G.Đ.P.T Huyền Quang Phật Pháp · Tam Tạng Kinh Điển Tăng Chi Bộ · AN 9.6
Một Thước Đo Duy Nhất · Thiện Tăng Hay Thiện Giảm

Kinh Cần Phải Thân Cận

Sevanā Sutta — AN 9.6 · Pāli · Việt · Anh

Tam TạngTạng KinhTrung BộKinh Cần Phải Thân Cận

Tôn giả Xá-lợi-phất dạy cách CHỌN: chọn người mà thân cận, chọn vật mà dùng, chọn nơi mà đến. Và thước đo chỉ có MỘT: các pháp thiện tăng hay giảm. Không xét sang hèn, đẹp xấu, tiện nghi.

  • Bộ — Tăng Chi Bộ, Chương Chín Pháp, Phẩm Chánh Giác (Sambodhivagga), kinh 6
  • Người nóiTôn giả Sāriputta (Xá-lợi-phất), giảng cho các Tỷ-kheo
  • Nơi chốnbị lược trong bản Pāli bằng dấu …pe…, nên kinh không nêu rõ
  • Đọc kèmAN 6.21 (ác bạn hữu là pháp thối đọa) và SN 45.2 (thiện hữu tri thức)

Đây là bài giảng của Tôn giả Xá-lợi-phất về nguyên tắc chọn lựa: chọn người mà thân cận, chọn vật mà dùng, chọn nơi mà đến. Ngài nêu sáu điều cần được "tìm hiểu trên hai phương diện" — nên hay không nên: con người, y áo, đồ ăn khất thực, sàng tọa (chỗ nằm ngồi), làng và thị trấn, quốc độ. Thước đo duy nhất mà Ngài đưa ra rất giản dị và rõ ràng: khi ta thân cận người đó, dùng vật đó, đến nơi đó, thì các pháp bất thiện tăng trưởng hay giảm thiểu, các pháp thiện đoạn giảm hay tăng trưởng. Nếu bất thiện tăng, thiện giảm thì không nên; nếu bất thiện giảm, thiện tăng thì nên. Không xét theo sang hèn, đẹp xấu, tiện nghi hay khó nhọc. Riêng với con người, Ngài phân thành bốn trường hợp bằng cách phối hợp hai yếu tố: (1) thiện–bất thiện tăng hay giảm, và (2) các vật dụng cần thiết cho đời sống xuất gia (y áo, đồ ăn khất thực, sàng tọa, dược phẩm) có được dễ hay khó. Điều đáng chú ý là yếu tố tinh thần luôn quyết định, còn yếu tố vật chất chỉ quyết định cách rời đi nhanh hay chậm. Người làm ta thoái thất mà lại khó sống thì "bất luận đêm hay ngày, không hỏi gì, cần phải bỏ đi"; người làm ta thoái thất nhưng sống dễ dàng thì "sau khi tính toán, không hỏi gì, cần phải bỏ đi". Ngược lại, người giúp ta tiến tu dù sống thiếu thốn thì "sau khi tính toán, cần phải theo người ấy"; còn người vừa giúp ta tiến tu vừa dễ sống thì "cần phải theo cho đến trọn đời, không được bỏ đi, dầu có bị từ chối". Với năm điều còn lại (y áo, đồ ăn, sàng tọa, làng thị trấn, quốc độ), Ngài lặp lại cùng một khuôn thước hai vế. Bài kinh vì vậy rất thiết thực cho Huynh trưởng và đoàn sinh: môi trường, bạn bè và vật dụng chung quanh đều âm thầm nuôi lớn hoặc làm mòn tâm thiện, nên phải biết tự xét mà chọn.

