G.Đ.P.T Huyền Quang Phật Pháp · Tam Tạng Kinh Điển Tăng Chi Bộ · AN 9.3
Rừng Xoài Đẹp · Mà Tâm Chưa Sẵn

Kinh Tôn Giả Meghiya

Meghiya Sutta — AN 9.3 · Pāli · Việt · Anh

Tam TạngTạng KinhTrung BộKinh Tôn Giả Meghiya

Tôn giả Meghiya thấy một rừng xoài đẹp đẽ khả ái, xin đi vào đó tu một mình. Thế Tôn hai lần bảo hãy chờ. Tôn giả xin tới lần thứ ba — và vào rừng thì ba ác bất thiện tầm liền hiện hành. Nhân đó Thế Tôn dạy năm pháp làm tâm chưa thuần thục thành thuần thục, và nói rõ: THIỆN HỮU là gốc.

  • Bộ — Tăng Chi Bộ, Chương Chín Pháp, kinh 3
  • Phẩm — Chánh Giác
  • Nơi chốnCālikā, tại núi Cālikā; rừng xoài bên bờ sông Kimikāḷā
  • Người trong kinhTôn giả Meghiya, khi ấy đang làm thị giả của Thế Tôn

Kinh Meghiya (Tăng Chi Bộ, Chương Chín Pháp, Phẩm Chánh Giác) kể chuyện Tôn giả Meghiya, khi ấy đang làm thị giả của Thế Tôn. Sau buổi khất thực ở làng Jantu, trên đường về Tôn giả đi dọc bờ sông Kimikāḷā, thấy một rừng xoài "đẹp đẽ khả ái" và khởi ý muốn vào đó tu tập. Tôn giả về bạch xin phép, nhưng Thế Tôn bảo hãy chờ đến khi có một Tỷ-kheo khác đến, vì lúc đó chỉ có một mình. Meghiya xin đến lần thứ hai, lần thứ ba; đến lần thứ ba Thế Tôn nói: khi Thầy đã nói tinh cần thì còn nói gì được nữa, hãy làm điều Thầy nghĩ là hợp thời. Vào rừng xoài ngồi dưới gốc cây, Tôn giả Meghiya lại bị ba ác bất thiện tầm hiện hành: dục tầm, sân tầm, hại tầm. Tôn giả kinh ngạc vì mình đã vì lòng tin mà xuất gia, sao vẫn bị các tầm ấy xâm nhập, nên trở về bạch Thế Tôn. Nhân đó Thế Tôn dạy: với tâm giải thoát chưa thuần thục, có năm pháp đưa đến thuần thục — (1) làm bạn với thiện, thân hữu với thiện, giao thiệp với thiện; (2) có giới, sống được bảo vệ bởi giới bổn Pātimokkha, thấy sợ hãi trong những lỗi nhỏ nhặt; (3) được nghe những câu chuyện hướng thượng, mở rộng tâm: luận về ít dục, biết đủ, viễn ly, không tụ hội, tinh tấn, giới, định, tuệ, giải thoát, giải thoát tri kiến; (4) sống tinh cần tinh tấn, không từ bỏ gánh nặng trong thiện pháp; (5) có trí tuệ về sanh và diệt, đưa đến đoạn tận khổ đau. Điểm then chốt: Thế Tôn dạy rằng nơi vị Tỷ-kheo làm bạn với thiện thì bốn pháp còn lại được chờ đợi sẽ đầy đủ — nghĩa là thiện hữu là gốc. Sau khi an trú trong năm pháp ấy, còn phải tu thêm bốn pháp: tưởng bất tịnh để đoạn tham, từ bi để đoạn sân, niệm hơi thở vô ra để cắt đứt tầm, tưởng vô thường để phá ngã mạn; có tưởng vô thường thì tưởng vô ngã tồn tại, và ngay trong hiện tại đạt Niết-bàn. Bài kinh rất hợp để dạy đoàn sinh về giá trị của thiện hữu tri thức và của việc tu tập có thứ lớp, không nóng vội tách riêng một mình.

