G.Đ.P.T Huyền Quang Phật Pháp · Tam Tạng Kinh Điển Tăng Chi Bộ · AN 9.11
Bị Vu Oan · Tôn Giả Sāriputta Đáp Bằng Chín Ví Dụ

Kinh Tiếng Rống Con Sư Tử

Sīhanāda Sutta — AN 9.11 · Pāli · Việt · Anh

Tam TạngTạng KinhTrung BộKinh Tiếng Rống Con Sư Tử

Tôn giả Sāriputta bị một Tỷ-kheo VU OAN ngay trước Thế Tôn. Ngài không cãi một lời nào về sự việc — chỉ trình bày TÂM MÌNH qua CHÍN VÍ DỤ: tâm như đất, như nước, như lửa, như gió, như giẻ lau…

  • Bộ — Tăng Chi Bộ, Chương Chín Pháp, kinh 11
  • Phẩm — Tiếng Rống Con Sư Tử (Sīhanādavagga)
  • Nơi chốnSāvatthi, sau ba tháng an cư mùa mưa
  • Đọc kèmMN 21 (ví dụ cái cưa) và AN 6.54 (không mắng lại, không giận lại)

Kinh này thuộc Chương Chín Pháp, phẩm "Tiếng Rống Con Sư Tử" của Tăng Chi Bộ. Bối cảnh rất đời thường: sau ba tháng an cư mùa mưa tại Sāvatthi, Tôn giả Sāriputta đến xin phép Thế Tôn đi du hành trong quốc độ, và được Thế Tôn chấp thuận. Ngài vừa đi khỏi không bao lâu thì một Tỷ-kheo đến bạch Phật rằng Tôn giả Sāriputta đã "xâm phạm" mình rồi bỏ đi, không xin lỗi. Thế Tôn cho người gọi Tôn giả Sāriputta trở lại. Lúc bấy giờ, Tôn giả Mahā Moggallāna và Tôn giả Ānanda cầm chìa khóa đi khắp các tinh xá gọi chư Tăng: hãy đến, vì hôm nay Tôn giả Sāriputta sẽ rống tiếng rống con sư tử trước mặt Thế Tôn. Trước lời tố cáo, Tôn giả Sāriputta không cãi, không tự bào chữa, cũng không kết tội người kia. Ngài chỉ trình bày chỗ tu tập của mình: người nào không an trú thân niệm trên thân (kāyagatāsati) thì mới có thể xâm phạm một vị đồng Phạm hạnh rồi bỏ đi không xin lỗi. Rồi ngài lần lượt nêu chín ví dụ: tâm ngài như đất, như nước, như lửa, như gió, như miếng giẻ lau — nhận cả đồ tịnh lẫn bất tịnh mà không lo âu, không xấu hổ, không nhàm chán; như đứa con nhà Chiên-đà-la khiêm hạ đi xin ăn; như con bò đực cưa sừng hiền lành không hại ai; và ngài nhàm chán chính cái thân bất tịnh này, mang nó như mang một bát mỡ thủng lỗ, rỉ chảy. Mỗi ví dụ đều kết lại bằng cùng một câu về thân niệm. Nghe xong, vị Tỷ-kheo kia đứng dậy, đắp y một bên vai, cúi đầu đảnh lễ chân Phật và phát lộ tội xuyên tạc của mình. Thế Tôn xác nhận đó là trọng tội, nhưng vì đã thấy tội là tội và phát lộ đúng pháp nên Ngài chấp nhận, và dạy rằng đó chính là sự tiến bộ trong Pháp Luật của bậc Thánh. Cuối cùng Thế Tôn bảo Tôn giả Sāriputta tha thứ; Tôn giả tha thứ và còn xin vị kia cũng tha thứ cho mình. Bài kinh dạy Huynh Trưởng hai điều: nhẫn nhục do tu thân niệm, và văn hóa sám hối — tha thứ trong đoàn thể.

