Tôn giả Xá-lợi-phất dạy cách CHỌN: chọn người mà thân cận, chọn vật mà dùng, chọn nơi mà đến. Và thước đo chỉ có MỘT: các pháp thiện tăng hay giảm. Không xét sang hèn, đẹp xấu, tiện nghi.
Phần I · Xuất Xứ- Bộ — Tăng Chi Bộ, Chương Chín Pháp, Phẩm Chánh Giác (Sambodhivagga), kinh 6
- Người nói — Tôn giả Sāriputta (Xá-lợi-phất), giảng cho các Tỷ-kheo
- Nơi chốn — bị lược trong bản Pāli bằng dấu …pe…, nên kinh không nêu rõ
- Đọc kèm — AN 6.21 (ác bạn hữu là pháp thối đọa) và SN 45.2 (thiện hữu tri thức)
Đây là bài giảng của Tôn giả Xá-lợi-phất về nguyên tắc chọn lựa: chọn người mà thân cận, chọn vật mà dùng, chọn nơi mà đến. Ngài nêu sáu điều cần được "tìm hiểu trên hai phương diện" — nên hay không nên: con người, y áo, đồ ăn khất thực, sàng tọa (chỗ nằm ngồi), làng và thị trấn, quốc độ. Thước đo duy nhất mà Ngài đưa ra rất giản dị và rõ ràng: khi ta thân cận người đó, dùng vật đó, đến nơi đó, thì các pháp bất thiện tăng trưởng hay giảm thiểu, các pháp thiện đoạn giảm hay tăng trưởng. Nếu bất thiện tăng, thiện giảm thì không nên; nếu bất thiện giảm, thiện tăng thì nên. Không xét theo sang hèn, đẹp xấu, tiện nghi hay khó nhọc. Riêng với con người, Ngài phân thành bốn trường hợp bằng cách phối hợp hai yếu tố: (1) thiện–bất thiện tăng hay giảm, và (2) các vật dụng cần thiết cho đời sống xuất gia (y áo, đồ ăn khất thực, sàng tọa, dược phẩm) có được dễ hay khó. Điều đáng chú ý là yếu tố tinh thần luôn quyết định, còn yếu tố vật chất chỉ quyết định cách rời đi nhanh hay chậm. Người làm ta thoái thất mà lại khó sống thì "bất luận đêm hay ngày, không hỏi gì, cần phải bỏ đi"; người làm ta thoái thất nhưng sống dễ dàng thì "sau khi tính toán, không hỏi gì, cần phải bỏ đi". Ngược lại, người giúp ta tiến tu dù sống thiếu thốn thì "sau khi tính toán, cần phải theo người ấy"; còn người vừa giúp ta tiến tu vừa dễ sống thì "cần phải theo cho đến trọn đời, không được bỏ đi, dầu có bị từ chối". Với năm điều còn lại (y áo, đồ ăn, sàng tọa, làng thị trấn, quốc độ), Ngài lặp lại cùng một khuôn thước hai vế. Bài kinh vì vậy rất thiết thực cho Huynh trưởng và đoàn sinh: môi trường, bạn bè và vật dụng chung quanh đều âm thầm nuôi lớn hoặc làm mòn tâm thiện, nên phải biết tự xét mà chọn.
Bố cục bài kinhTheo đúng thứ tự trong kinh văn
- 1. Tôn giả Xá-lợi-phất gọi các Tỷ-kheo — Đoạn mở đầu ngắn: Tôn giả Sāriputta gọi các Tỷ-kheo, các vị vâng đáp, rồi Ngài nói (an9.6:1.1).
- 2. Nêu tổng quát sáu điều cần tìm hiểu trên hai phương diện — Con người, y áo, đồ ăn khất thực, sàng tọa, làng và thị trấn, quốc độ — mỗi thứ đều có loại nên và loại không nên (an9.6:2.1–2.12).