Bố cục bài kinhTheo đúng thứ tự trong kinh văn

  • 1. Duyên khởi: Meghiya xin đi khất thực — Thế Tôn trú ở Cālikā, núi Cālikā; Tôn giả Meghiya là thị giả, xin vào làng Jantu khất thực và được chấp thuận (đoạn 1).
  • 2. Thấy rừng xoài khả ái — Trên đường khất thực trở về, đi bên bờ sông Kimikāḷā, Tôn giả thấy rừng xoài đẹp đẽ khả ái và khởi ý muốn đến đó tinh cần (đoạn 2).
  • 3. Ba lần xin phép, Thế Tôn hai lần bảo chờ — Meghiya bạch xin đi; hai lần đầu Thế Tôn bảo hãy chờ cho đến khi có một Tỷ-kheo khác đến, vì chỉ có một mình; lần thứ ba Thế Tôn để tuỳ ý (đoạn 3–6).
  • 4. Ba ác bất thiện tầm hiện hành trong rừng xoài — Ngồi dưới gốc cây trong rừng xoài, Tôn giả bị dục tầm, sân tầm, hại tầm xâm nhập, và lấy làm kinh ngạc (đoạn 7).
  • 5. Trở về bạch Thế Tôn — Tôn giả trở về, thuật lại sự việc (đoạn 8–9).
  • 6. Năm pháp đưa tâm giải thoát chưa thuần thục đến thuần thục — Thiện hữu; giới và Pātimokkha; được nghe những câu chuyện hướng thượng (ít dục, biết đủ, viễn ly, không tụ hội, tinh tấn, giới, định, tuệ, giải thoát, giải thoát tri kiến); tinh cần tinh tấn; trí tuệ về sanh diệt (đoạn 10–14).
  • 7. Thiện hữu là gốc — bốn điều kia được chờ đợi — Với vị Tỷ-kheo làm bạn với thiện, thân hữu với thiện, giao thiệp với thiện, thì bốn pháp còn lại được chờ đợi sẽ có (đoạn 15–18).
  • 8. Bốn pháp cần tu tập thêm — Tưởng bất tịnh đoạn tham, từ bi đoạn sân, niệm hơi thở vô ra cắt đứt tầm, tưởng vô thường phá ngã mạn; có tưởng vô thường thì tưởng vô ngã tồn tại, đạt Niết-bàn ngay hiện tại (đoạn 19).

Mỗi đoạn ghi nguyên văn Pāli, rồi bản Việt, rồi bản tiếng Anh. Số bên trái là số đoạn trong kinh, để đối chiếu được.