Bố cục bài kinhTheo đúng thứ tự trong kinh văn

  • 1. Xin phép đi du hành sau mùa an cư — Tôn giả Sāriputta bạch Thế Tôn đã sống an cư mùa mưa tại Sāvatthi, nay muốn đi du hành trong quốc độ; Thế Tôn dạy: hãy làm những gì Thầy nghĩ là hợp thời. Tôn giả đảnh lễ, thân phía hữu hướng về Ngài rồi ra đi. (đoạn 1.1–1.6)
  • 2. Lời tố cáo và việc cho gọi trở lại — Một Tỷ-kheo bạch Phật rằng Tôn giả Sāriputta xâm phạm mình rồi bỏ đi không xin lỗi. Thế Tôn sai một Tỷ-kheo nhân danh Ngài đi gọi Tôn giả Sāriputta về. (đoạn 1.7–1.14)
  • 3. Chư Tăng được mời đến nghe tiếng rống con sư tử — Tôn giả Mahā Moggallāna và Tôn giả Ānanda cầm chìa khóa đi từ tinh xá này đến tinh xá khác gọi chư Tôn giả đến, vì Tôn giả Sāriputta sẽ rống tiếng rống con sư tử trước mặt Thế Tôn. Thế Tôn nêu lại lời tố cáo cho Tôn giả Sāriputta nghe. (đoạn 2.1–2.6)
  • 4. Chín ví dụ: đất, nước, lửa, gió, giẻ lau, con nhà Chiên-đà-la, bò đực cưa sừng, xác vật quàng cổ, bát mỡ thủng — Tôn giả Sāriputta trả lời bằng thân niệm: ai không an trú thân niệm trên thân mới có thể xâm phạm đồng Phạm hạnh rồi bỏ đi không xin lỗi. Rồi ngài nêu chín ví dụ về tâm rộng rãi, rộng lớn, vô lượng, không hận, không sân, và về sự nhàm chán đối với thân bất tịnh. (đoạn 3.1–12.3)
  • 5. Vị Tỷ-kheo phát lộ tội, Thế Tôn chấp nhận — Vị Tỷ-kheo đứng dậy, đắp thượng y một bên vai, đảnh lễ chân Thế Tôn, nhận đã xuyên tạc Tôn giả Sāriputta bằng lời trống không, vọng ngôn, không thật. Thế Tôn chấp nhận tội đã phát lộ và dạy đó là sự tiến bộ trong Pháp Luật của bậc Thánh. (đoạn 13.1–13.6)
  • 6. Thế Tôn bảo Tôn giả Sāriputta tha thứ — Thế Tôn bảo Tôn giả Sāriputta hãy tha thứ kẻ ngu si này, trước khi đầu vị ấy bị vỡ tan làm bảy mảnh. Tôn giả Sāriputta tha thứ, và cũng mong vị ấy tha thứ cho mình. (đoạn 14.1–14.4)

Mỗi đoạn ghi nguyên văn Pāli, rồi bản Việt, rồi bản tiếng Anh. Số bên trái là số đoạn trong kinh, để đối chiếu được.