Bố cục bài kinhTheo đúng thứ tự trong kinh văn

  • 1. Tôn giả Xá-lợi-phất gọi các Tỷ-kheo — Đoạn mở đầu ngắn: Tôn giả Sāriputta gọi các Tỷ-kheo, các vị vâng đáp, rồi Ngài nói (an9.6:1.1).
  • 2. Nêu tổng quát sáu điều cần tìm hiểu trên hai phương diện — Con người, y áo, đồ ăn khất thực, sàng tọa, làng và thị trấn, quốc độ — mỗi thứ đều có loại nên và loại không nên (an9.6:2.1–2.12).
  • 3. Giải rộng về con người — bốn trường hợp — Phối hợp hai yếu tố (thiện/bất thiện tăng giảm; vật dụng khó hay không khó có được) thành bốn trường hợp, với bốn cách xử sự: bỏ đi ngay bất luận đêm ngày; sau khi tính toán thì bỏ đi; sau khi tính toán thì theo; và theo cho đến trọn đời dầu có bị từ chối (an9.6:3.1–6.7).
  • 4. Giải rộng về y áo — Y nào khiến bất thiện tăng, thiện giảm thì không nên sử dụng; y nào khiến bất thiện giảm, thiện tăng thì nên sử dụng (an9.6:7.1–7.10).
  • 5. Giải rộng về đồ ăn khất thực — Cùng khuôn thước hai vế áp dụng cho đồ ăn khất thực (an9.6:8.1–8.10).
  • 6. Giải rộng về sàng tọa — Cùng khuôn thước hai vế áp dụng cho sàng tọa (chỗ nằm ngồi) (an9.6:9.1–9.10).
  • 7. Giải rộng về làng và thị trấn — Cùng khuôn thước hai vế áp dụng cho làng, thị trấn: nên tìm đến hay không nên tìm đến (an9.6:10.1–10.10).
  • 8. Giải rộng về quốc độ và kết kinh — Cùng khuôn thước hai vế áp dụng cho quốc độ, rồi kết lại: "do duyên này được nói đến" (an9.6:11.1–11.11).

Mỗi đoạn ghi nguyên văn Pāli, rồi bản Việt, rồi bản tiếng Anh. Số bên trái là số đoạn trong kinh, để đối chiếu được.