AN 9.3:1.1
Ekaṁ samayaṁ bhagavā cālikāyaṁ viharati cālikāpabbate. Tena kho pana samayena āyasmā meghiyo bhagavato upaṭṭhāko hoti.
Một thời, Thế Tôn trú ở Càlikà, tại núi Càlikà. Lúc bấy giờ, Tôn giả Meghiya là người thị giả Thế Tôn.
At one time the Buddha was staying near Cālikā, on the Cālikā mountain. Now, at that time Venerable Meghiya was the Buddha’s attendant.
AN 9.3:2.5–2.6
“pāsādikaṁ vatidaṁ ambavanaṁ ramaṇīyaṁ, alaṁ vatidaṁ kulaputtassa padhānatthikassa padhānāya. Sace maṁ bhagavā anujāneyya, āgaccheyyāhaṁ imaṁ ambavanaṁ padhānāyā”ti.
“Rừng xoài này thật là đẹp đẽ khả ái. Vậy thật là vừa đủ để cho thiện nam tử ưa thích tinh cần để tinh cần, và nếu Thế Tôn chấp thuận, ta sẽ đi đến rừng xoài này để tinh cần”.
“Oh, this mango grove is lovely and delightful! This is good enough for striving for a gentleman wanting to strive. If the Buddha allows me, I’ll come back to this mango grove to meditate.”
AN 9.3:4.9
“Āgamehi tāva, meghiya. Ekakamhi tāva yāva aññopi koci bhikkhu āgacchatī”ti.
—Hãy chờ đợi này Meghiya cho đến khi một Tỷ-kheo khác có mặt, vì chúng ta chỉ có một mình.
“We’re alone, Meghiya. Wait until another mendicant comes.”
AN 9.3:7.2–7.3
Atha kho āyasmato meghiyassa tasmiṁ ambavane viharantassa yebhuyyena tayo pāpakā akusalā vitakkā samudācaranti, seyyathidaṁ—kāmavitakko, byāpādavitakko, vihiṁsāvitakko.
Trong khi Tôn giả Meghiya trú trong rừng ấy, phần lớn ba ác bất thiện tầm hiện hành, tức là dục tầm, sân tầm và hại tầm.
But while Meghiya was meditating in that mango grove he was beset mostly by three kinds of bad, unskillful thoughts, namely, sensual, malicious, and cruel thoughts.
AN 9.3:10.1–10.4
“Aparipakkāya, meghiya, cetovimuttiyā pañca dhammā paripakkāya saṁvattanti. Katame pañca? Idha, meghiya, bhikkhu kalyāṇamitto hoti kalyāṇasahāyo kalyāṇasampavaṅko. Aparipakkāya, meghiya, cetovimuttiyā ayaṁ paṭhamo dhammo paripakkāya saṁvattati.
—Này Meghiya, với tâm giải thoát chưa được thuần thục, năm pháp đưa đến thuần thục. Thế nào là năm? Ở đây, này Meghiya, Tỷ-kheo làm bạn với thiện, thân hữu với thiện, giao thiệp với thiện. Này Meghiya, với tâm giải thoát chưa được thuần thục, đây là pháp thứ nhất đưa đến thuần thục.
“Meghiya, when the heart’s release is not ripe, five things help it ripen. What five? Firstly, a mendicant has good friends, companions, and associates. This is the first thing …
AN 9.3:12.1
Puna caparaṁ, meghiya, yāyaṁ kathā abhisallekhikā cetovivaraṇasappāyā, seyyathidaṁ—appicchakathā santuṭṭhikathā pavivekakathā asaṁsaggakathā vīriyārambhakathā sīlakathā samādhikathā paññākathā vimuttikathā vimuttiñāṇadassanakathā, evarūpiyā kathāya nikāmalābhī hoti akicchalābhī akasiralābhī.
Lại nữa, này Meghiya, câu chuyện này có khả năng đoạn giảm (hướng thượng) đưa đến tâm được rộng mở, như luận về ít dục, luận về biết đủ, luận về viễn ly, luận về không tụ hội, luận về tinh tấn tinh cần, luận về giới, luận về định, luận về tuệ, luận về giải thoát, luận về giải thoát tri kiến. Những câu chuyện như vậy có được không khó khăn, có được không mệt nhọc, có được không phí sức.
Furthermore, a mendicant gets to take part in talk about self-effacement that helps open the heart, when they want, without trouble or difficulty. That is, talk about fewness of wishes, contentment, seclusion, aloofness, arousing energy, ethics, immersion, wisdom, freedom, and the knowledge and vision of freedom.
AN 9.3:19.1–19.2
Tena ca pana, meghiya, bhikkhunā imesu pañcasu dhammesu patiṭṭhāya cattāro dhammā uttari bhāvetabbā—asubhā bhāvetabbā rāgassa pahānāya, mettā bhāvetabbā byāpādassa pahānāya, ānāpānassati bhāvetabbā vitakkupacchedāya, aniccasaññā bhāvetabbā asmimānasamugghātāya.
Và này Meghiya, khi Tỷ-kheo ấy đến trú trong năm pháp này, bốn pháp nữa cần phải tu tập: tu tập tưởng bất tịnh để đoạn tận tham ái, tu tập từ bi để đoạn tận sân, tu tập niệm hơi thở vô hơi thở ra để cắt đứt tầm, tu tập tưởng vô thường để phá hoại ngã mạn.
But then, a mendicant grounded on these five things should develop four further things. They should develop the perception of ugliness to give up greed, love to give up hate, mindfulness of breathing to cut off thinking, and perception of impermanence to uproot the conceit ‘I am’.
AN 9.3:19.3–19.4
Aniccasaññino, meghiya, anattasaññā saṇṭhāti. Anattasaññī asmimānasamugghātaṁ pāpuṇāti diṭṭheva dhamme nibbānan”ti.
Này Meghiya, với Tỷ-kheo có tưởng vô thưởng, tưởng vô ngã được tồn tại. Có tưởng vô ngã, thời ngã mạn bị phá hoại, ngay trong hiện tại đạt được Niết-bàn.
When you perceive impermanence, the perception of not-self becomes stabilized. Perceiving not-self, you uproot the conceit ‘I am’ and attain extinguishment in this very life.”
Chữ PāliNghĩaGhi chú
kalyāṇamittathiện hữu; bạn lành — bản Minh Châu dịch "làm bạn với thiện"Đi liền với kalyāṇasahāya (thân hữu với thiện) và kalyāṇasampavaṅka (giao thiệp với thiện).
cetovimuttitâm giải thoátỞ đây nói cetovimutti aparipakkā: tâm giải thoát chưa thuần thục.
vitakkatầm; ý nghĩ khởi lên
kāmavitakka / byāpādavitakka / vihiṁsāvitakkadục tầm / sân tầm / hại tầm
pātimokkhasaṁvarasự bảo vệ của giới bổn Pātimokkha
padhānatinh cần; sự nỗ lực tu tập
asubhātưởng bất tịnh — tu để đoạn tận tham ái (rāga)
mettātừ — bản Minh Châu dịch "từ bi", tu để đoạn tận sân (byāpāda)
ānāpānassatiniệm hơi thở vô hơi thở ra — tu để cắt đứt tầm
aniccasaññā / anattasaññātưởng vô thường / tưởng vô ngã
asmimānangã mạn ("tôi là")
nibbānaNiết-bàndiṭṭheva dhamme nibbāna: ngay trong hiện tại đạt được Niết-bàn.