AN 9.11:1.8
“āyasmā maṁ, bhante, sāriputto āsajja appaṭinissajja cārikaṁ pakkanto”ti.
—Bạch Thế Tôn, Tôn giả Sàriputta xâm phạm con, đã bỏ đi du hành, không có xin lỗi con.
“Sir, Venerable Sāriputta attacked me and left without saying sorry.”
AN 9.11:2.2–2.3
“abhikkamathāyasmanto, abhikkamathāyasmanto. Idānāyasmā sāriputto bhagavato sammukhā sīhanādaṁ nadissatī”ti.
—Chư Tôn giả hãy đến! Chư Tôn giả hãy đến! Nay Tôn giả Sàriputta sẽ rống tiếng rống con sư tử trước mặt Thế Tôn.
“Come forth, venerables! Come forth, venerables! Now Venerable Sāriputta will roar his lion’s roar in the presence of the Buddha!”
AN 9.11:3.1
“Yassa nūna, bhante, kāye kāyagatāsati anupaṭṭhitā assa, so idha aññataraṁ sabrahmacāriṁ āsajja appaṭinissajja cārikaṁ pakkameyya.
—Thật vậy, bạch Thế Tôn, với ai không an trú thân niệm trên thân, người ấy, ở đây, sau khi xâm phạm một vị đồng Phạm hạnh, có thể bỏ đi du hành, không có xin lỗi.
“Sir, someone who had not established mindfulness of the body might well attack one of their spiritual companions and leave without saying sorry.
AN 9.11:4.1–4.2
Seyyathāpi, bhante, pathaviyaṁ sucimpi nikkhipanti asucimpi nikkhipanti gūthagatampi nikkhipanti muttagatampi nikkhipanti kheḷagatampi nikkhipanti pubbagatampi nikkhipanti lohitagatampi nikkhipanti, na ca tena pathavī aṭṭīyati vā harāyati vā jigucchati vā; evamevaṁ kho ahaṁ, bhante, pathavīsamena cetasā viharāmi vipulena mahaggatena appamāṇena averena abyāpajjena.
Ví như, bạch Thế Tôn, trên đất, người ta quăng đồ tịnh, quăng đồ bất tịnh, quăng phẩn uế, quăng nước tiểu, nhổ nước miếng, quăng mủ và quăng máu; tuy vậy đất không lo âu, không xấu hổ, hay không nhàm chán. Cũng vậy, bạch Thế Tôn, con an trú với tâm như đất, rộng rãi, rộng lớn, vô lượng, không hận, không sân.
Suppose they were to toss both clean and unclean things on the earth, like feces, urine, spit, pus, and blood. The earth isn’t horrified, repelled, and disgusted because of this. In the same way, I live with a heart like the earth, abundant, expansive, limitless, free of enmity and ill will.
AN 9.11:9.1–9.2
Seyyathāpi, bhante, caṇḍālakumārako vā caṇḍālakumārikā vā kaḷopihattho nantakavāsī gāmaṁ vā nigamaṁ vā pavisanto nīcacittaṁyeva upaṭṭhapetvā pavisati; evamevaṁ kho ahaṁ, bhante, caṇḍālakumārakacaṇḍālakumārikāsamena cetasā viharāmi vipulena mahaggatena appamāṇena averena abyāpajjena.
Ví như, bạch Thế Tôn, con trai của một người Candàla (Chiên-đà-la: hạ liệt) hay con gái của một người Candàla, với tây cầm bát ăn xin, mặc đồ rách rưới, đi vào làng hay đi vào thị trấn, với một tâm trạng hạ liệt. Cũng vậy, bạch Thế Tôn, con an trú với tâm giống như con trai của một người Candàla hay con gái của một người Candàla, rộng rãi, rộng lớn, vô lượng, không hận, không sân.
Suppose a boy or girl of a corpse-worker tribe, holding a pot and clad in rags, were to enter a town or village. They’d enter with a humble mind. In the same way, I live with a heart like a boy or girl of a corpse-worker tribe, abundant, expansive, limitless, free of enmity and ill will.
AN 9.11:12.1–12.2
Seyyathāpi, bhante, puriso medakathālikaṁ parihareyya chiddāvachiddaṁ uggharantaṁ paggharantaṁ; evamevaṁ kho ahaṁ, bhante, imaṁ kāyaṁ pariharāmi chiddāvachiddaṁ uggharantaṁ paggharantaṁ.
Ví như, bạch Thế Tôn, có người mang một cái bát đầy mỡ, có thủng nhiều lỗ, thủng nhiều đường, bị chảy, bị rỉ. Cũng vậy, bạch Thế Tôn, con mang cái thân này, có thủng nhiều lỗ, có thủng nhiều đường, bị chảy, bị rỉ.
Suppose someone was to carry around a bowl of fat that was leaking and oozing from holes and cracks. In the same way, I carry around this body that’s leaking and oozing from holes and cracks.
AN 9.11:13.6
Vuḍḍhihesā, bhikkhu, ariyassa vinaye yo accayaṁ accayato disvā yathādhammaṁ paṭikaroti āyatiṁ saṁvaraṁ āpajjatī”ti.
Ðây là một sự tiến bộ, này Tỷ-kheo, trong Pháp Luật của bậc Thánh, những ai thấy tội là tội, phát lộ đúng pháp, và ngăn đón trong tương lai.
For it is growth in the training of the Noble One to recognize a mistake for what it is, deal with it properly, and commit to restraint in the future.”
AN 9.11:14.2–14.4
“khama, sāriputta, imassa moghapurisassa, purā tassa tattheva sattadhā muddhā phalatī”ti. “Khamāmahaṁ, bhante, tassa āyasmato sace maṁ so āyasmā evamāha: ‘khamatu ca me so āyasmā’”ti.
—Này Sàriputta, hãy tha thứ kẻ ngu si này, trước khi ở đây, đầu nó sẽ bị vỡ tan làm bảy mảnh.
—Bạch Thế Tôn, con tha thứ cho Tôn giả ấy, nếu Tôn giả ấy nói với con: “Hãy tha thứ cho”, và cũng mong Tôn giả ấy tha thứ cho con.
“Sāriputta, forgive that futile man before his head explodes into seven pieces right here.” “I will pardon that venerable if he asks me: ‘May the venerable please pardon me too.’”
Chữ PāliNghĩaGhi chú
sīhanādatiếng rống con sư tửLời tuyên bố dõng dạc, không sợ hãi, trước đại chúng; nhan đề Pāli của kinh là Sīhanādasutta.
kāyagatāsatithân niệm (niệm đặt nơi thân)Bản Minh Châu dịch cụm 'kāye kāyagatāsati anupaṭṭhitā' là 'không an trú thân niệm trên thân'.
vassāvāsaan cư mùa mưa
janapadacārikadu hành trong quốc độ (đi hoằng hóa các vùng)
sabrahmacārīvị đồng Phạm hạnh (bạn cùng tu)
averena abyāpajjenakhông hận, không sânĐi kèm 'vipulena mahaggatena appamāṇena' — rộng rãi, rộng lớn, vô lượng.
aṭṭīyati, harāyati, jigucchatilo âu, xấu hổ, nhàm chánBộ ba lặp lại ở các ví dụ đất, nước, lửa, gió, giẻ lau (thể phủ định — tâm không lo âu, không xấu hổ, không nhàm chán), và trở lại ở ví dụ xác rắn/chó/người quàng cổ (thể khẳng định — chính Tôn giả lo âu, xấu hổ, nhàm chán đối với thân bất tịnh này; Pāli 11.1–11.2).
caṇḍālaChiên-đà-la — giai cấp bị coi là hạ liệt trong xã hội Ấn Độ đương thời
accayatội, lỗi lầm'accayaṁ accayato disvā' = thấy tội là tội.
paṭikaroti / saṁvaraphát lộ sám hối đúng pháp / ngăn đón, phòng hộ trong tương lai
khamatitha thứ, nhẫn thứ
moghapurisakẻ ngu si (người rỗng không, uổng phí)

