G.Đ.P.T Huyền Quang Phật Pháp · Tam Tạng Kinh Điển Tăng Chi Bộ · AN 9.12
Không Vội Cãi, Không Vội Gật · Đem Về Hỏi Cho Thấu

Kinh Chín Hạng Người Còn Dư Y

Saupādisesasutta — AN 9.12 · Pāli · Việt · Anh

Tam TạngTạng KinhTrung BộKinh Chín Hạng Người Còn Dư Y

Tôn giả Sāriputta nghe một lời dạy KHÁC ĐẠO — và ngài KHÔNG hoan hỷ, cũng KHÔNG chỉ trích. Ngài lặng lẽ đứng dậy, đem câu ấy về hỏi Thế Tôn. Câu trả lời là CHÍN hạng người.

  • Bộ — Tăng Chi Bộ, Chương Chín Pháp, Phẩm Tiếng Rống Con Sư Tử, kinh 12
  • Nơi chốnSāvatthī, rừng Jetavana, khu vườn ông Anāthapiṇḍika
  • Người trong kinhTôn giả Sāriputta, các du sĩ ngoại đạo, và Thế Tôn
  • Đọc kèmAN 9.11 (tiếng rống con sư tử, cùng phẩm) và AN 10.63

Kinh này ghi lại một buổi sáng của Tôn giả Sāriputta. Vì còn quá sớm để vào thành Sāvatthī khất thực, Tôn giả ghé sang khu vườn các du sĩ ngoại đạo. Ở đó các du sĩ đang bàn với nhau một chủ trương rất dứt khoát: hễ ai chết mà còn "dư y" (saupādisesa, còn sót lại chấp thủ) thì nhất định không thoát khỏi địa ngục, bàng sanh, ngạ quỷ, cõi dữ, ác thú, đọa xứ. Tôn giả Sāriputta không hoan hỷ tán thành mà cũng không lên tiếng chỉ trích. Ngài lặng lẽ đứng dậy ra đi, với ý nghĩ sẽ về hỏi ý nghĩa nơi Thế Tôn. Đây là một bài học rất đẹp cho Huynh Trưởng: gặp lời nói khác đạo, không vội cãi, cũng không vội gật, mà đem về học cho thấu. Sau khi khất thực xong, Tôn giả bạch lại đầu đuôi. Thế Tôn dạy rằng các du sĩ ngoại đạo ấy là những kẻ ngu si, không thông minh, làm sao biết được ai là có dư y, ai là không dư y. Rồi Thế Tôn nêu chín hạng người tuy chết còn dư y nhưng vẫn được giải thoát khỏi địa ngục, bàng sanh, ngạ quỷ và các đọa xứ. Chín hạng ấy được phân theo mức độ thành tựu Giới - Định - Tuệ. Năm hạng đầu viên mãn giới và định nhưng chưa viên mãn tuệ; các vị này đã diệt tận năm hạ phần kiết sử, tức bậc Bất Lai, gồm: Trung gian Bát-niết-bàn, Tổn hại Bát-niết-bàn, Vô hành Bát-niết-bàn, Hữu hành Bát-niết-bàn, và Thượng lưu đi đến Sắc cứu cánh thiên. Hạng thứ sáu là vị Nhất Lai, do diệt ba kiết sử và làm nhẹ tham sân si. Ba hạng sau là các bậc Dự Lưu do diệt ba kiết sử: Nhất Chủng, Gia gia, và vị trở lui tối đa bảy lần giữa chư Thiên và loài Người. Cuối kinh, Thế Tôn cho biết pháp môn này trước nay chưa được nói cho bốn chúng, vì e nghe rồi sanh phóng dật, ỷ lại; nay Ngài nói ra chỉ vì được hỏi đến. Đây là lời nhắc quan trọng: biết mình còn cơ hội không phải là cớ để buông lung tu tập.

