G.Đ.P.T Huyền Quang Phật Pháp · Tam Tạng Kinh Điển Tăng Chi Bộ · AN 9.4
Thế Tôn Đứng Ngoài Cửa Chờ · “Lưng Ta Đã Mỏi”

Kinh Tôn Giả Nandaka

Nandaka Sutta — AN 9.4 · Pāli · Việt · Anh

Tam TạngTạng KinhTrung BộKinh Tôn Giả Nandaka

Tôn giả Nandaka đang giảng pháp. Thế Tôn tới — không bước vào cắt ngang, mà đứng ngoài cửa CHỜ cho buổi giảng chấm dứt. Xong rồi Ngài mới đằng hắng, gõ then cửa, và nói: “LƯNG TA ĐÃ MỎI khi đứng ở ngoài cửa.”

  • Bộ — Tăng Chi Bộ, Chương Chín Pháp, kinh 4
  • Phẩm — Chánh Giác (Sambodhivagga)
  • Nơi chốnSāvatthī, Jetavana, khu vườn ông Cấp Cô Độc, trong hội trường
  • Đọc kèmAN 5.202 (năm lợi ích nghe pháp) và AN 6.51

Kinh mở đầu bằng một hình ảnh rất cảm động: Tôn giả Nandaka đang giảng pháp cho chúng Tỷ-kheo trong hội trường, Thế Tôn đến nhưng không bước vào cắt ngang, mà đứng ngoài cửa chờ cho buổi giảng chấm dứt. Khi bài giảng xong, Ngài đằng hắng và gõ vào then cửa, các Tỷ-kheo mở cửa, Ngài vào ngồi và nói: "Dài thay, này Nandaka là pháp môn này… Lưng Ta đã mỏi khi đứng ở ngoài cửa." Tôn giả Nandaka bối rối thưa rằng nếu biết Thế Tôn đứng ngoài cửa thì đã không nói dài như vậy. Thế Tôn biết tâm trạng bối rối ấy liền khen "Lành thay, lành thay", và xác nhận rằng việc các thiện nam tử vì lòng tin xuất gia ngồi lại với nhau nghe pháp là điều xứng đáng. Ngài nêu quy tắc quen thuộc của chúng hội: khi hội họp chỉ có hai việc cần làm — nói pháp, hay giữ im lặng của bậc Thánh. Phần cốt lõi là bốn chi phần tăng tiến của người tu: lòng tin (saddhā), giới (sīla), nội tâm tịnh chỉ (ajjhattaṁ cetosamādhi), và tăng thượng tuệ pháp quán (adhipaññādhammavipassanā). Có chi trước mà thiếu chi sau thì "không đầy đủ về chi phần ấy", nên phải khởi tâm mong cầu làm cho đầy đủ: "Làm thế nào ta có lòng tin và cả giới nữa?"… cho đến khi đủ cả bốn. Bản Pāli còn thêm thí dụ con vật bốn chân mà một chân yếu kém thì không được đầy đủ. Sau khi Thế Tôn về tinh xá, Tôn giả Nandaka nói với chúng Tỷ-kheo rằng chỉ bằng bốn câu ấy Thế Tôn đã trình bày trọn vẹn Phạm hạnh thanh tịnh, rồi giảng thêm năm lợi ích của việc nghe pháp và đàm luận pháp đúng thời: được bậc Ðạo Sư ái mộ kính trọng, thọ trì được nghĩa và pháp, thâm nhập thấy được nghĩa cú sâu xa, được các vị đồng Phạm hạnh tôn trọng, và khiến bậc hữu học khởi tinh tấn còn bậc A-la-hán an trú hiện tại lạc trú.

