỏi (tất cả mười câu) lần lượt nêu ra: nghiệp đáng cảm thọ trong hiện tại thì mong dời sang tương lai, và ngược lại; nghiệp đáng cảm giác là lạc thọ thì mong thành khổ thọ, và ngược lại; nghiệp đáng cảm thọ khi đã thuần thục thì mong cảm thọ khi chưa thuần thục, và ngược lại; nghiệp đáng cảm thọ nhiều thì mong cảm thọ ít, và ngược lại; nghiệp đáng cảm thọ thì mong không phải cảm thọ, và điều không đáng cảm thọ thì mong phải cảm thọ. Với mỗi câu hỏi, Tôn giả Sàriputta đều trả lời dứt khoát: "Không phải vậy, thưa Hiền giả." Sau khi kể lại đủ các câu hỏi đã bị phủ nhận, Tôn giả Mahàkotthita mới hỏi thẳng: vậy thì vì mục đích gì mà sống Phạm hạnh dưới Thế Tôn? Tôn giả Sàriputta đáp: chính vì những gì chưa được biết, chưa được thấy, chưa được đạt, chưa được chứng ngộ, chưa được hiện quán — để được biết, được thấy, được đạt, được chứng ngộ, được hiện quán điều ấy — mà Phạm hạnh được sống dưới Thế Tôn. Khi được hỏi tiếp điều chưa biết ấy là gì, ngài nêu rõ Bốn Sự Thật: "Đây là Khổ", "Đây là Khổ tập", "Đây là Khổ diệt", "Đây là con Đường đưa đến khổ diệt". Ý nghĩa cho người tu học: mục đích của đời sống Phạm hạnh không phải là mặc cả hay né tránh nghiệp báo, không phải là phép thuật đổi khổ thành vui hay dời quả báo đi chỗ khác, mà là mở con mắt trí tuệ thấy Bốn Sự Thật. Đây là bài kinh rất tốt để dạy đoàn sinh phân biệt giữa cầu xin đổi số mệnh và tu tập để thấy sự thật.

Bố cục bài kinhTheo đúng thứ tự trong kinh văn

  • 1. Duyên khởi: Mahàkotthita đến gặp Sàriputta — Tôn giả Mahàkotthita đến, chào đón hỏi thăm thân hữu, ngồi xuống một bên rồi nêu câu hỏi (đoạn 1.1–1.2).
  • 2. Năm cặp câu hỏi về việc đổi nghiệp báo, đều bị phủ nhận — Hiện tại/tương lai; lạc thọ/khổ thọ; thuần thục/không thuần thục; nhiều/ít; có cảm thọ/không cảm thọ. Mỗi lần Sàriputta đáp: "Không phải vậy, thưa Hiền giả" (đoạn 1.3–10.2).
  • 3. Mahàkotthita nhắc lại tất cả các câu đã hỏi và hỏi mục đích thật sự — Nhắc lại từng câu hỏi cùng câu đáp phủ nhận, rồi kết: "Vì mục đích gì sống Phạm hạnh dưới Thế Tôn?" (đoạn 11.1–20.2).
  • 4. Sàriputta trả lời: để biết, thấy, đạt, chứng ngộ, hiện quán điều chưa từng biết — Phạm hạnh được sống là vì những gì không biết, không thấy, không đạt, không chứng ngộ, không hiện quán (đoạn 21.1–21.2).
  • 5. Điều chưa biết ấy chính là Bốn Sự Thật — "Đây là Khổ", "Đây là Khổ tập", "Đây là Khổ diệt", "Đây là con Đường đưa đến khổ diệt" (đoạn 21.3–21.9).

Mỗi đoạn ghi nguyên văn Pāli, rồi bản Việt, rồi bản tiếng Anh. Số bên trái là số đoạn trong kinh, để đối chiếu được.