Bố cục bài kinhTheo đúng thứ tự trong kinh văn

  • 1. Duyên khởi: Tôn giả Sāriputta ghé vườn du sĩ ngoại đạo — Thế Tôn trú tại Jetavana. Tôn giả Sāriputta đắp y cầm bát, thấy còn quá sớm nên đến khu vườn các du sĩ ngoại đạo, chào hỏi thân hữu rồi ngồi xuống một bên.
  • 2. Chủ trương của các du sĩ ngoại đạo và thái độ của Tôn giả — Các du sĩ chủ trương: ai chết có dư y đều không được giải thoát khỏi địa ngục, bàng sanh, ngạ quỷ, cõi dữ, ác thú, đọa xứ. Tôn giả không hoan hỷ, không chỉ trích, đứng dậy ra đi để về hỏi Thế Tôn.
  • 3. Tôn giả trình lại sự việc lên Thế Tôn — Sau khi khất thực và thọ thực xong, Tôn giả đến đảnh lễ Thế Tôn, ngồi một bên và thuật lại toàn bộ câu chuyện.
  • 4. Thế Tôn quở trách sự thiếu hiểu biết của ngoại đạo — Thế Tôn dạy các du sĩ ngoại đạo là ngu si, không thông minh, làm sao biết được người có dư y hay không có dư y; rồi nêu lên có chín hạng người chết có dư y mà vẫn được giải thoát khỏi các đọa xứ.
  • 5. Năm hạng đầu: viên mãn giới và định, không viên mãn tuệ (bậc Bất Lai) — Sau khi diệt tận năm hạ phần kiết sử: (1) Trung gian Bát-niết-bàn (antarāparinibbāyī), (2) Tổn hại Bát-niết-bàn (upahaccaparinibbāyī), (3) Vô hành Bát-niết-bàn (asaṅkhāraparinibbāyī), (4) Hữu hành Bát-niết-bàn (sasaṅkhāraparinibbāyī), (5) Thượng lưu đi đến Sắc cứu cánh thiên (uddhaṁsoto akaniṭṭhagāmī).
  • 6. Hạng thứ sáu: vị Nhất Lai — Viên mãn giới, không viên mãn định và tuệ; sau khi diệt tận ba kiết sử, làm nhẹ bớt tham sân si, là vị Nhất Lai, còn đến thế giới này một lần nữa rồi đoạn tận khổ đau.
  • 7. Ba hạng sau: Nhất Chủng, Gia gia, Thất Lai (bậc Dự Lưu) — Sau khi diệt tận ba kiết sử (chính văn chỉ nói “diệt tận ba kiết sử”; việc xếp ba hạng này là ba mức của bậc Dự Lưu là theo Chú giải, không phải chữ trong kinh): (7) Nhất Chủng (ekabījī) còn sanh làm người một lần nữa; (8) Gia gia (kolaṅkolo) luân chuyển hai hay ba gia đình; (9) vị trở lui tối đa bảy lần giữa chư Thiên và loài Người, rồi đoạn tận khổ đau.
  • 8. Kết luận: vì sao trước nay chưa nói pháp môn này — Thế Tôn nhắc lại chín hạng người, rồi cho biết pháp môn này chưa được nói cho các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo-ni, nam cư sĩ, nữ cư sĩ, vì e nghe rồi họ đem lại phóng dật; nay nói ra vì được hỏi đến.

Mỗi đoạn ghi nguyên văn Pāli, rồi bản Việt, rồi bản tiếng Anh. Số bên trái là số đoạn trong kinh, để đối chiếu được.