Xin thưa đây là một trong những bài kinh con thấy cảm động nhất của Tăng Chi Bộ — vì nó kể một chuyện rất đời: bị người ta nói oan.

Sau ba tháng an cư mùa mưa tại Sāvatthi, Tôn giả Sāriputta xin phép Thế Tôn đi du hành, và được chấp thuận.

Ngài vừa đi khỏi không bao lâu thì một Tỷ-kheo đến bạch Phật: Tôn giả Sāriputta ĐÃ XÂM PHẠM con rồi BỎ ĐI KHÔNG XIN LỖI.

Thế Tôn cho gọi Tôn giả trở về. Và xin để ý một chi tiết rất đẹp: Tôn giả Mahā Moggallāna và Tôn giả Ānanda CẦM CHÌA KHÓA đi từ tinh xá này đến tinh xá khác GỌI CHƯ TĂNG ĐẾN NGHE.

Vì sao gọi hết chúng Tăng? Vì các ngài biết: Tôn giả Sāriputta SẼ RỐNG TIẾNG RỐNG CON SƯ TỬ.

Rồi đến chỗ đáng học nhất của bài kinh. Bị vu oan trước cả đại chúng, Tôn giả KHÔNG CÃI một lời nào về SỰ VIỆCkhông nói “con không làm”, không kể lể, không tố ngược lại.