AN 9.13:1.1–1.2
Atha kho āyasmā mahākoṭṭhiko yenāyasmā sāriputto tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā āyasmatā sāriputtena saddhiṁ sammodi.
Sammodanīyaṁ kathaṁ sāraṇīyaṁ vītisāretvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho āyasmā mahākoṭṭhiko āyasmantaṁ sāriputtaṁ etadavoca:
Rồi Tôn giả Mahàkotthita đến Tôn giả Sàriputta, sau khi đến, chào đón hỏi thăm Tôn giả Sàriputta, sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu rồi ngồi xuống một bên.
Then Venerable Mahākoṭṭhita went up to Venerable Sāriputta, and exchanged greetings with him. When the greetings and polite conversation were over, he sat down to one side and said to Sāriputta:
AN 9.13:1.3–1.4
“kiṁ nu kho, āvuso sāriputta, ‘yaṁ kammaṁ diṭṭhadhammavedanīyaṁ, taṁ me kammaṁ samparāyavedanīyaṁ hotū’ti, etassa atthāya bhagavati brahmacariyaṁ vussatī”ti? “No hidaṁ, āvuso”.
—Thưa Hiền giả Sàriputta, có phải sống Phạm hạnh dưới Thế Tôn với hy vọng: “Phàm nghiệp gì được cảm thọ hiện tại, mong rằng nghiệp ấy ta được cảm thọ trong tương lai”? —Không phải vậy, thưa Hiền giả.
“Reverend Sāriputta, is the spiritual life led under the Buddha for this goal: ‘May deeds to be experienced in this life be experienced by me in lives to come’?” “Certainly not, reverend.”
AN 9.13:3.1–3.2
“Kiṁ nu kho, āvuso sāriputta, ‘yaṁ kammaṁ sukhavedanīyaṁ, taṁ me kammaṁ dukkhavedanīyaṁ hotū’ti, etassa atthāya bhagavati brahmacariyaṁ vussatī”ti? “No hidaṁ, āvuso”.
—Thưa Hiền giả Sàriputta, có phải sống Phạm hạnh dưới Thế Tôn với hy vọng: “Phàm nghiệp gì được cảm giác là lạc thọ, mong rằng nghiệp ấy ta được cảm giác là khổ thọ?” —Không phải vậy, thưa Hiền giả.
“Is the spiritual life led under the Buddha for this goal: ‘May deeds to be experienced as pleasant be experienced by me as painful’?” “Certainly not.”
AN 9.13:5.1–5.2
“Kiṁ nu kho, āvuso sāriputta, ‘yaṁ kammaṁ paripakkavedanīyaṁ, taṁ me kammaṁ aparipakkavedanīyaṁ hotū’ti, etassa atthāya bhagavati brahmacariyaṁ vussatī”ti? “No hidaṁ, āvuso”.
-Thưa Hiền giả Sàriputta, có phải sống Phạm hạnh dưới Thế Tôn với hy vọng: “Phàm nghiệp gì được cảm thọ là thuần thục, mong rằng nghiệp ấy ta cảm thọ là không thuần thục”? —Không phải vậy, thưa Hiền giả.
“Is the spiritual life led under the Buddha for this goal: ‘May deeds to be experienced when ripe be experienced by me when unripe’?” “Certainly not.”
AN 9.13:7.1–7.2
“Kiṁ nu kho, āvuso sāriputta, ‘yaṁ kammaṁ bahuvedanīyaṁ, taṁ me kammaṁ appavedanīyaṁ hotū’ti, etassa atthāya bhagavati brahmacariyaṁ vussatī”ti? “No hidaṁ, āvuso”.
—Thưa Hiền giả Sàriputta, có phải sống Phạm hạnh dưới Thế Tôn với hy vọng: “Phàm nghiệp gì được cảm thọ là nhiều, mong rằng nghiệp ấy ta cảm thọ là ít”? —Không phải vậy, thưa Hiền giả.
“Is the spiritual life led under the Buddha for this goal: ‘May deeds to be experienced a lot be experienced by me a little’?” “Certainly not.”
AN 9.13:20.2