Bố cục bài kinhTheo đúng thứ tự trong kinh văn

  • 1. Duyên khởi: Thế Tôn đứng ngoài cửa chờ nghe hết bài giảng — Tại Jetavana, Tôn giả Nandaka thuyết pháp trong hội trường; Thế Tôn đến, đứng ngoài cửa chờ, đằng hắng và gõ then cửa, rồi vào ngồi.
  • 2. Lời Thế Tôn và sự bối rối của Tôn giả Nandaka — Thế Tôn nói bài pháp dài và lưng Ngài đã mỏi; Tôn giả Nandaka bối rối thưa không biết Thế Tôn đứng ngoài cửa.
  • 3. Khen ngợi việc hội họp nói pháp — hai việc cần làm — "Lành thay, lành thay": ngồi lại nghe pháp là xứng đáng cho người vì lòng tin xuất gia; khi hội họp chỉ nên nói pháp hoặc giữ im lặng của bậc Thánh.
  • 4. Bốn chi phần: tín — giới — nội tâm tịnh chỉ — tăng thượng tuệ pháp quán — Thiếu chi nào thì không đầy đủ về chi phần ấy, phải phát nguyện làm cho đầy đủ, tuần tự đủ cả bốn. (Bản Pāli và Anh có thêm thí dụ con vật bốn chân có một chân yếu kém.)
  • 5. Thế Tôn đứng dậy đi vào tinh xá — Thế Tôn thuyết giảng như vậy xong, Thiện Thệ từ chỗ ngồi đứng dậy, bước vào tinh xá.
  • 6. Tôn giả Nandaka giảng tiếp: năm lợi ích của nghe pháp và đàm luận pháp đúng thời — Nhắc lại bốn câu Thế Tôn vừa dạy, rồi nêu năm lợi ích: (1) ái mộ, kính trọng, noi gương bậc Ðạo Sư; (2) thọ trì nghĩa và pháp; (3) thể nhập thấy nghĩa cú thâm sâu; (4) được các vị đồng Phạm hạnh tôn trọng noi gương; (5) hữu học khởi tinh tấn, A-la-hán an trú hiện tại lạc trú.

Mỗi đoạn ghi nguyên văn Pāli, rồi bản Việt, rồi bản tiếng Anh. Số bên trái là số đoạn trong kinh, để đối chiếu được.