Ngài chỉ TRÌNH BÀY TÂM MÌNH. Ngài mở đầu bằng THÂN NIỆM: người KHÔNG an trú thân niệm trên thân thì mới có thể xâm phạm đồng Phạm hạnh rồi bỏ đi không xin lỗi.

Rồi Ngài nêu CHÍN VÍ DỤ. Xin thưa từng ví dụ một, vì mỗi cái dạy một điều riêng.

(1) NHƯ ĐẤT. Người ta quăng lên đất vật sạch và vật dơ, phân, nước tiểu, nước miếngđất KHÔNG vì đó mà lo âu, xấu hổ, nhàm chán.

(2) NHƯ NƯỚC. (3) NHƯ LỬA. (4) NHƯ GIÓ. Cả bốn đại đều rửa, đốt, thổi qua vật sạch lẫn vật dơ mà không phân biệt.

(5) NHƯ GIẺ LAU BỤI — thứ lau chỗ dơ mà không nề hà.

Xin thưa bộ ba chữ lặp đi lặp lại trong năm ví dụ ấy: aṭṭīyati, harāyati, jigucchati — Hoà thượng dịch “lo âu, xấu hổ, nhàm chán”. Tôn giả nói tâm mình KHÔNG như vậy đối với người và việc.

(6) NHƯ CON NHÀ CHIÊN-ĐÀ-LA đi vào làng, tâm rất khiêm hạ. (7) NHƯ CON BÒ ĐỰC BỊ CƯA SỪNG, hiền lành, không húc ai.

(8) Và đây là chỗ bộ ba chữ ấy TRỞ LẠI — nhưng NGƯỢC LẠI: như người trẻ ưa trang sức bị quàng xác rắn, xác chó, xác người vào cổ thì lo âu, xấu hổ, nhàm chánTôn giả nói CHÍNH MÌNH lo âu, xấu hổ, nhàm chán đối với THÂN BẤT TỊNH này.

Xin thưa chỗ đối nhau ấy rất đáng nói: đối với NGƯỜI và VIỆC thì KHÔNG nhàm chán; đối với THÂN MÌNH thì CÓ. Chê mình chứ không chê người.

(9) NHƯ BÁT MỠ THỦNG, rỉ chảy khắp nơi — Tôn giả mang thân này như mang cái bát ấy.

Nghe xong, vị Tỷ-kheo tố cáo đứng dậy, đắp thượng y một bên vai, đảnh lễ chân Thế Tôn và NHẬN LỖI: đã xuyên tạc Tôn giả “bằng lời trống không, vọng ngôn, không thật”.

Thế Tôn CHẤP NHẬN TỘI ĐÃ PHÁT LỘ và dạy đó là sự tăng trưởng trong giới luật của bậc Thánh.

Rồi Thế Tôn bảo: “Khama, sāriputta” — hãy THA THỨ cho kẻ ngu si này, TRƯỚC KHI đầu vị ấy vỡ tan làm bảy mảnh.

Và câu đáp của Tôn giả Sāriputta, xin thưa, là chỗ đẹp nhất của cả bài kinh: “Con tha thứ cho vị ấy — VÀ MONG VỊ ẤY CŨNG THA THỨ CHO CON.”

Người BỊ VU OAN lại XIN NGƯỜI VU OAN MÌNH THA THỨ. Đó mới là tiếng rống con sư tử.

Xin thưa lời cuối cho anh chị em Huynh Trưởng. Trong sinh hoạt đoàn, chuyện bị hiểu lầm, bị nói oan là chuyện SẼ XẢY RAkhông sớm thì muộn.

Bài kinh này KHÔNG dạy phải im lặng chịu đựng, cũng KHÔNG dạy phải cãi cho ra lẽ. Ngài dạy một lối thứ ba: QUAY VỀ SOI TÂM MÌNH TRƯỚC.

Và xin nhớ: chuyện chỉ được giải khi vị Tỷ-kheo kia TỰ ĐỨNG DẬY NHẬNkhông phải vì Tôn giả cãi thắng.