AN 9.6, đoạn 2 (an9.6:2.1–2.2)
“Puggalopi, āvuso, duvidhena veditabbo—
sevitabbopi asevitabbopi.
Này chư Hiền, con người cần phải được tìm hiểu trên hai phương diện: cần phải thân cận hay không cần phải thân cận.
“Reverends, you should distinguish two two kinds of individual: those you should associate with, and those you shouldn’t associate with.
AN 9.6, đoạn 2 (an9.6:2.3–2.12)
Cīvarampi, āvuso, duvidhena veditabbaṁ—
sevitabbampi asevitabbampi.
Piṇḍapātopi, āvuso, duvidhena veditabbo—
sevitabbopi asevitabbopi.
Senāsanampi, āvuso, duvidhena veditabbaṁ—
sevitabbampi asevitabbampi.
Gāmanigamopi, āvuso, duvidhena veditabbo—
sevitabbopi asevitabbopi.
Janapadapadesopi, āvuso, duvidhena veditabbo—
sevitabbopi asevitabbopi.
Y áo, này chư Hiền, cần phải tìm hiểu trên hai phương diện: cần được sử dụng hay không cần được sử dụng. Ðồ ăn khất thực, này chư Hiền, cần phải được tìm hiểu trên hai phương diện: cần được sử dụng hay không cần được sử dụng. Sàng tọa, này chư Hiền, cần phải được tìm hiểu trên hai phương diện: cần được sử dụng hay không cần được sử dụng. Làng và thị trấn, này chư Hiền, cần phải được tìm hiểu trên hai phương diện: cần được tìm đến hay không cần được tìm đến. Quốc độ, này chư Hiền, cần phải được tìm hiểu trên hai phương diện: cần được tìm đến hay không cần được tìm đến.
You should distinguish two kinds of robes: those you should wear, and those you shouldn’t wear. You should distinguish two kinds of almsfood: that which you should eat, and that which you shouldn’t eat. You should distinguish two kinds of lodging: those you should frequent, and those you shouldn’t frequent. You should distinguish two kinds of village or town: those you should frequent, and those you shouldn’t frequent. You should distinguish two kinds of country: those you should frequent, and those you shouldn’t frequent.
AN 9.6, đoạn 3 (an9.6:3.4–3.7)
Tattha yaṁ jaññā puggalaṁ:
‘imaṁ kho me puggalaṁ sevato akusalā dhammā abhivaḍḍhanti, kusalā dhammā parihāyanti;
ye ca kho me pabbajitena jīvitaparikkhārā samudānetabbā cīvarapiṇḍapātasenāsanagilānapaccayabhesajjaparikkhārā te ca kasirena samudāgacchanti;
yassa camhi atthāya agārasmā anagāriyaṁ pabbajito so ca me sāmaññattho na bhāvanāpāripūriṁ gacchatī’ti, tenāvuso, puggalena so puggalo rattibhāgaṁ vā divasabhāgaṁ vā saṅkhāpi anāpucchā pakkamitabbaṁ nānubandhitabbo.
Ở đây, khi biết được về một người như sau: "Người này, nếu ta thân cận, thời các pháp bất thiện tăng trưởng, các pháp thiện bị đoạn giảm. Các vật dụng cần thiết cho đời sống xuất gia mà ta phải có như y áo, đồ ăn khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh, những vật dụng ấy có được một cách khó khăn. Và vì mục đích gì ta xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Mục đích của Sa-môn hạnh ấy, không đi đến tu tập viên mãn". Ðối với một người như vậy, này chư hiền, bất luận đêm hay ngày, không hỏi gì, cần phải bỏ đi, không được theo người ấy.
Well, should you know of an individual: ‘When I associate with this individual, unskillful qualities grow, and skillful qualities decline. And the necessities of life that a renunciate requires—robes, almsfood, lodgings, and medicines and supplies for the sick—are hard to come by. And the goal of the ascetic life for which I went forth from the lay life to homelessness is not being fully developed.’ In this case you should leave that individual at that very time of the day or night, without asking. You shouldn’t follow them.
AN 9.6, đoạn 3 (an9.6:4.1–4.4)
Tattha yaṁ jaññā puggalaṁ:
‘imaṁ kho me puggalaṁ sevato akusalā dhammā abhivaḍḍhanti, kusalā dhammā parihāyanti;
ye ca kho me pabbajitena jīvitaparikkhārā samudānetabbā cīvarapiṇḍapātasenāsanagilānapaccayabhesajjaparikkhārā te ca appakasirena samudāgacchanti;