AN 9.4:1.2–1.5
Tena kho pana samayena āyasmā nandako upaṭṭhānasālāyaṁ bhikkhū dhammiyā kathāya sandasseti samādapeti samuttejeti sampahaṁseti. Atha kho bhagavā sāyanhasamayaṁ paṭisallānā vuṭṭhito yenupaṭṭhānasālā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bahidvārakoṭṭhake aṭṭhāsi kathāpariyosānaṁ āgamayamāno. Atha kho bhagavā kathāpariyosānaṁ viditvā ukkāsetvā aggaḷaṁ ākoṭesi. Vivariṁsu kho te bhikkhū bhagavato dvāraṁ.
Lúc bấy giờ, Tôn giả Nandaka đang thuyết pháp cho các Tỷ-kheo trong hội trường, thuyết giảng, khích lệ, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ. Rồi Thế Tôn vào buổi chiều từ Thiền tịnh đứng dậy, đi đến hội trường, sau khi đến, đứng ngoài cửa hội trường, chờ đợi cho cuộc thuyết giảng chấm dứt. Biết được bài giảng đã chấm dứt, Thế Tôn đằng hắng và gõ vào then cửa. Các Tỷ-kheo ấy mở cửa cho Thế Tôn.
Now at that time Venerable Nandaka was educating, encouraging, firing up, and inspiring the mendicants in the assembly hall with a Dhamma talk. Then in the late afternoon, the Buddha came out of retreat and went to the assembly hall. He stood outside the door waiting for the talk to end. When he knew the talk had ended he cleared his throat and knocked on the door-panel. The mendicants opened the door for the Buddha,
AN 9.4:2.3–2.4
"dīgho kho tyāyaṁ, nandaka, dhammapariyāyo bhikkhūnaṁ paṭibhāsi. Api me piṭṭhi āgilāyati bahidvārakoṭṭhake ṭhitassa kathāpariyosānaṁ āgamayamānassā"ti.
—Dài thay, này Nandaka là pháp môn này, Thầy đã giảng cho các Tỷ-kheo! Lưng Ta đã mỏi khi đứng ở ngoài cửa, chờ cho buổi thuyết giảng chấm dứt.
"Nandaka, that was a long exposition of the teaching you gave to the mendicants. My back was aching while I stood outside the door waiting for the talk to end."
AN 9.4:4.2–4.5
"sādhu sādhu, nandaka. Etaṁ kho, nandaka, tumhākaṁ patirūpaṁ kulaputtānaṁ saddhāya agārasmā anagāriyaṁ pabbajitānaṁ, yaṁ tumhe dhammiyā kathāya sannisīdeyyātha. Sannipatitānaṁ vo, nandaka, dvayaṁ karaṇīyaṁ—dhammī vā kathā ariyo vā tuṇhībhāvo.
—Lành thay, lành thay, này Nandaka! Thật là xứng đáng cho các thiện nam tử các Thầy vì lòng tin xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, các Thầy ngồi lại với nhau để nghe pháp. Này Nandaka, khi các Thầy hội họp với nhau, này Nandaka, có hai việc cần phải làm: nói pháp hay giữ yên lặng của bậc Thánh.
"Good, good, Nandaka! It's appropriate for gentlemen like you, who have gone forth out of faith from the lay life to homelessness, to sit together for a Dhamma talk. When you're sitting together you should do one of two things: discuss the teachings or keep noble silence.
AN 9.4:4.6–4.10
Saddho ca, nandaka, bhikkhu hoti, no ca sīlavā. Evaṁ so tenaṅgena aparipūro hoti. Tena taṁ aṅgaṁ paripūretabbaṁ: 'kintāhaṁ saddho ca assaṁ sīlavā cā'ti. Yato ca kho, nandaka, bhikkhu saddho ca hoti sīlavā ca, evaṁ so tenaṅgena paripūro hoti.
Này Nandaka, Tỷ-kheo có lòng tin nhưng không có giới, như vậy vị ấy không đầy đủ về chi phần ấy. Do vậy, cần phải làm cho đầy đủ chi phần ấy: "Làm thế nào ta có lòng tin và cả giới nữa?". Và khi nào, này Nandaka, Tỷ-kheo có lòng tin và có giới, như vậy vị ấy đầy đủ về chi phần ấy.
Nandaka, a mendicant is faithful but not ethical. So they're incomplete in that respect, and should fulfill it, thinking, 'How can I become faithful and ethical?' When a mendicant is faithful and ethical, they're complete in that respect.
AN 9.4:6.1–6.5 (bản Việt chỉ có 6.1–6.2; bản in không có thí dụ con vật bốn chân)
Saddho ca, nandaka, bhikkhu hoti sīlavā ca lābhī ca ajjhattaṁ cetosamādhissa, na lābhī adhipaññādhammavipassanāya. Evaṁ so tenaṅgena aparipūro hoti. Seyyathāpi, nandaka, pāṇako catuppādako assa. Tassa eko pādo omako lāmako. Evaṁ so tenaṅgena aparipūro assa.
Và này Nandaka, Tỷ-kheo có lòng tin, có giới, có nội tâm được tịnh chỉ, nhưng không được tăng thượng tuệ pháp quán, như vậy, vị ấy không đầy đủ về chi phần ấy.
A mendicant is faithful, ethical, and gets internal serenity of heart, but they don't get the higher wisdom of discernment of principles. So they're incomplete in that respect. Suppose, Nandaka, there was a four-footed animal that was lame and disabled. It would be incomplete in that respect.
AN 9.4:8.2
