G.Đ.P.T Huyền Quang Phật Pháp · Tam Tạng Kinh Điển Tăng Chi Bộ · AN 9.7
Chín Điều Bậc Lậu Tận Không Thể Làm

Kinh Du Sĩ Sutavà

Sutavā Sutta — AN 9.7 · Pāli · Việt · Anh

Tam TạngTạng KinhTrung BộKinh Du Sĩ Sutavà

Du sĩ Sutavà thuật lại lời đã nghe: bậc A-la-hán không thể làm NĂM sự. Thế Tôn ấn chứng ông nghe đúng — rồi mở rộng thành CHÍN: thêm bốn lối THIÊN VỊđi đến DỤC, đến SÂN, đến SI, đến SỢ HÃI.

  • Bộ — Tăng Chi Bộ, Chương Chín Pháp, kinh 7
  • Nơi chốnRājagaha, núi Gijjhakūṭa (Linh Thứu)
  • Người hỏidu sĩ Sutavà
  • Đọc kèmAN 6.49 (nói đến mục đích, không đề cập tự ngã)

Kinh này rất ngắn, chỉ có một cuộc đối đáp giữa du sĩ Sutavà và Thế Tôn tại núi Linh Thứu, thành Vương Xá. Du sĩ Sutavà thưa rằng: trước đây, khi Thế Tôn trú ở Ràjagaha tại Giribbaja, ông có nghe chính miệng Thế Tôn dạy rằng một vị Tỷ-kheo A-la-hán — đã tận các lậu hoặc, đã thành tựu viên mãn, việc nên làm đã làm, đã đặt gánh nặng xuống, mục đích đã đạt được, hữu kiết sử đã đoạn tận, chơn chánh giải thoát — thì không thể làm năm sự: cố ý đoạt mạng sống chúng sanh, lấy của không cho, hành dâm dục, biết mà nói láo, và hưởng thọ các dục do đồ cất chứa đem lại như khi còn là gia chủ. Ông hỏi lại Thế Tôn: con có khéo nghe, khéo nắm giữ, khéo tác ý, khéo thọ trì lời dạy ấy chăng? Thế Tôn xác nhận: đúng vậy, ông đã khéo nghe, khéo nắm giữ, khéo tác ý, khéo thọ trì. Rồi Thế Tôn nói thêm: xưa kia và cả nay nữa, Ngài vẫn dạy như vậy, nhưng đầy đủ thì không phải năm sự mà là chín sự. Ngoài năm điều trên, vị Tỷ-kheo đã đoạn tận lậu hoặc còn không thể đi đến dục (thiên vị vì thương), không thể đi đến sân (thiên vị vì ghét), không thể đi đến si (thiên vị vì mê mờ), không thể đi đến sợ hãi (thiên vị vì sợ). Bốn điều sau chính là bốn "agati" — bốn con đường thiên lệch làm hỏng sự công bằng. Ý nghĩa cho Huynh Trưởng: bậc đã giải thoát không những giữ trọn giới căn bản, mà tâm còn hết hẳn thiên vị. Khi xử việc trong đoàn, trong đội chúng, bốn thứ thương – ghét – mê – sợ chính là chỗ dễ làm ta mất công bằng nhất. Kinh cũng cho thấy cách học Pháp đúng đắn: nghe kỹ, giữ kỹ, rồi trình lại để bậc thầy ấn chứng, chớ tự mình đoán.

Bố cục bài kinhTheo đúng thứ tự trong kinh văn

  • 1. Duyên khởi — Thế Tôn trú ở Ràjagaha, núi Gijjhakùta. Du sĩ Sutavà đến chào hỏi và ngồi xuống một bên.
  • 2. Sutavà thuật lại lời đã nghe: năm điều bậc lậu tận không thể làm, và hỏi mình nghe có đúng không — Ông nhắc lại lời Thế Tôn dạy tại Giribbaja về vị A-la-hán không thể làm năm sự: sát sanh, lấy của không cho, hành dâm dục, cố ý nói láo, hưởng dục do đồ cất chứa như khi còn là gia chủ.
  • 3. Thế Tôn ấn chứng và mở rộng thành chín điều — Thế Tôn xác nhận ông đã khéo nghe, khéo nắm giữ, khéo tác ý, khéo thọ trì; rồi dạy rằng xưa kia và cả nay nữa Ngài nói vị ấy không thể vi phạm chín sự — thêm bốn điều: đi đến dục, đi đến sân, đi đến si, đi đến sợ hãi. Kết lại bằng lời khẳng định chín sự.

Mỗi đoạn ghi nguyên văn Pāli, rồi bản Việt, rồi bản tiếng Anh. Số bên trái là số đoạn trong kinh, để đối chiếu được.