yassa camhi atthāya agārasmā anagāriyaṁ pabbajito so ca me sāmaññattho na bhāvanāpāripūriṁ gacchatī’ti, tenāvuso, puggalena so puggalo saṅkhāpi anāpucchā pakkamitabbaṁ nānubandhitabbo.
Ở đây, khi biết được một người như sau: "Người này, nếu ta thân cận, thời các pháp bất thiện tăng trưởng, các pháp thiện bị đoạn giảm. Các vật dụng cần thiết cho đời sống xuất gia mà ta phải có như y áo, đồ ăn khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh, những vật dụng ấy có được một cách không khó khăn. Và vì mục đích gì ta xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Mục đích của Sa-môn hạnh ấy, không đi đến tu tập viên mãn". Ðối với một người như vậy, này chư Hiền, sau khi tính toán, không hỏi gì, cần phải bỏ đi, không được theo người ấy.
Whereas, should you know of an individual: ‘When I associate with this individual, unskillful qualities grow, and skillful qualities decline. But the necessities of life that a renunciate requires—robes, almsfood, lodgings, and medicines and supplies for the sick—are easy to come by. However, the goal of the ascetic life for which I went forth from the lay life to homelessness is not being fully developed.’ In this case you should leave that individual after reflecting, without asking. You shouldn’t follow them.
AN 9.6, đoạn 3 (an9.6:5.1–5.4)
Tattha yaṁ jaññā puggalaṁ:
‘imaṁ kho me puggalaṁ sevato akusalā dhammā parihāyanti, kusalā dhammā abhivaḍḍhanti;
ye ca kho me pabbajitena jīvitaparikkhārā samudānetabbā cīvarapiṇḍapātasenāsanagilānapaccayabhesajjaparikkhārā te ca kasirena samudāgacchanti;
yassa camhi atthāya agārasmā anagāriyaṁ pabbajito so ca me sāmaññattho bhāvanāpāripūriṁ gacchatī’ti, tenāvuso, puggalena so puggalo saṅkhāpi anubandhitabbo na pakkamitabbaṁ.
Ở đây, khi biết được một người như sau: "Người này, nếu ta thân cận, thời các pháp bất thiện giảm thiểu, các pháp thiện tăng trưởng, những vật dụng cần thiết cho đời sống xuất gia mà ta phải có như y áo, đồ ăn khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh, những vật dụng ấy có được một cách khó khăn. Và vì mục đích gì ta xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Mục đích của Sa-môn hạnh ấy, đi đến tu tập viên mãn". Này chư Hiền, đối với một người như vậy, sau khi tính toán, cần phải theo người ấy, không được bỏ đi.
Well, should you know of an individual: ‘When I associate with this individual, unskillful qualities decline, and skillful qualities grow. And the necessities of life that a renunciate requires—robes, almsfood, lodgings, and medicines and supplies for the sick—are hard to come by. But the goal of the ascetic life for which I went forth from the lay life to homelessness is being fully developed.’ In this case you should follow that individual after appraisal. You shouldn’t leave them.
AN 9.6, đoạn 3 (an9.6:6.1–6.4)
Tattha yaṁ jaññā puggalaṁ:
‘imaṁ kho me puggalaṁ sevato akusalā dhammā parihāyanti, kusalā dhammā abhivaḍḍhanti;
ye ca kho me pabbajitena jīvitaparikkhārā samudānetabbā cīvarapiṇḍapātasenāsanagilānapaccayabhesajjaparikkhārā te ca appakasirena samudāgacchanti;
yassa camhi atthāya agārasmā anagāriyaṁ pabbajito so ca me sāmaññattho bhāvanāpāripūriṁ gacchatī’ti, tenāvuso, puggalena so puggalo yāvajīvaṁ anubandhitabbo na pakkamitabbaṁ api panujjamānena.
Ở đây, sau khi biết được một người như sau: "Người này, nếu ta thân cận, thời các pháp bất thiện giảm thiểu, các pháp thiện tăng trưởng, những vật dụng cần thiết cho đời sống xuất gia mà ta phải có như y áo, đồ ăn khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh, những vật dụng ấy có được một cách không khó khăn. Và vì mục đích gì ta xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Mục đích của Sa-môn hạnh ấy, đi đến tu tập viên mãn". Này chư Hiền, đối với một người như vậy, cần phải theo cho đến trọn đời, không được bỏ đi, dầu có bị từ chối.