AN 9.12 — Pāli 2.1–2.2
Tena kho pana samayena tesaṁ aññatitthiyānaṁ paribbājakānaṁ sannisinnānaṁ sannipatitānaṁ ayamantarākathā udapādi: “yo hi koci, āvuso, saupādiseso kālaṁ karoti, sabbo so aparimutto nirayā aparimutto tiracchānayoniyā aparimutto pettivisayā aparimutto apāyaduggativinipātā”ti.
Lúc bấy giờ, trong khi các du sĩ ngoại đạo ấy đang ngồi tụ họp, câu chuyện này khởi lên: “Thưa chư Hiền, ai chết có dư y, tất cả không được giải thoát khỏi địa ngục, không được giải thoát khỏi bàng sinh, không được giải thoát ngạ quỷ, không được giải thoát khỏi cõi dữ, ác thú, đọa xứ”.
Now at that time while those wanderers of other religions were sitting together this discussion came up among them: “Reverends, no one who dies with residue is exempt from hell, the animal realm, or the ghost realm. They’re not exempt from places of loss, bad places, the underworld.”
AN 9.12 — Pāli 2.3–2.5
Atha kho āyasmā sāriputto tesaṁ aññatitthiyānaṁ paribbājakānaṁ bhāsitaṁ neva abhinandi nappaṭikkosi. Anabhinanditvā appaṭikkositvā uṭṭhāyāsanā pakkāmi: “bhagavato santike etassa bhāsitassa atthaṁ ājānissāmī”ti.
Rồi Tôn giả Sàriputta không hoan hỷ, không chỉ trích lời nói các du sĩ ngoại đạo ấy, không hoan hỷ, không chỉ trích, Tôn giả từ chỗ ngồi đứng dậy và ra đi, với ý nghĩ: “Ta sẽ biết ý nghĩa lời nói này từ Thế Tôn”.
Sāriputta neither approved nor rejected that statement of the wanderers of other religions. He rose from his seat, thinking, “I will learn the meaning of this statement from the Buddha himself.”
AN 9.12 — Pāli 4.1
“Ke ca, sāriputta, aññatitthiyā paribbājakā bālā abyattā, ke ca saupādisesaṁ vā ‘saupādiseso’ti jānissanti, anupādisesaṁ vā ‘anupādiseso’ti jānissanti.
—Này Sàriputta, một số các du sĩ ngoại đạo là những kẻ ngu si, không thông minh, một số sẽ biết: “Người có dư y là người có dư y”, hay sẽ biết: “Người không có dư y là người không có dư y”.
“Sāriputta, these foolish, incompetent wanderers following other religions: who are they to know whether someone has residue or not?
AN 9.12 — Pāli 5.1–5.2
Navayime, sāriputta, puggalā saupādisesā kālaṁ kurumānā parimuttā nirayā parimuttā tiracchānayoniyā parimuttā pettivisayā parimuttā apāyaduggativinipātā. Katame nava?
Này Sàriputta, có chín hạng người này, khi chết có dư y, được giải thoát khỏi địa ngục, được giải thoát khỏi loài bàng sinh, được giải thoát khỏi ngạ quỷ, được giải thoát khỏi cõi dữ, ác thú , đọa xứ. Thế nào là chín?
There are these nine individuals who, dying with residue, are exempt from hell, the animal realm, and the ghost realm. They’re exempt from places of loss, bad places, the underworld. What nine?
AN 9.12 — Pāli 5.3–5.4
Idha, sāriputta, ekacco puggalo sīlesu paripūrakārī hoti, samādhismiṁ paripūrakārī, paññāya mattaso kārī. So pañcannaṁ orambhāgiyānaṁ saṁyojanānaṁ parikkhayā antarāparinibbāyī hoti.
Ở đây, này Sàriputta, có hạng người viên mãn trong các giới, viên mãn trong định, nhưng không viên mãn trong tuệ. Vị ấy, sau khi diệt tận năm hạ phần kiết sử, là vị Trung gian Bát-niết-bàn (antarà parinibbàyì).