AN 9.7:1.1
Ekaṁ samayaṁ bhagavā rājagahe viharati gijjhakūṭe pabbate.
Một thời, Thế Tôn trú ở Ràjagaha, tại núi Gijjhakùta.
At one time the Buddha was staying near Rājagaha, on the Vulture's Peak Mountain.
AN 9.7:2.2
Tatra me, bhante, bhagavato sammukhā sutaṁ sammukhā paṭiggahitaṁ:
Tại đây, bạch Thế Tôn, con có nghe từ miệng Thế Tôn, con có chấp nhận từ miệng Thế Tôn:
There I heard and learned this in the presence of the Buddha:
AN 9.7:2.3
'yo so, sutavā, bhikkhu arahaṁ khīṇāsavo vusitavā katakaraṇīyo ohitabhāro anuppattasadattho parikkhīṇabhavasaṁyojano sammadaññāvimutto, abhabbo so pañca ṭhānāni ajjhācarituṁ—
"Này Sutavà, Tỷ-kheo nào là bậc A-la-hán, đã tận các lậu hoặc, đã thành tựu viên mãn, việc nên làm đã làm, đã đặt gánh nặng xuống, mục đích đã đạt được, hữu kiết sử đã đoạn tận, chơn chánh giải thoát; vị ấy không có thể làm năm sự:
'A mendicant who is perfected—with defilements ended, who has completed the spiritual journey, done what had to be done, laid down the burden, achieved their heart's goal, utterly ended the fetter of continued existence, and is rightly freed through enlightenment—can't transgress in five respects.
AN 9.7:2.4
abhabbo khīṇāsavo bhikkhu sañcicca pāṇaṁ jīvitā voropetuṁ, abhabbo khīṇāsavo bhikkhu adinnaṁ theyyasaṅkhātaṁ ādātuṁ, abhabbo khīṇāsavo bhikkhu methunaṁ dhammaṁ paṭisevituṁ, abhabbo khīṇāsavo bhikkhu sampajānamusā bhāsituṁ, abhabbo khīṇāsavo bhikkhu sannidhikārakaṁ kāme paribhuñjituṁ seyyathāpi pubbe agāriyabhūto'ti.
Tỷ-kheo đã đoạn tận các lậu hoặc không có thể có ý đoạt mạng sống của loài hữu tình; Tỷ-kheo đã đoạn tận các lậu hoặc không có thể lấy của không cho được gọi là ăn trộm; Tỷ-kheo đã đoạn tận các lậu hoặc không có thể hành dâm dục; Tỷ-kheo đã đoạn tận các lậu hoặc không có thể biết mà nói láo; Tỷ-kheo đã đoạn tận các lậu hoặc không có thể hưởng thọ các dục do các đồ cất chứa đem lại, như trước còn làm gia chủ".
A mendicant with defilements ended can't deliberately take the life of a living creature, take something with the intention to steal, have sex, tell a deliberate lie, or store up goods for their own enjoyment like they used to as a lay person.'
AN 9.7:2.5
Kacci metaṁ, bhante, bhagavato sussutaṁ suggahitaṁ sumanasikataṁ sūpadhāritan"ti?
Bạch Thế Tôn, như vậy không biết con có khéo nghe, khéo nắm giữ, khéo tác ý, khéo thọ trì lời Thế Tôn dạy hay không?
I trust I properly heard, learned, applied the mind, and remembered that from the Buddha?
AN 9.7:3.1
"Taggha te etaṁ, sutavā, sussutaṁ suggahitaṁ sumanasikataṁ sūpadhāritaṁ.
—Thật vậy, này Sutavà, như vậy Thầy đã khéo nghe, khéo nắm giữ, khéo tác ý, khéo thọ trì.
"Indeed, Sutavā, you properly heard, learned, applied the mind, and remembered that.
AN 9.7:3.4 (phần bốn điều thêm)
abhabbo khīṇāsavo bhikkhu chandāgatiṁ gantuṁ, abhabbo khīṇāsavo bhikkhu dosāgatiṁ gantuṁ, abhabbo khīṇāsavo bhikkhu mohāgatiṁ gantuṁ, abhabbo khīṇāsavo bhikkhu bhayāgatiṁ gantuṁ'.
Tỷ-kheo đã đoạn tận các lậu hoặc không có thể đi đến dục; Tỷ-kheo đã đoạn tận các lậu hoặc không có thể đi đến sân; Tỷ-kheo đã đoạn tận các lậu hoặc không có thể đi đến si; Tỷ-kheo đã đoạn tận các lậu hoặc không có thể đi đến sợ hãi".
And they can't make decisions prejudiced by favoritism, hostility, stupidity, or cowardice.'
AN 9.7:3.6
'yo so bhikkhu arahaṁ khīṇāsavo vusitavā katakaraṇīyo ohitabhāro anuppattasadattho parikkhīṇabhavasaṁyojano sammadaññāvimutto, abhabbo so imāni nava ṭhānāni ajjhācaritun'"ti.
Xưa kia và cả nay nữa, Ta nói như sau: "Tỷ-kheo nào là bậc A-la-hán đã đoạn tận các lậu hoặc, đã thành tựu viên mãn, việc nên làm đã làm, đã đặt gánh nặng xuống, mục đích đã đạt được, hữu kiết sử đã đoạn tận, chơn chánh giải thoát; vị ấy không có thể vi phạm chín sự".
'A mendicant who is perfected—with defilements ended, who has completed the spiritual journey, done what had to be done, laid down the burden, achieved their heart's goal, utterly ended the fetter of continued existence, and is rightly freed through enlightenment—can't transgress in these nine respects.'
Chữ PāliNghĩaGhi chú
khīṇāsavađã đoạn tận các lậu hoặcBản Việt dịch là "đã đoạn tận các lậu hoặc" / "đã tận các lậu hoặc"; bản Anh: with defilements ended.
arahaṁ (arahant)bậc A-la-hán
ohitabhārođã đặt gánh nặng xuống
katakaraṇīyoviệc nên làm đã làm
parikkhīṇabhavasaṁyojanohữu kiết sử đã đoạn tận
sammadaññāvimuttochơn chánh giải thoát
abhabbokhông có thể (làm, vi phạm)
ṭhānasự, điều, trường hợppañca ṭhānāni: năm sự; nava ṭhānāni: chín sự.
chandāgatiđi đến dục (thiên vị vì ưa thích)Sujato: prejudiced by favoritism.
dosāgatiđi đến sân (thiên vị vì ghét)Sujato: hostility.
mohāgatiđi đến si (thiên vị vì mê mờ)Sujato: stupidity.
bhayāgatiđi đến sợ hãi (thiên vị vì sợ)Sujato: cowardice.
sannidhikārakađồ cất chứa
paribbājakadu sĩ
sammukhā sutaṁnghe từ miệng (trước mặt) Thế Tôn