- 3. Giải rộng về con người — bốn trường hợp — Phối hợp hai yếu tố (thiện/bất thiện tăng giảm; vật dụng khó hay không khó có được) thành bốn trường hợp, với bốn cách xử sự: bỏ đi ngay bất luận đêm ngày; sau khi tính toán thì bỏ đi; sau khi tính toán thì theo; và theo cho đến trọn đời dầu có bị từ chối (an9.6:3.1–6.7).
- 4. Giải rộng về y áo — Y nào khiến bất thiện tăng, thiện giảm thì không nên sử dụng; y nào khiến bất thiện giảm, thiện tăng thì nên sử dụng (an9.6:7.1–7.10).
- 5. Giải rộng về đồ ăn khất thực — Cùng khuôn thước hai vế áp dụng cho đồ ăn khất thực (an9.6:8.1–8.10).
- 6. Giải rộng về sàng tọa — Cùng khuôn thước hai vế áp dụng cho sàng tọa (chỗ nằm ngồi) (an9.6:9.1–9.10).
- 7. Giải rộng về làng và thị trấn — Cùng khuôn thước hai vế áp dụng cho làng, thị trấn: nên tìm đến hay không nên tìm đến (an9.6:10.1–10.10).
- 8. Giải rộng về quốc độ và kết kinh — Cùng khuôn thước hai vế áp dụng cho quốc độ, rồi kết lại: "do duyên này được nói đến" (an9.6:11.1–11.11).
Mỗi đoạn ghi nguyên văn Pāli, rồi bản Việt, rồi bản tiếng Anh. Số bên trái là số đoạn trong kinh, để đối chiếu được.
sevitabbopi asevitabbopi.
sevitabbampi asevitabbampi.
Piṇḍapātopi, āvuso, duvidhena veditabbo—
sevitabbopi asevitabbopi.
Senāsanampi, āvuso, duvidhena veditabbaṁ—
sevitabbampi asevitabbampi.
Gāmanigamopi, āvuso, duvidhena veditabbo—
sevitabbopi asevitabbopi.
Janapadapadesopi, āvuso, duvidhena veditabbo—
sevitabbopi asevitabbopi.
‘imaṁ kho me puggalaṁ sevato akusalā dhammā abhivaḍḍhanti, kusalā dhammā parihāyanti;
ye ca kho me pabbajitena jīvitaparikkhārā samudānetabbā cīvarapiṇḍapātasenāsanagilānapaccayabhesajjaparikkhārā te ca kasirena samudāgacchanti;
yassa camhi atthāya agārasmā anagāriyaṁ pabbajito so ca me sāmaññattho na bhāvanāpāripūriṁ gacchatī’ti, tenāvuso, puggalena so puggalo rattibhāgaṁ vā divasabhāgaṁ vā saṅkhāpi anāpucchā pakkamitabbaṁ nānubandhitabbo.
‘imaṁ kho me puggalaṁ sevato akusalā dhammā abhivaḍḍhanti, kusalā dhammā parihāyanti;
ye ca kho me pabbajitena jīvitaparikkhārā samudānetabbā cīvarapiṇḍapātasenāsanagilānapaccayabhesajjaparikkhārā te ca appakasirena samudāgacchanti;
yassa camhi atthāya agārasmā anagāriyaṁ pabbajito so ca me sāmaññattho na bhāvanāpāripūriṁ gacchatī’ti, tenāvuso, puggalena so puggalo saṅkhāpi anāpucchā pakkamitabbaṁ nānubandhitabbo.
‘imaṁ kho me puggalaṁ sevato akusalā dhammā parihāyanti, kusalā dhammā abhivaḍḍhanti;
ye ca kho me pabbajitena jīvitaparikkhārā samudānetabbā cīvarapiṇḍapātasenāsanagilānapaccayabhesajjaparikkhārā te ca kasirena samudāgacchanti;
yassa camhi atthāya agārasmā anagāriyaṁ pabbajito so ca me sāmaññattho bhāvanāpāripūriṁ gacchatī’ti, tenāvuso, puggalena so puggalo saṅkhāpi anubandhitabbo na pakkamitabbaṁ.