"idāni, āvuso, bhagavā catūhi padehi kevalaparipuṇṇaṁ parisuddhaṁ brahmacariyaṁ pakāsetvā uṭṭhāyāsanā vihāraṁ paviṭṭho:
—Này, này chư Hiền, Thế Tôn với bốn câu, sau khi thuyết trình Phạm hạnh hoàn toàn viên mãn thanh tịnh, từ chỗ ngồi đứng dậy, đã đi vào tinh xá.
"Just now, reverends, the Buddha revealed a spiritual practice that's entirely full and pure in four statements, before getting up from his seat and entering his dwelling:
AN 9.4:9.3–9.5
Idhāvuso, bhikkhu bhikkhūnaṁ dhammaṁ deseti ādikalyāṇaṁ majjhekalyāṇaṁ pariyosānakalyāṇaṁ sātthaṁ sabyañjanaṁ, kevalaparipuṇṇaṁ parisuddhaṁ brahmacariyaṁ pakāseti. Yathā yathā, āvuso, bhikkhu bhikkhūnaṁ dhammaṁ deseti … tathā tathā so satthu piyo ca hoti manāpo ca garu ca bhāvanīyo ca. Ayaṁ, āvuso, paṭhamo ānisaṁso kālena dhammassavane kālena dhammasākacchāya.
Ở đây, này chư Hiền, Tỷ-kheo thuyết pháp cho các Tỷ-kheo, sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, có nghĩa có văn, trình bày Phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ trong sạch. Này chư Hiền, nhiều như thế nào, như thế nào, vị Tỷ-kheo thuyết pháp cho các Tỷ-kheo, sơ thiện, trung thiện, hậu thiện… đầy đủ trong sạch, nhiều như vậy, như vậy, vị ấy ái mộ bậc Ðạo Sư, thích ý, kính trọng và noi gương theo. Thưa chư Hiền, đây là lợi ích thứ nhất, do đúng thời nghe pháp, đúng thời đàm luận về pháp.
Firstly, a mendicant teaches Dhamma to the mendicants that's good in the beginning, good in the middle, and good in the end, meaningful and well-phrased. And they reveal a spiritual practice that's entirely full and pure. Whenever they do this, they become liked and approved by the Teacher, respected and admired. This is the first benefit …
AN 9.4:13.2–13.3
tattha ye kho bhikkhū sekhā appattamānasā anuttaraṁ yogakkhemaṁ patthayamānā viharanti, te taṁ dhammaṁ sutvā vīriyaṁ ārabhanti appattassa pattiyā anadhigatassa adhigamāya asacchikatassa sacchikiriyāya. Ye pana tattha bhikkhū arahanto khīṇāsavā vusitavanto katakaraṇīyā ohitabhārā anuppattasadatthā parikkhīṇabhavasaṁyojanā sammadaññāvimuttā, te taṁ dhammaṁ sutvā diṭṭhadhammasukhavihāraṁyeva anuyuttā viharanti.
Ở đây, ở đây các Tỷ-kheo nào là hữu học, tâm chưa thành tựu, đang sống cần cầu sự vô thượng an ổn, khỏi các khổ ách, họ được nghe pháp ấy, khởi lên tinh tấn để chứng đạt được những gì chưa được chứng đạt, để chứng đắc những gì chưa được chứng đắc, để chứng ngộ những gì chưa được chứng ngộ. Còn các Tỷ-kheo nào ở đây là các bậc A-la-hán, các lậu hoặc đã đoạn tận, tu hành thành mãn, các việc nên làm đã làm, đã đặt gánh nặng xuống, đã thành đạt lý tưởng, đã tận trừ hữu kiết sử, chánh trí giải thoát. Những vị ấy sau khi nghe pháp, sống chú tâm vào hiện tại lạc trú.
Whenever they do this, there may be trainee mendicants present, who haven't achieved their heart's desire, but live aspiring to the supreme sanctuary from the yoke. Hearing that teaching, they rouse energy for attaining the unattained, achieving the unachieved, and realizing the unrealized. There may be perfected mendicants present, who have ended the defilements, completed the spiritual journey, done what had to be done, laid down the burden, achieved their heart's goal, utterly ended the fetter of continued existence, and are rightly freed through enlightenment. Hearing that teaching, they simply live happily in this life.
Chữ PāliNghĩaGhi chú
saddhā / saddholòng tinChi phần thứ nhất trong bốn chi phần của kinh này.
sīla / sīlavāgiới; có giớiChi phần thứ hai.
ajjhattaṁ cetosamādhinội tâm tịnh chỉ (tâm định bên trong)Chi phần thứ ba; bản Anh: internal serenity of heart.
adhipaññādhammavipassanātăng thượng tuệ pháp quánChi phần thứ tư; bản Anh: higher wisdom of discernment of principles.
ariyo tuṇhībhāvoyên lặng của bậc ThánhMột trong hai việc cần làm khi chúng hội họp.
dhammī kathānói pháp, đàm luận về pháp
ānisaṁsālợi ích
kālena dhammassavananghe pháp đúng thời
kālena dhammasākacchāđàm luận về pháp đúng thời
upaṭṭhānasālāhội trường (nhà hội họp của chúng Tăng)
sekhahữu họcVị còn phải tu học, tâm chưa thành tựu.
arahant / khīṇāsavaA-la-hán; bậc đã đoạn tận các lậu hoặc
diṭṭhadhammasukhavihārahiện tại lạc trú
kevalaparipuṇṇaṁ parisuddhaṁ brahmacariyaṁPhạm hạnh hoàn toàn viên mãn thanh tịnh