Xin thưa bài kinh này ngắn, nhưng con thấy có HAI điều đáng học — một về nội dung, một về cách học Pháp.

Trước hết là CÁCH HỌC PHÁP, vì nó nằm ngay trong cái khung của bài kinh.

Du sĩ SUTAVÀ đến gặp Thế Tôn và THUẬT LẠI điều mình đã từng nghe chính miệng Ngài dạy — rồi hỏi:

“Bạch Thế Tôn, như vậy KHÔNG BIẾT CON CÓ KHÉO NGHE, khéo nắm giữ, khéo tác ý, khéo thọ trì lời Thế Tôn dạy hay không?”

Xin thưa con thấy cách làm ấy rất đáng học: ông KHÔNG tự tin rằng mình nhớ đúng. Ông TRÌNH LẠI để bậc thầy ẤN CHỨNG.

Và Thế Tôn xác nhận: “Thật vậy, này Sutavà, như vậy Thầy đã KHÉO NGHE, khéo nắm giữ, khéo tác ý, khéo thọ trì.”

Nay xin thưa sang NỘI DUNG.

Điều Sutavà nghe được là: vị Tỷ-kheo A-LA-HÁN — “đã tận các lậu hoặc, đã thành tựu viên mãn, việc nên làm đã làm, đã đặt gánh nặng xuống, mục đích đã đạt được, hữu kiết sử đã đoạn tận, chơn chánh giải thoát” — KHÔNG THỂ làm NĂM sự:

(1) cố ý đoạt mạng sống loài hữu tình; (2) lấy của không cho; (3) hành dâm dục; (4) biết mà nói láo; (5) hưởng thọ các dục do ĐỒ CẤT CHỨA đem lại, như khi còn là gia chủ.

Xin thưa đó đúng là NĂM GIỚI của người xuất gia — bốn giới trọng cộng thêm điều thứ năm về cất chứa.

Rồi Thế Tôn nói thêm — và đây mới là chỗ mở rộng: “Xưa kia và cả NAY NỮA, Ta nói như sau… vị ấy không có thể vi phạm CHÍN SỰ.”

Bốn điều thêm vào là: không thể ĐI ĐẾN DỤC, đi đến SÂN, đi đến SI, đi đến SỢ HÃI.

Xin thưa bốn chữ ấy trong Pāli là CHANDĀGATI, DOSĀGATI, MOHĀGATI, BHAYĀGATIbốn AGATI, tức BỐN CON ĐƯỜNG THIÊN LỆCH.