‘imaṁ kho me puggalaṁ sevato akusalā dhammā parihāyanti, kusalā dhammā abhivaḍḍhanti;
ye ca kho me pabbajitena jīvitaparikkhārā samudānetabbā cīvarapiṇḍapātasenāsanagilānapaccayabhesajjaparikkhārā te ca appakasirena samudāgacchanti;
yassa camhi atthāya agārasmā anagāriyaṁ pabbajito so ca me sāmaññattho bhāvanāpāripūriṁ gacchatī’ti, tenāvuso, puggalena so puggalo yāvajīvaṁ anubandhitabbo na pakkamitabbaṁ api panujjamānena.
‘imaṁ kho me piṇḍapātaṁ sevato akusalā dhammā abhivaḍḍhanti, kusalā dhammā parihāyantī’ti, evarūpo piṇḍapāto na sevitabbo.
Tattha yaṁ jaññā piṇḍapātaṁ:
‘imaṁ kho me piṇḍapātaṁ sevato akusalā dhammā parihāyanti, kusalā dhammā abhivaḍḍhantī’ti, evarūpo piṇḍapāto sevitabbo.
‘imaṁ kho me gāmanigamaṁ sevato akusalā dhammā abhivaḍḍhanti, kusalā dhammā parihāyantī’ti, evarūpo gāmanigamo na sevitabbo.
Tattha yaṁ jaññā gāmanigamaṁ:
‘imaṁ kho me gāmanigamaṁ sevato akusalā dhammā parihāyanti, kusalā dhammā abhivaḍḍhantī’ti, evarūpo gāmanigamo sevitabbo.
| Chữ Pāli | Nghĩa | Ghi chú |
|---|---|---|
| sevanā | sự thân cận, sự gần gũi, sự sử dụng — tên bài kinh (Sevanāsutta) | HT. Thích Minh Châu dịch nhan đề là "Cần Phải Thân Cận". |
| sevitabba / asevitabba | cần được thân cận (sử dụng, tìm đến) / không cần được thân cận | Cùng một chữ, tùy đối tượng mà bản Việt dịch là "thân cận" (người), "sử dụng" (y áo, đồ ăn, sàng tọa), "tìm đến" (làng thị trấn, quốc độ). |
| puggala | con người, cá nhân | |
| duvidhena veditabba | cần phải được tìm hiểu trên hai phương diện | |
| kusalā dhammā / akusalā dhammā | các pháp thiện / các pháp bất thiện | |
| abhivaḍḍhati / parihāyati | tăng trưởng / đoạn giảm, thoái giảm | |
| cīvara | y áo | |
| piṇḍapāta | đồ ăn khất thực | |
| senāsana | sàng tọa, chỗ nằm ngồi, trú xứ | |
| gāmanigama | làng và thị trấn | |
| janapadapadesa | quốc độ, vùng đất, xứ sở | |
| jīvitaparikkhārā | các vật dụng cần thiết cho đời sống | Gồm y áo, đồ ăn khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh. |
| gilānapaccayabhesajjaparikkhāra | dược phẩm trị bệnh (thuốc men dùng khi đau ốm) | |
| sāmaññattha | mục đích của Sa-môn hạnh | |
| bhāvanāpāripūri | tu tập viên mãn, sự tu tập đầy đủ trọn vẹn | |
| agārasmā anagāriyaṁ pabbajito | xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình | |
| yāvajīvaṁ | cho đến trọn đời | |
| āvuso | này chư Hiền / thưa Hiền giả | Lối xưng hô giữa các vị đồng phạm hạnh. |
Xin thưa bài kinh này là của Tôn giả Xá-lợi-phất, không phải của Thế Tôn — và con nghĩ nó rất giống cách Ngài dạy: gọn, có thứ lớp, đếm được.