Xin thưa đoạn mở đầu bài kinh này con đọc lần nào cũng cảm động, và con nghĩ nên kể nguyên cảnh ấy cho các em nghe.

Tôn giả Nandaka đang thuyết pháp cho chúng Tỷ-kheo trong hội trường — “thuyết giảng, khích lệ, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ”.

Thế Tôn từ Thiền tịnh đứng dậy, đi tới — và KHÔNG bước vào. Ngài “đứng NGOÀI CỬA hội trường, CHỜ ĐỢI cho cuộc thuyết giảng chấm dứt”.

Xin để ý: đây là ĐỨC PHẬT. Ngài có thể vào bất cứ lúc nào, ai cũng sẽ nhường chỗ. Mà Ngài đứng chờ.

Chỉ khi biết bài giảng đã xong, Ngài mới “đằng hắng và gõ vào then cửa”báo cho người trong biết, chứ không đẩy cửa bước vào.

Rồi Ngài nói một câu rất người: “DÀI THAY, này Nandaka, là pháp môn này, Thầy đã giảng cho các Tỷ-kheo! LƯNG TA ĐÃ MỎI khi đứng ở ngoài cửa, chờ cho buổi thuyết giảng chấm dứt.”

Tôn giả Nandaka bối rối, thưa rằng nếu biết Thế Tôn đứng ngoài cửa thì đã không nói dài như vậy.

Và Thế Tôn — biết chỗ bối rối ấy — KHÔNG trách một lời. Ngài khen: “LÀNH THAY, LÀNH THAY, này Nandaka!”

Rồi Ngài xác nhận: “Thật là XỨNG ĐÁNG cho các thiện nam tử các Thầy vì lòng tin xuất gia… các Thầy NGỒI LẠI VỚI NHAU ĐỂ NGHE PHÁP.”

Xin thưa con thấy cả đoạn ấy là một bài học về CÁCH CƯ XỬ: Ngài chờ để KHÔNG cắt ngang việc pháp của người khác; Ngài nói thật là lưng mỏi chứ không giấu; và khi người kia áy náy thì Ngài khen chứ không trách.

Rồi Ngài nêu quy tắc quen thuộc của chúng hội: khi hội họp chỉ có HAI việc cần làmNÓI PHÁP, hay GIỮ IM LẶNG CỦA BẬC THÁNH.

Phần cốt lõi là BỐN CHI PHẦN tăng tiến: LÒNG TIN (saddhā) → GIỚI (sīla) → NỘI TÂM TỊNH CHỈ (ajjhattaṁ cetosamādhi) → TĂNG THƯỢNG TUỆ PHÁP QUÁN (adhipaññādhammavipassanā).

Và cách Ngài dạy rất khéo: có chi trước mà thiếu chi sau thì “KHÔNG ĐẦY ĐỦ về chi phần ấy” — rồi phải khởi tâm mong cầu: “LÀM THẾ NÀO ta có lòng tin VÀ CẢ GIỚI NỮA?”

Xin để ý Ngài KHÔNG nói “ngươi thiếu” — Ngài đặt sẵn câu hỏi để người ta TỰ HỎI MÌNH.

Sau khi Thế Tôn về tinh xá, Tôn giả Nandaka nói với chúng: chỉ bằng BỐN CÂU ấy, Thế Tôn đã trình bày TRỌN VẸN Phạm hạnh thanh tịnh — rồi giảng tiếp NĂM LỢI ÍCH của việc nghe pháp và đàm luận pháp đúng thời.