Whereas, should you know of an individual: ‘When I associate with this individual, unskillful qualities decline, and skillful qualities grow. And the necessities of life that a renunciate requires—robes, almsfood, lodgings, and medicines and supplies for the sick—are easy to come by. And the goal of the ascetic life for which I went forth from the lay life to homelessness is being fully developed.’ In this case you should follow that individual. You shouldn’t leave them, even if they send you away.
AN 9.6, đoạn 5 (an9.6:8.4–8.7)
Tattha yaṁ jaññā piṇḍapātaṁ:
‘imaṁ kho me piṇḍapātaṁ sevato akusalā dhammā abhivaḍḍhanti, kusalā dhammā parihāyantī’ti, evarūpo piṇḍapāto na sevitabbo.
Tattha yaṁ jaññā piṇḍapātaṁ:
‘imaṁ kho me piṇḍapātaṁ sevato akusalā dhammā parihāyanti, kusalā dhammā abhivaḍḍhantī’ti, evarūpo piṇḍapāto sevitabbo.
Ở đây, sau khi biết được về đồ ăn khất thực như sau: "Nếu ta sử dụng đồ ăn khất thực này, các pháp bất thiện tăng trưởng, các pháp thiện đoạn giảm; đồ ăn khất thực như vậy không nên sử dụng". Ở đây, sau khi biết được về đồ ăn khất thực như sau: "Nếu ta sử dụng đồ ăn khất thực này, các pháp bất thiện đoạn giảm, các pháp thiện tăng trưởng; đồ ăn khất thực như vậy nên sử dụng".
Well, should you know of almsfood: ‘When I eat this almsfood, unskillful qualities grow, and skillful qualities decline.’ You should not eat that kind of almsfood. Whereas, should you know of almsfood: ‘When I eat this almsfood, unskillful qualities decline, and skillful qualities grow.’ You should eat that kind of almsfood.
AN 9.6, đoạn 7 (an9.6:10.4–10.7)
Tattha yaṁ jaññā gāmanigamaṁ:
‘imaṁ kho me gāmanigamaṁ sevato akusalā dhammā abhivaḍḍhanti, kusalā dhammā parihāyantī’ti, evarūpo gāmanigamo na sevitabbo.
Tattha yaṁ jaññā gāmanigamaṁ:
‘imaṁ kho me gāmanigamaṁ sevato akusalā dhammā parihāyanti, kusalā dhammā abhivaḍḍhantī’ti, evarūpo gāmanigamo sevitabbo.
Ở đây, sau khi biết được về làng, thị trấn như sau: "Nếu ta tìm đến làng, thị trấn này, các pháp bất thiện tăng trưởng, các pháp thiện đoạn giảm; làng và thị trấn như vậy không nên được tìm đến". Ở đây, sau khi biết được về làng, thị trấn như sau: "Nếu ta tìm đến làng, thị trấn, các pháp bất thiện đoạn giảm, các pháp thiện tăng trưởng; làng, thị trấn như vậy cần được tìm đến".
Well, should you know of a village or town: ‘When I frequent this village or town, unskillful qualities grow, and skillful qualities decline.’ You should not frequent that kind of village or town. Whereas, should you know of a village or town: ‘When I frequent this village or town, unskillful qualities decline, and skillful qualities grow.’ You should frequent that kind of village or town.
Chữ PāliNghĩaGhi chú
sevanāsự thân cận, sự gần gũi, sự sử dụng — tên bài kinh (Sevanāsutta)HT. Thích Minh Châu dịch nhan đề là "Cần Phải Thân Cận".
sevitabba / asevitabbacần được thân cận (sử dụng, tìm đến) / không cần được thân cậnCùng một chữ, tùy đối tượng mà bản Việt dịch là "thân cận" (người), "sử dụng" (y áo, đồ ăn, sàng tọa), "tìm đến" (làng thị trấn, quốc độ).
puggalacon người, cá nhân
duvidhena veditabbacần phải được tìm hiểu trên hai phương diện
kusalā dhammā / akusalā dhammācác pháp thiện / các pháp bất thiện
abhivaḍḍhati / parihāyatităng trưởng / đoạn giảm, thoái giảm
cīvaray áo
piṇḍapātađồ ăn khất thực
senāsanasàng tọa, chỗ nằm ngồi, trú xứ
gāmanigamalàng và thị trấn
janapadapadesaquốc độ, vùng đất, xứ sở
jīvitaparikkhārācác vật dụng cần thiết cho đời sốngGồm y áo, đồ ăn khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh.
gilānapaccayabhesajjaparikkhāradược phẩm trị bệnh (thuốc men dùng khi đau ốm)
sāmaññatthamục đích của Sa-môn hạnh
bhāvanāpāripūritu tập viên mãn, sự tu tập đầy đủ trọn vẹn
agārasmā anagāriyaṁ pabbajitoxuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình
yāvajīvaṁcho đến trọn đời
āvusonày chư Hiền / thưa Hiền giảLối xưng hô giữa các vị đồng phạm hạnh.