There’s an individual who has fulfilled ethics and immersion, but has limited wisdom. With the ending of the five lower fetters they’re extinguished between one life and the next.
AN 9.12 — Pāli 7.1–7.2
Puna caparaṁ, sāriputta, idhekacco puggalo sīlesu paripūrakārī hoti, samādhismiṁ mattaso kārī, paññāya mattaso kārī. So tiṇṇaṁ saṁyojanānaṁ parikkhayā rāgadosamohānaṁ tanuttā sakadāgāmī hoti, sakideva imaṁ lokaṁ āgantvā dukkhassantaṁ karoti.
Lại nữa, này Sàriputta, ở đây có hạng người viên mãn trong các giới, không viên mãn trong định, không viên mãn trong tuệ. Vị ấy, sau khi diệt tận ba kiết sử, làm nhẹ bớt tham, sân, si, là vị Nhất Lai, còn đến thế giới này một lần nữa, rồi đoạn tận khổ đau.
Furthermore, there’s an individual who has fulfilled ethics, but has limited immersion and wisdom. With the ending of three fetters, and the weakening of greed, hate, and delusion, they’re a once-returner. They come back to this world once only, then make an end of suffering.
AN 9.12 — Pāli 10.2
So tiṇṇaṁ saṁyojanānaṁ parikkhayā sattakkhattuparamo hoti, sattakkhattuparamaṁ deve ca manusse ca sandhāvitvā saṁsaritvā dukkhassantaṁ karoti.
Vị ấy, sau khi diệt tận ba kiết sử, là vị trở lui tối đa là bảy lần (Thất Lai, sattakkhattu-paramo), sau khi dong ruỗi, sau khi luân chuyển, tối đa là bảy lần giữa chư Thiên và loài Người, rồi đoạn tận khổ đau.
With the ending of three fetters, they have at most seven rebirths. They will transmigrate at most seven times among gods and humans and then make an end of suffering.
AN 9.12 — Pāli 11.3–11.6
Na tāvāyaṁ, sāriputta, dhammapariyāyo paṭibhāsi bhikkhūnaṁ bhikkhunīnaṁ upāsakānaṁ upāsikānaṁ. Taṁ kissa hetu? Māyimaṁ dhammapariyāyaṁ sutvā pamādaṁ āhariṁsūti. Api ca mayā, sāriputta, dhammapariyāyo pañhādhippāyena bhāsito”ti.
Nhưng này Sàriputta, cho đến nay, pháp môn này chưa được nói cho các Tỷ-kheo, các Tỷ-kheo-ni, các nam cư sĩ, các nữ cư sĩ. Vì cớ sao? Mong rằng khi nghe pháp môn này, họ không đem lại phóng dật. Lại nữa, này Sàriputta, pháp môn này được Ta nói đến vì Ta được hỏi đến.
Up until now, Sāriputta, I have not felt the need to give this exposition of the teaching to the monks, nuns, laymen, and laywomen. Why is that? For I didn’t want those who heard it to introduce negligence. However, I have spoken it in order to answer your question.”
Chữ PāliNghĩaGhi chú
saupādisesacó dư y (còn sót lại chấp thủ, chưa dứt hết)Bản Minh Châu dịch là "có dư y"; bản Sujato dịch "with residue". Tên kinh Saupādisesasutta.
anupādisesakhông có dư y
orambhāgiyāni saṁyojanāninăm hạ phần kiết sửDiệt tận năm hạ phần kiết sử là bậc Bất Lai.
antarāparinibbāyīTrung gian Bát-niết-bàn
upahaccaparinibbāyīTổn hại Bát-niết-bànBản Việt ghi "uppahacca parinibbàyì".
asaṅkhāraparinibbāyīVô hành Bát-niết-bàn
sasaṅkhāraparinibbāyīHữu hành Bát-niết-bàn
uddhaṁsoto akaniṭṭhagāmīThượng lưu đi đến Sắc cứu cánh thiên
sakadāgāmīNhất Lai
ekabījīNhất Chủng
kolaṅkoloGia gia
sattakkhattuparamovị trở lui tối đa bảy lần (Thất Lai)
dhammapariyāyapháp môn (bài pháp, cách trình bày giáo pháp)
pamādaphóng dật, buông lung
aññatitthiyā paribbājakācác du sĩ ngoại đạo