Xin thưa bài kinh này kể một câu chuyện, và con nghĩ câu chuyện ấy rất người, rất dễ thương.

Tôn giả MEGHIYA lúc ấy đang làm THỊ GIẢ của Thế Tôn — tức người hầu cận, lo việc cho Phật.

Khất thực ở làng Jantu về, đi dọc bờ sông Kimikāḷā, Tôn giả thấy một rừng xoài và khởi ý: “Rừng xoài này thật là đẹp đẽ khả ái. Vậy thật là vừa đủ để cho thiện nam tử ưa thích tinh cần để tinh cần.”

Xin thưa cái ý ấy rất trong sáng, không có gì đáng chê cả. Thấy cảnh đẹp, muốn vào tu — đó là ý lành.

Nhưng Thế Tôn đáp: “Hãy chờ đợi, này Meghiya, cho đến khi một Tỷ-kheo khác có mặt, VÌ CHÚNG TA CHỈ CÓ MỘT MÌNH.”

Tôn giả xin lần thứ hai; Thế Tôn cũng đáp như vậy. Tới lần thứ ba, Thế Tôn nói: khi Thầy đã nói tinh cần thì còn nói gì được nữa — hãy làm điều Thầy nghĩ là hợp thời.

Xin thưa con thấy chỗ này rất đáng ngẫm, và xin nói cho cẩn thận. Thế Tôn KHÔNG cấm. Ngài bảo CHỜ. Rồi khi người ta cứ xin thì Ngài để cho đi.

Vào rừng xoài, ngồi dưới gốc cây — và kinh chép rất thẳng: “phần lớn BA ÁC BẤT THIỆN TẦM hiện hành, tức là DỤC TẦM, SÂN TẦM và HẠI TẦM.”

Xin thưa cái kinh ngạc của Tôn giả rất thật: mình vì lòng tin mà xuất gia, vào chỗ vắng đẹp như vậy, sao lại thế này?

Và Tôn giả làm một việc rất đúng: TRỞ VỀ BẠCH LẠI THẾ TÔN. Không giấu, không tự xoay xở một mình.

Nhân đó Thế Tôn dạy: “với tâm giải thoát CHƯA ĐƯỢC THUẦN THỤC, NĂM PHÁP đưa đến thuần thục”.

(1) LÀM BẠN VỚI THIỆN, thân hữu với thiện, giao thiệp với thiện (kalyāṇamitta).

(2) CÓ GIỚI, sống được bảo vệ bởi giới bổn Pātimokkha, thấy SỢ HÃI trong những lỗi NHỎ NHẶT.

(3) Được nghe NHỮNG CÂU CHUYỆN HƯỚNG THƯỢNG, làm tâm rộng mở: luận về ít dục, biết đủ, viễn ly, không tụ hội, tinh tấn, giới, định, tuệ, giải thoát, giải thoát tri kiến.

(4) SỐNG TINH CẦN TINH TẤN, không từ bỏ gánh nặng trong thiện pháp.

(5) CÓ TRÍ TUỆ về SANH và DIỆT, đưa đến đoạn tận khổ đau.

Và đây là chỗ then chốt nhất của bài kinh, xin bác để ý cho kỹ. Thế Tôn dạy: nơi vị Tỷ-kheo LÀM BẠN VỚI THIỆN, thì BỐN PHÁP CÒN LẠI ĐƯỢC CHỜ ĐỢI sẽ đầy đủ.

Nghĩa là: THIỆN HỮU LÀ GỐC. Có bạn lành thì giới tự nhiên giữ được, chuyện hướng thượng tự nhiên được nghe, tinh tấn tự nhiên có, trí tuệ tự nhiên tới.

Xin thưa con nghĩ chính vì lẽ đó mà Thế Tôn hai lần bảo Tôn giả HÃY CHỜ. Rừng xoài thì đẹp thật, nhưng vào đó MỘT MÌNH khi tâm chưa thuần thục thì ba tầm bất thiện có chỗ mà lên.

Và bài học ấy con thấy rất hợp với đoàn thể mình: ĐỪNG TÁCH RIÊNG QUÁ SỚM. Tu một mình là chuyện về sau; trước hết phải có BẠN LÀNH.