Xin thưa bài kinh này là của Tôn giả Xá-lợi-phất, không phải của Thế Tôn — và con nghĩ nó rất giống cách Ngài dạy: gọn, có thứ lớp, đếm được.

Ngài nêu SÁU thứ “cần phải được tìm hiểu trên HAI PHƯƠNG DIỆN” — tức NÊN hay KHÔNG NÊN:

CON NGƯỜI (nên thân cận hay không); Y ÁO, ĐỒ ĂN KHẤT THỰC, SÀNG TỌA (nên dùng hay không); LÀNG VÀ THỊ TRẤN, QUỐC ĐỘ (nên tìm đến hay không).

thước đo thì chỉ có MỘT, lặp lại y hệt sáu lần: “nếu ta thân cận (dùng, tìm đến) cái này, thì các pháp BẤT THIỆN tăng trưởng, các pháp THIỆN đoạn giảm”hay ngược lại.

Xin thưa chỗ đắt nhất của bài kinh nằm ở chỗ KHÔNG có gì. Ngài KHÔNG xét sang hèn, KHÔNG xét đẹp xấu, KHÔNG xét tiện nghi hay khó nhọc, KHÔNG xét người ta nghĩ sao.

Chỉ hỏi một câu: CÁI NÀY LÀM MÌNH TỐT LÊN HAY XẤU ĐI?

Riêng về CON NGƯỜI, Ngài giảng rộng thành BỐN trường hợp, bằng cách ghép hai yếu tố: (1) thiện tăng hay giảm, và (2) các vật dụng cần thiết có được DỄ hay KHÓ.

Người làm mình xấu đi, mà sống lại thiếu thốn: “bất luận ĐÊM hay NGÀY, KHÔNG HỎI GÌ, cần phải bỏ đi.”

Người làm mình xấu đi, nhưng sống dễ dàng: “SAU KHI TÍNH TOÁN, không hỏi gì, cần phải bỏ đi.”

Người làm mình tốt lên, dù sống thiếu thốn: “sau khi tính toán, cần phải THEO người ấy.”

Người làm mình tốt lên và sống cũng dễ: “cần phải theo CHO ĐẾN TRỌN ĐỜI, không được bỏ đi, DẦU CÓ BỊ TỪ CHỐI.”

Xin thưa chỗ này mới hay: hãy để ý yếu tố tinh thần LUÔN quyết định NÊN hay KHÔNG; còn yếu tố vật chất chỉ quyết định ĐI NHANH hay ĐI CHẬM.

Tức là chuyện sống dễ hay khó KHÔNG BAO GIỜ đổi được câu trả lờinó chỉ đổi cái gấp. Người làm mình hư thì đằng nào cũng phải rời; chỗ khác nhau là rời ngay giữa đêm, hay rời sau khi thu xếp.

câu cuối cùng làm con dừng lại lâu nhất: người giúp mình tiến tu thì “theo cho đến trọn đời… DẦU CÓ BỊ TỪ CHỐI.”

Nghĩa là người ấy có thể ĐUỔI MÌNH ĐI — và kinh vẫn bảo ĐỪNG BỎ. Rất ít khi kinh dạy một điều mạnh đến thế.

Xin thưa lời cuối cho anh chị em Huynh Trưởng. Con nghĩ bài này dạy được cho các em NGAY, không cần đổi gì cả — chỉ đổi sáu món cho hợp đời các em.

“y áo, đồ ăn, sàng tọa, làng thị trấn” của các em bây giờbạn chơi, chỗ hay tới, thứ hay xem, việc hay làm lúc rảnh. Cùng một thước đo.

câu hỏi để dạy thì đúng y như kinh: “chơi với bạn này, con thấy mình TỐT LÊN hay XẤU ĐI?”không hỏi bạn ấy giàu hay nghèo, học giỏi hay không.

Xin thưa một chỗ NẶNG về trang, và con phải nói thật rõ.

Ở bản dựng đầu, CÁC Ô TIẾNG ANH của bài này KHÔNG phải nguyên văn bản dịch của Bhikkhu Sujato. Chúng đã bị người tra cứu viết gọn lại.