Xin thưa, trước khi nói tới chín hạng người, con muốn dừng lại ở đoạn mở đầu — vì con nghĩ đoạn ấy dạy Huynh Trưởng nhiều hơn cả phần giáo lý.

Tôn giả Sāriputta đi khất thực, thấy còn quá SỚM, nên ghé sang khu vườn các du sĩ ngoại đạo, chào hỏi thân hữu rồi ngồi xuống một bên.

Ở đó họ đang bàn một chủ trương rất dứt khoát: hễ ai chết mà CÒN DƯ Y thì NHẤT ĐỊNH không thoát khỏi địa ngục, bàng sanh, ngạ quỷ, cõi dữ, ác thú, đọa xứ.

đây là chỗ đáng học: Tôn giả “KHÔNG hoan hỷ, KHÔNG chỉ trích”không gật, cũng không cãi. Ngài đứng dậy ra đi, với ý nghĩ: “Ta sẽ biết ý nghĩa lời nói này từ Thế Tôn.”

Con nghĩ ba chữ “không hoan hỷ, không chỉ trích” đáng chép ra dán ở phòng họp Huynh Trưởng. Gặp lời khác đạo, phản ứng thường là cãi ngay hoặc gật cho qua. Ngài làm cái thứ ba: ĐEM VỀ HỎI CHO THẤU.

Rồi Thế Tôn dạy: các du sĩ ấy “ngu si, không thông minh”làm sao họ biết được ai là có dư y, ai là không dư y?

Xin thưa chỗ Thế Tôn bác KHÔNG phải là chuyện “có dư y thì đọa” — mà là chỗ họ dám PHÁN về người khác trong khi họ không có cách nào biết.

Rồi Ngài nêu CHÍN hạng người: chết mà VẪN CÒN dư y, nhưng vẫn được giải thoát khỏi địa ngục, bàng sanh, ngạ quỷ và các đọa xứ.

chín hạng ấy xếp theo GIỚI – ĐỊNH – TUỆ, xin thưa cho dễ nhớ.

NĂM hạng đầuviên mãn GIỚI, viên mãn ĐỊNH, chưa viên mãn TUỆ; các vị này đã diệt tận NĂM HẠ PHẦN KIẾT SỬ, tức bậc BẤT LAI: Trung gian Bát-niết-bàn, Tổn hại Bát-niết-bàn, Vô hành Bát-niết-bàn, Hữu hành Bát-niết-bàn, và Thượng lưu đi đến Sắc cứu cánh thiên.

Hạng THỨ SÁUviên mãn GIỚI, chưa viên mãn định và tuệ; diệt ba kiết sử, làm nhẹ tham sân sivị NHẤT LAI, còn trở lại đời này một lần nữa.

BA hạng cuốidiệt ba kiết sử: Nhất Chủng (còn sanh làm người một lần nữa), Gia gia (luân chuyển hai hay ba gia đình), và vị trở lui TỐI ĐA BẢY LẦN giữa chư Thiên và loài Người.

Xin thưa một chỗ chúng con phải nói cho đúng: chính văn CHỈ nói “diệt tận ba kiết sử”, không dùng chữ sotāpanna (Dự Lưu). Việc xếp ba hạng ấy là ba mức của bậc Dự Lưu là theo CHÚ GIẢI — đúng về giáo lý, nhưng không phải chữ trong kinh, nên chúng con ghi rõ như vậy ở mục bố cục.

đoạn KẾT mới là đoạn con thấy nặng nhất.

Thế Tôn cho biết pháp môn này TRƯỚC NAY CHƯA được nói cho bốn chúng — Tỷ-kheo, Tỷ-kheo-ni, nam cư sĩ, nữ cư sĩ. Vì sao?e nghe rồi họ đem lại PHÓNG DẬT.

Nay Ngài nói ra CHỈ VÌ được hỏi đến.

Xin thưa ý ấy rất thẳng: biết mình còn cơ hội KHÔNG phải là cớ để buông lung. Bài kinh mở ra một cửa rộng — và ngay lập tức dặn đừng lấy cửa ấy làm chỗ dựa để lười.

Xin thưa lời cuối cho anh chị em Huynh Trưởng. Con nghĩ bài này có HAI bài học tách rời nhau, và cả hai đều dùng được.