Sau năm pháp ấy, Thế Tôn còn dạy BỐN PHÁP CẦN TU THÊM, và bốn pháp này ghép rất chặt, mỗi thứ trị một bệnh:

TƯỞNG BẤT TỊNH để đoạn tận THAM ÁI; TỪ BI để đoạn tận SÂN; NIỆM HƠI THỞ VÔ RA để CẮT ĐỨT TẦM; TƯỞNG VÔ THƯỜNG để PHÁ HOẠI NGÃ MẠN.

Xin để ý pháp thứ ba trả lời đúng cái bệnh của Tôn giả Meghiya: ba TẦM quấy nhiễu thì thuốc là NIỆM HƠI THỞ.

Và câu kết: “với Tỷ-kheo có tưởng vô thường, tưởng VÔ NGÃ được tồn tại. Có tưởng vô ngã, thời NGÃ MẠN BỊ PHÁ HOẠI, ngay trong hiện tại đạt được NIẾT-BÀN.”

Xin thưa một điều về bản văn, và con phải nói rõ chứ không sửa thầm. Bản in tiếng Việt trên nguồn ghi tiêu đề là “Tôn Gỉa Meghiya” và ở đoạn cuối in “tưởng vô thưởng”đó là lỗi của bản số hoá. Trong các ô trích chúng con GIỮ NGUYÊN như nguồn, không sửa một chữ nào của Hoà thượng, và chỉ xin thưa ở đây để anh chị em đọc cho đúng: là “Tôn giả”“tưởng vô thường”.

Xin thưa lời cuối. Bài kinh này không chê Tôn giả Meghiya. Nó chỉ cho thấy một điều rất thật: ý lành chưa đủ, còn phải ĐÚNG THỜI và có BẠN LÀNH.

  • “Thế Tôn cấm Tôn giả Meghiya đi.” Thế Tôn KHÔNG cấm, Ngài bảo HÃY CHỜ cho tới khi có một Tỷ-kheo khác; đến lần xin thứ ba thì để tuỳ ý.
  • “Meghiya có lỗi vì ham cảnh đẹp.” Ý của Tôn giả là muốn vào đó TINH CẦN tu tập — ý lành. Vấn đề là tâm chưa thuần thụcđi một mình, không phải động cơ xấu.
  • “Tu là phải vào chỗ vắng một mình.” Kinh đặt THIỆN HỮU làm pháp THỨ NHẤT, và nói bốn pháp kia được chờ đợi nơi người có bạn lành. Độc cư là chuyện về sau.
  • “Ba ác bất thiện tầm là dấu hiệu người xấu.” Chúng khởi lên nơi một vị vì lòng tin mà xuất gia, đang làm thị giả Thế Tôn. Kinh dạy thuốc trị chứ không kết tội.
  • “Bản Việt in sai chữ.” Bản số hoá có hai chỗ lỗi ấn loát (“Tôn Gỉa”, “tưởng vô thưởng”). Trang này giữ nguyên như nguồn và chỉ chú thích — không sửa lời của Hoà thượng.
  • Ngành Oanh. Kể câu chuyện rừng xoài, rồi rút một câu: có bạn lành thì mình dễ nên người.
  • Ngành Thiếu. Học pháp thứ nhất và hỏi: bạn nào giúp em tốt hơn, bạn nào kéo em đi xuống?
  • Ngành Thanh và Huynh Trưởng. Soi kỹ câu “bốn pháp còn lại được chờ đợi”vì sao thiện hữu lại là GỐC? Và bàn: khi nào một em đủ sức tu riêng, khi nào cần giữ trong đoàn?
  • Vì sao Thế Tôn bảo Tôn giả Meghiya hãy chờ?
  • Ba ác bất thiện tầm là những gì?
  • Năm pháp làm tâm thuần thục gồm những gì?
  • Vì sao nói thiện hữu là gốc?
  • Bốn pháp tu thêm trị bốn bệnh nào?

Nguyên văn Pāli chép từ ấn bản Mahāsaṅgīti — tệp dữ liệu gốc bilara-data của suttacentral.net, từng đoạn có đánh số. Bản tiếng Việt của Hoà thượng Thích Minh Châu; bản tiếng Anh của Tỳ-kheo Sujato. Bài này đã qua một lượt soi lại độc lập. Muốn đọc trọn bài kinh, xin xem nguyên văn ba thứ tiếng. Thấy chỗ nào khác ấn bản in, xin báo cho chúng tôi.