Ngài nêu SÁU thứ “cần phải được tìm hiểu trên HAI PHƯƠNG DIỆN” — tức NÊN hay KHÔNG NÊN:
CON NGƯỜI (nên thân cận hay không); Y ÁO, ĐỒ ĂN KHẤT THỰC, SÀNG TỌA (nên dùng hay không); LÀNG VÀ THỊ TRẤN, QUỐC ĐỘ (nên tìm đến hay không).
Và thước đo thì chỉ có MỘT, lặp lại y hệt sáu lần: “nếu ta thân cận (dùng, tìm đến) cái này, thì các pháp BẤT THIỆN tăng trưởng, các pháp THIỆN đoạn giảm” — hay ngược lại.
Xin thưa chỗ đắt nhất của bài kinh nằm ở chỗ KHÔNG có gì. Ngài KHÔNG xét sang hèn, KHÔNG xét đẹp xấu, KHÔNG xét tiện nghi hay khó nhọc, KHÔNG xét người ta nghĩ sao.
Chỉ hỏi một câu: CÁI NÀY LÀM MÌNH TỐT LÊN HAY XẤU ĐI?
Riêng về CON NGƯỜI, Ngài giảng rộng thành BỐN trường hợp, bằng cách ghép hai yếu tố: (1) thiện tăng hay giảm, và (2) các vật dụng cần thiết có được DỄ hay KHÓ.
Người làm mình xấu đi, mà sống lại thiếu thốn: “bất luận ĐÊM hay NGÀY, KHÔNG HỎI GÌ, cần phải bỏ đi.”
Người làm mình xấu đi, nhưng sống dễ dàng: “SAU KHI TÍNH TOÁN, không hỏi gì, cần phải bỏ đi.”
Người làm mình tốt lên, dù sống thiếu thốn: “sau khi tính toán, cần phải THEO người ấy.”
Người làm mình tốt lên và sống cũng dễ: “cần phải theo CHO ĐẾN TRỌN ĐỜI, không được bỏ đi, DẦU CÓ BỊ TỪ CHỐI.”
Xin thưa chỗ này mới hay: hãy để ý yếu tố tinh thần LUÔN quyết định NÊN hay KHÔNG; còn yếu tố vật chất chỉ quyết định ĐI NHANH hay ĐI CHẬM.
Tức là chuyện sống dễ hay khó KHÔNG BAO GIỜ đổi được câu trả lời — nó chỉ đổi cái gấp. Người làm mình hư thì đằng nào cũng phải rời; chỗ khác nhau là rời ngay giữa đêm, hay rời sau khi thu xếp.
Và câu cuối cùng làm con dừng lại lâu nhất: người giúp mình tiến tu thì “theo cho đến trọn đời… DẦU CÓ BỊ TỪ CHỐI.”
Nghĩa là người ấy có thể ĐUỔI MÌNH ĐI — và kinh vẫn bảo ĐỪNG BỎ. Rất ít khi kinh dạy một điều mạnh đến thế.
Xin thưa lời cuối cho anh chị em Huynh Trưởng. Con nghĩ bài này dạy được cho các em NGAY, không cần đổi gì cả — chỉ đổi sáu món cho hợp đời các em.
Vì “y áo, đồ ăn, sàng tọa, làng thị trấn” của các em bây giờ là bạn chơi, chỗ hay tới, thứ hay xem, việc hay làm lúc rảnh. Cùng một thước đo.
Và câu hỏi để dạy thì đúng y như kinh: “chơi với bạn này, con thấy mình TỐT LÊN hay XẤU ĐI?” — không hỏi bạn ấy giàu hay nghèo, học giỏi hay không.
Xin thưa một chỗ NẶNG về trang, và con phải nói thật rõ.
Ở bản dựng đầu, CÁC Ô TIẾNG ANH của bài này KHÔNG phải nguyên văn bản dịch của Bhikkhu Sujato. Chúng đã bị người tra cứu viết gọn lại.
Cụ thể: đổi “You should not eat” thành “Don’t eat”; cắt mất cụm “at that very time of the day or night” (tương ứng “bất luận đêm hay ngày” mà bản Việt vẫn giữ); cắt cụm liệt kê bốn vật dụng; cắt vế sau của câu mở đầu; và THÊM chữ “for life” vào một câu mà bản Anh không có.