Một là CÁCH ĐỐI XỬ với lời khác mình: không hoan hỷ, không chỉ trích, đem về hỏi cho thấu. Hai là ĐỪNG PHÁN về chỗ chứng của người khácđến các du sĩ tu hành cũng bị Thế Tôn bảo là “làm sao biết được”.

Xin thưa ba việc về trang. Một, về NHAN ĐỀ: chữ Pāli Saupādisesasutta nghĩa đen là kinh “CÓ dư y” (sa- nghĩa là “có”), bản tiếng Anh dịch “With Residue”; nhưng bản điện tử gắn cho bản dịch Việt cái tên “Không Có Dư Y”. Chúng con giữ nguyên tên của bản điện tử và thưa ra đây để bạn đọc đừng hiểu ngược ngay từ nhan đề — bài kinh nói về người chết mà VẪN CÒN dư y.

Hai: các nhãn số đoạn do người tra cứu ghi đã TRỘN hai lối đánh số — có ô ghi theo mốc của bản Việt, có ô ghi theo mã đoạn Pāli, nên cùng một con số lại chỉ hai chỗ khác nhau. Chúng con đã dựng lại TOÀN BỘ nhãn ấy thẳng từ tệp nguồn, ghi thống nhất theo mã đoạn Pāli; không một chữ nào trong các ô trích bị đổi.

Ba: mười sáu ô Pāli/Anh và tám ô tiếng Việt của bài này đều đúng NGUYÊN VĂN khi đối chiếu bằng máy — không ô nào phải dựng lại.

  • “Còn dư y là chắc chắn đọa.” Đó là chủ trương của các du sĩ ngoại đạoThế Tôn BÁC; Ngài nêu chín hạng người còn dư y mà vẫn thoát khỏi đọa xứ.
  • “Tôn giả Sāriputta im lặng vì không biết.” Kinh chép rõ ngài “không hoan hỷ, không chỉ trích”chủ động đem về hỏi Thế Tônđó là sự thận trọng, không phải sự bí.
  • “Kinh nói Dự Lưu.” Chính văn chỉ nói “diệt tận ba kiết sử”; chữ Dự Lưu là theo Chú giải.
  • “Nhan đề là Không Có Dư Y nên kinh nói về bậc vô dư.” Nhan đề Pāli là “CÓ dư y”; tên tiếng Việt trên bản điện tử ghi ngược.
  • Lấy câu “không hoan hỷ, không chỉ trích” làm bài tập tuần: gặp ý kiến khác, tập KHÔNG cãi ngay và KHÔNG gật ngay.
  • Hỏi các em: khi nghe điều gì lạ về đạo, mình hỏi AI cho ra lẽ?
  • Đoạn kết về phóng dật — hỏi các em: biết còn thời gian có làm mình lười đi không?
  • Đừng bắt các em thuộc chín hạng. Chỉ cần các em nhớ: KHÔNG ai phán được chỗ chứng của người khác.
  • Vì sao Thế Tôn dạy rằng các du sĩ “làm sao biết được”? Chỗ sai của họ là ở NỘI DUNG hay ở chỗ DÁM PHÁN?
  • Vì sao pháp môn này lâu nay chưa được nói ra?
  • “Không hoan hỷ, không chỉ trích” khác gì với thờ ơ?
  • Điều gì trong bài kinh này khiến mình muốn tinh tấn hơn, chứ không phải yên tâm hơn?

Nguyên văn Pāli chép từ ấn bản Mahāsaṅgīti — tệp dữ liệu gốc bilara-data của suttacentral.net, từng đoạn có đánh số. Bản tiếng Việt của Hoà thượng Thích Minh Châu; bản tiếng Anh của Tỳ-kheo Sujato. Bài này đã qua một lượt soi lại độc lập. Lượt soi ấy chỉ ra 3 chỗ cần xem lại; chỗ nào là lỗi thật thì chúng tôi đã sửa và ghi rõ ở Phần IV. Muốn đọc trọn bài kinh, xin xem nguyên văn ba thứ tiếng. Thấy chỗ nào khác ấn bản in, xin báo cho chúng tôi.