Atha kimatthaṁ carahāvuso, bhagavati brahmacariyaṁ vussatī”ti?
Vì mục đích gì sống Phạm hạnh dưới Thế Tôn?
Then what exactly is the goal of leading the spiritual life under the Buddha?”
AN 9.13:21.1
“Yaṁ khvassa, āvuso, aññātaṁ adiṭṭhaṁ appattaṁ asacchikataṁ anabhisametaṁ, tassa ñāṇāya dassanāya pattiyā sacchikiriyāya abhisamayāya bhagavati brahmacariyaṁ vussatīti.
—Thưa Hiền giả, với những gì không biết, không thấy, không đạt, không chứng ngộ, không hiện quán, với mục đích để được biết, được thấy, được đạt, được chứng ngộ, được hiện quán mà Phạm hạnh được sống dưới Thế Tôn.
“Reverend, the spiritual life is lived under the Buddha to know, see, attain, realize, and comprehend that which is unknown, unseen, unattained, unrealized, and uncomprehended.”
AN 9.13:21.3–21.7
‘Idaṁ dukkhan’ti khvassa, āvuso, aññātaṁ adiṭṭhaṁ appattaṁ asacchikataṁ anabhisametaṁ. Tassa ñāṇāya dassanāya pattiyā sacchikiriyāya abhisamayāya bhagavati brahmacariyaṁ vussati. ‘Ayaṁ dukkhasamudayo’ti khvassa, āvuso …pe… ‘ayaṁ dukkhanirodho’ti khvassa, āvuso …pe… ‘ayaṁ dukkhanirodhagāminī paṭipadā’ti khvassa, āvuso, aññātaṁ adiṭṭhaṁ appattaṁ asacchikataṁ anabhisametaṁ. Tassa ñāṇāya dassanāya pattiyā sacchikiriyāya abhisamayāya bhagavati brahmacariyaṁ vussati.
—“Ðây là Khổ”, này Hiền giả, là điều không được biết, không được thấy, không đạt, không chứng ngộ, không hiện quán, với mục đích để được biết, được thấy… mà Phạm hạnh được sống dưới Thế Tôn. “Ðây là Khổ tập”… “Ðây là Khổ diệt”… “Ðây là con Ðường đưa đến khổ diệt”, này Hiền giả, là điều không được biết, không được thấy, không được đạt, không được chứng ngộ, không được hiện quán, với mục đích được biết, được thấy, được đạt, được chứng ngộ, được hiện quán, mà Phạm hạnh được sống dưới Thế Tôn.
“‘This is suffering.’ … ‘This is the origin of suffering.’ … ‘This is the cessation of suffering.’ … ‘This is the practice that leads to the cessation of suffering.’ …
Chữ PāliNghĩaGhi chú
brahmacariyaPhạm hạnh — đời sống trong sạch, đời sống tu hành dưới Thế TônHT. Thích Minh Châu dịch là "Phạm hạnh"; Sujato dịch "the spiritual life".
kammaNghiệp — hành động có tác ý
diṭṭhadhammavedanīyaNghiệp được cảm thọ trong hiện tại (ngay đời này)
samparāyavedanīyaNghiệp được cảm thọ trong tương lai (đời sau)
sukhavedanīya / dukkhavedanīyaNghiệp được cảm giác là lạc thọ / khổ thọ
paripakkavedanīya / aparipakkavedanīyaNghiệp được cảm thọ là thuần thục / không thuần thục (đã chín / chưa chín)
bahuvedanīya / appavedanīyaNghiệp được cảm thọ là nhiều / là ít
abhisamayaHiện quán — sự thấu hiểu, thể nhập trọn vẹn
sacchikiriyāChứng ngộ, tự thân thực chứng
dukkha / dukkhasamudaya / dukkhanirodha / dukkhanirodhagāminī paṭipadāKhổ / Khổ tập / Khổ diệt / Con Đường đưa đến khổ diệt — Bốn Sự Thật
SīhanādavaggaPhẩm Tiếng Rống Con Sư Tử — tên phẩm chứa bài kinh này
āvusoHiền giả — lối xưng hô giữa các vị tỳ-kheo đồng phạm hạnh