Nghĩa cụ thể: thiên vị vì THƯƠNG, thiên vị vì GHÉT, thiên vị vì MÊ MỜ (không hiểu việc), và thiên vị vì SỢ.

Xin thưa chỗ mở rộng này con thấy rất đáng ngẫm, và xin nói cho rõ.

Năm điều đầu là KHÔNG PHẠM GIỚI — chuyện thân và khẩu, ai cũng thấy được.

Bốn điều sau là KHÔNG THIÊN VỊ — chuyện xử sự với người, và khó thấy hơn nhiều.

Nghĩa là: bậc đã giải thoát KHÔNG NHỮNG giữ trọn giới căn bản, mà TÂM CÒN HẾT HẲN THIÊN VỊ.

Xin thưa lời cuối cho anh chị em, và con nghĩ bốn điều sau nói rất đúng vào việc của người Huynh Trưởng.

Khi xử việc trong đoàn, trong đội chúng — bốn thứ THƯƠNG – GHÉT – MÊ – SỢ chính là chỗ dễ làm ta MẤT CÔNG BẰNG nhất.

Thương em này hơn nên xử nhẹ; ghét em kia nên xử nặng; không nắm rõ việc mà cứ xử; hoặc ngại người có thế nên không dám nóiđủ cả bốn.

Và xin nhớ cả điều thứ hai đáng học: cách Sutavà TRÌNH LẠI để được ẤN CHỨNGnghe kỹ, giữ kỹ, rồi hỏi lại, CHỚ TỰ MÌNH ĐOÁN.

Xin thưa một ghi nhận về bản văn, chúng con đã tự tải lại cả hai nguồn và đọc tận nơi.

Ở câu mở đầu lời Thế Tôn, bản Việt đăng trên nguồn in “vị ấy không có thể làm NĂM sự” rồi liệt kê ĐỦ CHÍN điều; bản Pāli (an9.7:3.3) ghi “abhabbo so NAVA ṭhānāni” — tức CHÍN sự — và bản Anh cũng là “nine”.

Đây là lỗi của bản đánh máy điện tử, không phải lỗi dịch của Hoà thượng và cũng không phải chỗ tra thiếu. Trang này KHÔNG sửa chữ nào của bản Việt; xin thưa để anh chị em khỏi thắc mắc khi mở bản Việt ra đối chiếu — con số đúng theo kinh văn là CHÍN.

  • “Bậc A-la-hán chỉ khác người thường ở chỗ giữ giới.” Kinh thêm BỐN điều nữa: không thiên vị vì THƯƠNG, GHÉT, MÊ, SỢ — chuyện xử sự với người, khó thấy hơn nhiều.
  • “Nghe pháp rồi nhớ được là xong.” Du sĩ Sutavà TRÌNH LẠI để được ẤN CHỨNG, không tự tin rằng mình nhớ đúng.
  • “Thiên vị vì si nghĩa là ngu dốt.” Mohāgati ở đây là xử việc khi CHƯA NẮM RÕ — mê mờ về sự việc, nên xử lệch.
  • “Bản Việt nói năm sự thì chắc là năm.” Bản Pāli ghi nava ṭhānāni = CHÍN sự, và chính bản Việt cũng liệt kê đủ chín. Chữ “năm” là lỗi bản đánh máy.
  • Ngành Oanh. Chỉ một ý từ bốn điều sau: thương ai hơn cũng đừng xử lệch cho bạn ấy.
  • Ngành Thiếu. Học bốn lối thiên vị: thương – ghét – mê – sợ, rồi hỏi: em hay lệch vì cái nào?
  • Ngành Thanh và Huynh Trưởng. Đọc trước mỗi lần xử việc trong đoàn. Và học cách Sutavà trình lại để được ấn chứng.
  • Du sĩ Sutavà đến hỏi điều gì?
  • Năm điều đầu là những điều nào?
  • Bốn điều Thế Tôn thêm vào là gì?
  • Bốn lối thiên vị (agati) nghĩa là gì?
  • Cách học Pháp của Sutavà đáng học ở chỗ nào?

Nguyên văn Pāli chép từ ấn bản Mahāsaṅgīti — tệp dữ liệu gốc bilara-data của suttacentral.net, từng đoạn có đánh số. Bản tiếng Việt của Hoà thượng Thích Minh Châu; bản tiếng Anh của Tỳ-kheo Sujato. Bài này đã qua một lượt soi lại độc lập. Lượt soi ấy chỉ ra 1 chỗ cần xem lại; chỗ nào là lỗi thật thì chúng tôi đã sửa và ghi rõ ở Phần IV. Muốn đọc trọn bài kinh, xin xem nguyên văn ba thứ tiếng. Thấy chỗ nào khác ấn bản in, xin báo cho chúng tôi.