Cụ thể: đổi “You should not eat” thành “Don’t eat”; cắt mất cụm “at that very time of the day or night” (tương ứng “bất luận đêm hay ngày”bản Việt vẫn giữ); cắt cụm liệt kê bốn vật dụng; cắt vế sau của câu mở đầu; và THÊM chữ “for life” vào một câu mà bản Anh không có.

Chữ yāvajīvaṁ (“cho đến trọn đời”) có trong Pāli và có trong bản Việt, nhưng bản Anh không dịch ra. Thêm chữ vào trong ngoặc kép là gán chữ cho dịch giảdù ý không sai thì cũng không được làm.

Chúng con KHÔNG vá tay từng chỗ, mà DỰNG LẠI toàn bộ ô tiếng Anh và ô Pāli THẲNG TỪ TỆP NGUỒN theo đúng khoảng phân đoạn ghi trong mỗi ô — mười sáu ô được ghi lại.

Và xin thưa thêm một chỗ: ở phân đoạn an9.6:2.1, tệp của Bhikkhu Sujato in là “two two kinds of individual”ĐÓ LÀ LỖI CÓ SẴN TRONG BẢN NGUỒN, không phải lỗi đánh máy của trang. Chúng con giữ nguyên, không sửa lời dịch giả.

  • “Chọn bạn là xét người ta tốt hay xấu.” Kinh không xét người kia — kinh bảo xét MÌNH: khi thân cận người ấy, thiện pháp nơi TA tăng hay giảm.
  • “Sống thiếu thốn thì nên rời đi.” Ngược lại: người làm mình tiến tu thì dù sống thiếu thốn vẫn “cần phải theo”. Vật chất không đổi được câu trả lời.
  • “Kinh dạy tránh xa người xấu cho nhanh.” Kinh phân biệt HAI cách rời: bỏ đi ngay bất luận đêm ngày, và bỏ đi SAU KHI TÍNH TOÁNtùy hoàn cảnh, không phải bỏ bừa.
  • “Bài này chỉ cho người xuất gia.” Sáu món trong kinh là đời sống của vị Tỷ-kheo thời ấy; thước đo thì chung cho mọi ngườibạn chơi, chỗ tới, thứ xem, việc làm lúc rảnh.
  • “Bị người ta từ chối thì thôi.” Kinh nói rõ: người giúp mình tiến tu thì “không được bỏ đi, DẦU CÓ BỊ TỪ CHỐI”.
  • “Đây là lời Phật dạy.” Bài kinh này do Tôn giả XÁ-LỢI-PHẤT giảng cho các Tỷ-kheo — xin ghi cho đúng người nói.
  • Ngành Oanh. Một câu hỏi thôi: “chơi với bạn này, con thấy mình ngoan hơn hay hư hơn?”
  • Ngành Thiếu. Học sáu mónthước đo một vế. Rồi đổi sáu món ấy sang đời các em.
  • Ngành Thanh và Huynh Trưởng. Bàn bốn trường hợp về con người: vì sao yếu tố vật chất chỉ đổi được cái GẤP, không đổi được câu TRẢ LỜI?
  • Ai là người giảng bài kinh này?
  • Sáu điều cần tìm hiểu trên hai phương diện là gì?
  • Thước đo duy nhất mà Tôn giả đưa ra là gì?
  • Bốn trường hợp về con người khác nhau ra sao?
  • Vì sao có người “cần phải theo dầu có bị từ chối”?

Nguyên văn Pāli chép từ ấn bản Mahāsaṅgīti — tệp dữ liệu gốc bilara-data của suttacentral.net, từng đoạn có đánh số. Bản tiếng Việt của Hoà thượng Thích Minh Châu; bản tiếng Anh của Tỳ-kheo Sujato. Bài này đã qua một lượt soi lại độc lập. Lượt soi ấy chỉ ra 7 chỗ cần xem lại; chỗ nào là lỗi thật thì chúng tôi đã sửa và ghi rõ ở Phần IV. Muốn đọc trọn bài kinh, xin xem nguyên văn ba thứ tiếng. Thấy chỗ nào khác ấn bản in, xin báo cho chúng tôi.