Xin thưa bài kinh này có một lối hỏi rất lạ — và con nghĩ chính cái lối ấy mới là bài giảng.

Tôn giả Mahàkotthita đến gặp Tôn giả Sàriputta, chào hỏi thân hữu, ngồi xuống một bên — rồi hỏi MỘT LOẠT câu cùng một khuôn.

Khuôn ấy là: “có phải sống Phạm hạnh dưới Thế Tôn VỚI HY VỌNG…” — rồi điền vào một cách ĐỔI NGHIỆP BÁO.

NĂM CẶP, tức MƯỜI câu, và mỗi cặp là một chiều đi và một chiều về:

nghiệp đáng cảm thọ HIỆN TẠI thì mong dời sang TƯƠNG LAI, và ngược lại; nghiệp đáng là LẠC THỌ thì mong thành KHỔ THỌ, và ngược lại;

nghiệp đã THUẦN THỤC thì mong chưa thuần thục, và ngược lại; nghiệp cảm thọ NHIỀU thì mong ÍT, và ngược lại; và nghiệp đáng cảm thọ thì mong KHÔNG PHẢI cảm thọ, và ngược lại.

mỗi lần, Tôn giả Sàriputta đáp ĐÚNG MỘT CÂU: “KHÔNG PHẢI VẬY, thưa Hiền giả.”

Xin thưa con thấy sự lặp lại ấy chính là chỗ mạnh. Mười câu hỏi là mười cách người ta muốn mặc cả với nghiệpvà cả mười đều bị đóng lại.

xin để ý chúng KHÔNG phải là những mong ước xấu. “Mong nghiệp khổ thành nghiệp vui”ai mà chẳng mong. Kinh không chê cái mong ấy; kinh chỉ nói ĐÓ KHÔNG PHẢI LÀ VIỆC CỦA PHẠM HẠNH.

Rồi Tôn giả Mahàkotthita NHẮC LẠI ĐỦ CẢ MƯỜI CÂU cùng mười lần bị phủ nhận — rồi mới hỏi thẳng: “vậy thì VÌ MỤC ĐÍCH GÌ mà sống Phạm hạnh dưới Thế Tôn?”

Và Tôn giả Sàriputta đáp: chính vì những gì CHƯA ĐƯỢC BIẾT, chưa được thấy, chưa được đạt, chưa được chứng ngộ, chưa được hiện quánđể ĐƯỢC biết, ĐƯỢC thấy, ĐƯỢC đạt, ĐƯỢC chứng ngộ, ĐƯỢC hiện quán điều ấy.

Khi được hỏi “điều chưa biết ấy là gì”, ngài nêu rõ BỐN SỰ THẬT: “Đây là Khổ”, “Đây là Khổ tập”, “Đây là Khổ diệt”, “Đây là con Đường đưa đến khổ diệt”.

Xin thưa con thấy bài kinh này gọn mà dứt khoát lạ thường.dựng lên mười cánh cửa, đóng cả mười, rồi mới mở một cánh.

cánh cửa được mở KHÔNG phải là một phần thưởngmà là một CÁI THẤY. Phạm hạnh không đổi được quả báo; Phạm hạnh mở được CON MẮT.

Xin thưa lời cuối cho anh chị em Huynh Trưởng. Con nghĩ đây là bài kinh rất cần cho các em, vì các em hay nghe chung quanh nói “tu cho hết xui”, “tu cho tai qua nạn khỏi”.

Bài kinh này trả lời thẳng chuyện ấy, và trả lời bằng lời của Tôn giả Xá-lợi-phấtmười lần “không phải vậy”.

Nhưng xin dặn một điều: đừng dạy thành “tu thì vô ích, tu không được gì cả”. Kinh KHÔNG nói vậy.

Kinh nói cái được thì LỚN HƠN NHIỀU những thứ vừa bị chối: không phải dời được một quả báo, mà là THẤY ĐƯỢC BỐN SỰ THẬTchỗ mà mọi quả báo đều nằm trong đó.

Xin thưa bốn việc về trang. Thứ nhất, về cách kiểm: mỗi ô “pali”“anh” đã được đối chiếu TỰ ĐỘNG với tệp nguồn16 ô đều đúng nguyên văn.

Thứ hai: phần tóm lược và bố cục do trang soạn lúc đầu ghi “CHÍN cặp câu hỏi”; thật ra kinh chỉ có NĂM cặp, tức mười câuchính phần liệt kê ngay bên dưới cũng chỉ kể năm cặp. Đã sửa.