Xin thưa ba ghi nhận về trang, không dám sửa thầm.

Thứ nhất: mục cuối lúc đầu ghi “đoạn 14.1–14.5”. Chúng con đã tự tải lại tệp nguồn và đọc tận nơi: đoạn an9.11:14.5 chỉ là chữ “Paṭhamaṁ”dấu đánh số bài thứ nhất của phẩm, KHÔNG phải lời kinh. Đã sửa thành 14.1–14.4.

Thứ hai: mục thuật ngữ “aṭṭīyati, harāyati, jigucchati” lúc đầu chỉ kể năm ví dụ đầu; bộ ba ấy CÒN TRỞ LẠI ở ví dụ xác quàng cổ (an9.11:11.1–11.2) với nghĩa NGƯỢC LẠI. Đã ghi bổ sung.

Thứ ba: phần tóm lược lúc đầu viết “NGHE TIN, Tôn giả Mahā Moggallāna và Tôn giả Ānanda cầm chìa khóa…”. Bản Việt của Hoà thượng chỉ ghi “Lúc bấy giờ” (Pāli: “Tena kho pana samayena”), không nói vì nghe tinđó là suy diễn của trang, đã bỏ.

  • “Tôn giả Sāriputta đã cãi lại để minh oan.” Ngài KHÔNG nói một lời nào về sự việc — chỉ trình bày tâm mình qua chín ví dụ.
  • “Tâm như đất nghĩa là chai lì, mặc kệ.” Đất vẫn nhận, vẫn nâng đỡkhông phân biệt, chứ không phải không hay biết. Ngay trước đó Ngài nói rõ mình an trú THÂN NIỆM.
  • “Bộ ba lo âu, xấu hổ, nhàm chán chỉ dùng ở nghĩa phủ định.”ví dụ thứ támtrở lại ở thể KHẲNG ĐỊNHNgài nhàm chán chính THÂN BẤT TỊNH của mình.
  • “Thế Tôn doạ vỡ đầu bảy mảnh để phạt vị Tỷ-kheo.” Câu ấy nói trước khi tai hoạ xảy đến, và để GIỤC Tôn giả THA THỨlà lời cứu, không phải lời phạt.
  • “Việc êm vì Tôn giả nói hay hơn.” Việc êm vì vị Tỷ-kheo TỰ ĐỨNG DẬY PHÁT LỘ TỘI, và Thế Tôn gọi đó là sự tăng trưởng trong giới luật bậc Thánh.
  • Ngành Oanh. Kể ví dụ ĐẤT cho thật dễ: ai quăng gì lên đất, đất cũng không giận.
  • Ngành Thiếu. Học năm ví dụ đầu (đất, nước, lửa, gió, giẻ lau) và câu tha thứ cuối bài.
  • Ngành Thanh và Huynh Trưởng. Đọc khi trong đoàn có hiểu lầm hay lời qua tiếng lại. Bàn: vì sao người bị oan lại XIN người kia tha thứ cho mình?
  • Tôn giả Sāriputta bị tố cáo điều gì?
  • Vì sao hai Tôn giả cầm chìa khóa đi gọi chư Tăng?
  • Kể ba trong chín ví dụ và ý nghĩa.
  • Ví dụ thứ tám khác năm ví dụ đầu ở chỗ nào?
  • Tôn giả đáp thế nào khi Thế Tôn bảo hãy tha thứ?

Nguyên văn Pāli chép từ ấn bản Mahāsaṅgīti — tệp dữ liệu gốc bilara-data của suttacentral.net, từng đoạn có đánh số. Bản tiếng Việt của Hoà thượng Thích Minh Châu; bản tiếng Anh của Tỳ-kheo Sujato. Bài này đã qua một lượt soi lại độc lập. Lượt soi ấy chỉ ra 3 chỗ cần xem lại; chỗ nào là lỗi thật thì chúng tôi đã sửa và ghi rõ ở Phần IV. Muốn đọc trọn bài kinh, xin xem nguyên văn ba thứ tiếng. Thấy chỗ nào khác ấn bản in, xin báo cho chúng tôi.