Năm lợi ích ấy: được bậc Đạo Sư ái mộ kính trọng; thọ trì được nghĩa và pháp; thâm nhập thấy được nghĩa cú sâu xa; được các vị đồng Phạm hạnh tôn trọng; và khiến BẬC HỮU HỌC khởi tinh tấn, còn BẬC A-LA-HÁN thì an trú hiện tại lạc trú.

Xin thưa điều thứ năm rất đáng ngẫm: một buổi nói pháp có ích cho CẢ HAI hạngngười chưa xong thì được thúc, người đã xong thì được an.

Xin thưa lời cuối cho anh chị em Huynh Trưởng. Con nghĩ đoạn mở đầu đáng kể trong buổi họp Huynh Trưởng hơn là trong giờ Phật Pháp.

chuyện cắt ngang người khác đang nói là chuyện xảy ra hằng tuần trong đoàn — và Đức Phật, người có mọi lý do để bước vào, đã đứng chờ ngoài cửa cho tới khi mỏi lưng.

Xin thưa một ghi nhận về trang, không dám sửa thầm, và xin thưa trước rằng đây KHÔNG phải lỗi của Hoà thượng.

Một ô trích lúc đầu ghi biên số “6.1–6.5” cho cả ba cột; nhưng các đoạn 6.3–6.5 của bản Pāli và bản Anh là THÍ DỤ CON VẬT BỐN CHÂN“ví như một con vật bốn chân bị què một chân, nó khiếm khuyết ở chi phần ấy”.

Chúng con đã TỰ TẢI LẠI bản Minh Châu và dò tận nơi: bản Việt KHÔNG CÓ thí dụ ấy — không có chữ “bốn chân”, cũng không có chữ “con vật”. Ghi chung một biên số cho cả ba cột dễ khiến người đọc tưởng TRANG đã cắt bớt bản Việt, nên chúng con ghi lại biên số cho rõ chỗ chênh nhau. Không sửa một chữ nào của bản dịch.

  • “Thế Tôn trách Tôn giả Nandaka giảng dài.” Ngài nói thật là lưng mỏi, rồi khi vị ấy áy náy thì Ngài KHEN “lành thay, lành thay” chứ không trách.
  • “Ngài đứng ngoài vì không muốn làm phiền chỗ ngồi.” Ngài đứng chờ để KHÔNG CẮT NGANG việc pháp đang diễn ra.
  • “Bốn chi phần là bốn việc riêng.” Chúng xếp theo bậc: có chi trước mà thiếu chi sau thì “không đầy đủ về chi phần ấy”.
  • “Nghe pháp chỉ có ích cho người mới học.” Lợi ích thứ năm nói cả hai: bậc hữu học khởi tinh tấn, bậc A-la-hán an trú hiện tại lạc trú.
  • “Hội họp thì nói chuyện gì cũng được.” Kinh nêu chỉ HAI việc: nói pháp, hay giữ im lặng của bậc Thánh.
  • Ngành Oanh. Kể cảnh mở đầu: Phật đứng ngoài cửa chờ, tới mỏi lưng, chứ không vào cắt ngang.
  • Ngành Thiếu. Học bốn chi phầnhai việc khi hội họp.
  • Ngành Thanh và Huynh Trưởng. Kể trong buổi họp Huynh Trưởng. Bàn: tuần rồi mình có cắt ngang ai đang nói không?
  • Thế Tôn làm gì khi tới hội trường?
  • Ngài nói câu gì khi vào?
  • Khi hội họp có mấy việc cần làm?
  • Bốn chi phần là gì?
  • Lợi ích thứ năm nói về hai hạng người nào?

Nguyên văn Pāli chép từ ấn bản Mahāsaṅgīti — tệp dữ liệu gốc bilara-data của suttacentral.net, từng đoạn có đánh số. Bản tiếng Việt của Hoà thượng Thích Minh Châu; bản tiếng Anh của Tỳ-kheo Sujato. Bài này đã qua một lượt soi lại độc lập. Lượt soi ấy chỉ ra 1 chỗ cần xem lại; chỗ nào là lỗi thật thì chúng tôi đã sửa và ghi rõ ở Phần IV. Muốn đọc trọn bài kinh, xin xem nguyên văn ba thứ tiếng. Thấy chỗ nào khác ấn bản in, xin báo cho chúng tôi.