Thứ ba: ô trích đầu ghi biên số “1.1” nhưng ô tiếng Việt trải sang cả 1.2 (“…rồi ngồi xuống một bên”), khiến ba cột lệch. Đã chép thêm phân đoạn 1.2 vào ô Pāli và ô Anh và ghi biên số 1.1–1.2. Một ô khác được ghi lại thành 21.3–21.7 cho khớp phần chép.

Thứ tư, và xin thưa kỹ chỗ này: lượt soi ĐỀ NGHỊ XOÁ một ghi chú, nhưng chúng con GIỮ LẠI.

Ghi chú ấy nói: cặp câu hỏi cuối trong bản Việt ĐẢO THỨ TỰ so với bản Pāli. Người soi tra lại rồi bảo “không có chuyện đảo”.

Chúng con đã kiểm tận nơi CẢ HAI VÒNG. Ở VÒNG HỎI THỨ NHẤT (Pāli 9.1 “yaṁ kammaṁ vedanīyaṁ… avedanīyaṁ” rồi 10.1 ngược lại), bản Việt hỏi “KHÔNG được cảm thọ → được cảm thọ” TRƯỚCtức THẬT SỰ CÓ ĐẢO. Còn ở VÒNG NHẮC LẠI cuối bài (Pāli 19.1–20.1) thì hai bản KHỚP nhau.

Người soi chỉ xem vòng nhắc lại nên kết luận nhầm. Ghi chú được giữ và ghi lại cho chính xác. Xin thưa rõ: đây KHÔNG phải chỗ dịch saichỉ là thứ tự trình bày.

  • “Kinh nói tu thì không được gì.” Kinh nói cái được LỚN HƠN những thứ vừa bị chối: thấy được BỐN SỰ THẬTchỗ mà mọi quả báo đều nằm trong đó.
  • “Vậy nghiệp báo là định mệnh, không đổi được gì cả.” Kinh không bàn chuyện ấy. Kinh chỉ nói MỤC ĐÍCH của đời sống Phạm hạnh không phải là mặc cả với nghiệp.
  • “Mong hết khổ là mong bậy.” Kinh không chê những mong ước ấy — chỉ nói đó không phải việc của Phạm hạnh.
  • “Đây là lời Phật dạy.” Toàn bài là đối đáp giữa Tôn giả Mahàkotthita và Tôn giả SàriputtaThế Tôn không nói câu nào.
  • “Hiện quán là hiểu ra.” Abhisamayathấu hiểu, THỂ NHẬP trọn vẹn — kinh xếp nó sau cả “chứng ngộ”.
  • “Chín cặp câu hỏi.” Kinh chỉ có NĂM cặp, tức mười câu.
  • Ngành Oanh. Chỉ kể: “ông ấy hỏi mười lần, lần nào cũng nghe ‘không phải vậy’.” Rồi hỏi: “vậy tu để làm gì?”
  • Ngành Thiếu. Học câu đáp cuối: để BIẾT, THẤY, ĐẠT, CHỨNG NGỘ, HIỆN QUÁN Bốn Sự Thật.
  • Ngành Thanh và Huynh Trưởng. Dùng khi các em nghe chung quanh nói “tu cho hết xui”. Bàn: vì sao Tôn giả Sàriputta phải nói “không phải vậy” tới MƯỜI lần?
  • Ai hỏi và ai đáp trong bài kinh này?
  • Mấy cặp câu hỏi, và câu đáp là gì?
  • Vì mục đích gì mà sống Phạm hạnh?
  • “Điều chưa được biết” ấy là gì?
  • Vì sao không nên hiểu bài này là “tu vô ích”?

Nguyên văn Pāli chép từ ấn bản Mahāsaṅgīti — tệp dữ liệu gốc bilara-data của suttacentral.net, từng đoạn có đánh số. Bản tiếng Việt của Hoà thượng Thích Minh Châu; bản tiếng Anh của Tỳ-kheo Sujato. Bài này đã qua một lượt soi lại độc lập. Lượt soi ấy chỉ ra 4 chỗ cần xem lại; chỗ nào là lỗi thật thì chúng tôi đã sửa và ghi rõ ở Phần IV. Muốn đọc trọn bài kinh, xin xem nguyên văn ba thứ tiếng. Thấy chỗ nào khác ấn bản in, xin báo cho chúng tôi.