Chữ yāvajīvaṁ (“cho đến trọn đời”) có trong Pāli và có trong bản Việt, nhưng bản Anh không dịch ra. Thêm chữ vào trong ngoặc kép là gán chữ cho dịch giả — dù ý không sai thì cũng không được làm.
Chúng con KHÔNG vá tay từng chỗ, mà DỰNG LẠI toàn bộ ô tiếng Anh và ô Pāli THẲNG TỪ TỆP NGUỒN theo đúng khoảng phân đoạn ghi trong mỗi ô — mười sáu ô được ghi lại.
Và xin thưa thêm một chỗ: ở phân đoạn an9.6:2.1, tệp của Bhikkhu Sujato in là “two two kinds of individual” — ĐÓ LÀ LỖI CÓ SẴN TRONG BẢN NGUỒN, không phải lỗi đánh máy của trang. Chúng con giữ nguyên, không sửa lời dịch giả.
Phần V · Chỗ Thường Hiểu Lầm- “Chọn bạn là xét người ta tốt hay xấu.” Kinh không xét người kia — kinh bảo xét MÌNH: khi thân cận người ấy, thiện pháp nơi TA tăng hay giảm.
- “Sống thiếu thốn thì nên rời đi.” Ngược lại: người làm mình tiến tu thì dù sống thiếu thốn vẫn “cần phải theo”. Vật chất không đổi được câu trả lời.
- “Kinh dạy tránh xa người xấu cho nhanh.” Kinh phân biệt HAI cách rời: bỏ đi ngay bất luận đêm ngày, và bỏ đi SAU KHI TÍNH TOÁN — tùy hoàn cảnh, không phải bỏ bừa.
- “Bài này chỉ cho người xuất gia.” Sáu món trong kinh là đời sống của vị Tỷ-kheo thời ấy; thước đo thì chung cho mọi người — bạn chơi, chỗ tới, thứ xem, việc làm lúc rảnh.
- “Bị người ta từ chối thì thôi.” Kinh nói rõ: người giúp mình tiến tu thì “không được bỏ đi, DẦU CÓ BỊ TỪ CHỐI”.
- “Đây là lời Phật dạy.” Bài kinh này do Tôn giả XÁ-LỢI-PHẤT giảng cho các Tỷ-kheo — xin ghi cho đúng người nói.
- Ngành Oanh. Một câu hỏi thôi: “chơi với bạn này, con thấy mình ngoan hơn hay hư hơn?”
- Ngành Thiếu. Học sáu món và thước đo một vế. Rồi đổi sáu món ấy sang đời các em.
- Ngành Thanh và Huynh Trưởng. Bàn bốn trường hợp về con người: vì sao yếu tố vật chất chỉ đổi được cái GẤP, không đổi được câu TRẢ LỜI?
- Ai là người giảng bài kinh này?
- Sáu điều cần tìm hiểu trên hai phương diện là gì?
- Thước đo duy nhất mà Tôn giả đưa ra là gì?
- Bốn trường hợp về con người khác nhau ra sao?
- Vì sao có người “cần phải theo dầu có bị từ chối”?
Nguyên văn Pāli chép từ ấn bản Mahāsaṅgīti — tệp dữ liệu gốc bilara-data của suttacentral.net, từng đoạn có đánh số. Bản tiếng Việt của Hoà thượng Thích Minh Châu; bản tiếng Anh của Tỳ-kheo Sujato. Bài này đã qua một lượt soi lại độc lập. Lượt soi ấy chỉ ra 7 chỗ cần xem lại; chỗ nào là lỗi thật thì chúng tôi đã sửa và ghi rõ ở Phần IV. Muốn đọc trọn bài kinh, xin xem nguyên văn ba thứ tiếng. Thấy chỗ nào khác ấn bản in, xin báo cho chúng tôi.






