G.Đ.P.T Huyền Quang Phật Pháp · Tam Tạng Kinh Điển Tăng Chi Bộ · AN 9.1
Bạn Lành Là Gốc · Bốn Điều Kia Theo Sau

Kinh Chánh Giác

Sambodhi Sutta — AN 9.1 · Pāli · Việt · Anh

Tam TạngTạng KinhTrung BộKinh Chánh Giác

Bài kinh mở đầu Chương Chín Pháp. Câu hỏi: các pháp chánh giác phần lấy GÌ làm chỗ nương để tu tập? Đáp: NĂM sở y — và sở y thứ nhất là LÀM BẠN VỚI THIỆN. Bốn điều còn lại đều được kể là “điều CHỜ ĐỢI” ở người đã có bạn lành.

  • Bộ — Tăng Chi Bộ, Chương Chín Pháp, kinh 1 (bài mở đầu chương)
  • Nơi chốn — Sāvatthī, Jetavana, khu vườn ông Anāthapiṇḍika
  • Bài đi đôiAN 10.61 trên trang này cũng đặt “giao thiệp với bậc Chân nhân” ở bậc gốc
  • Bản Việt — Hoà thượng Thích Minh Châu, nhan đề Chánh Giác

Kinh Chánh Giác (Sambodhi Sutta) là bài kinh mở đầu Chương Chín Pháp của Tăng Chi Bộ. Nhân câu hỏi giả định của các du sĩ ngoại đạo — "Các pháp chánh giác phần lấy gì làm sở y để tu tập?" — các Tỷ-kheo thưa rằng các pháp lấy Thế Tôn làm căn bản, làm lãnh đạo, làm chỗ nương tựa, và thỉnh Thế Tôn giảng. Thế Tôn dạy có năm sở y (upanisā) để tu tập các pháp chánh giác phần. Thứ nhất là làm bạn với thiện, thân hữu với thiện, giao thiệp với thiện (kalyāṇamitta). Thứ hai là có giới, sống được bảo vệ với sự bảo vệ của giới bổn Pātimokkha, đầy đủ uy nghi chánh hạnh, thấy sợ hãi trong các lỗi nhỏ nhặt. Thứ ba là được nghe và tham dự những câu chuyện hướng thượng, làm tâm rộng mở: luận về ít dục, biết đủ, viễn ly, không tụ hội, tinh tấn tinh cần, giới, định, tuệ, giải thoát, giải thoát tri kiến — có được không khó khăn, không mệt nhọc, không phí sức. Thứ tư là sống tinh cần tinh tấn đoạn tận pháp bất thiện, thành tựu pháp thiện, không từ bỏ gánh nặng trong các thiện pháp. Thứ năm là có trí tuệ về sanh và diệt, với Thánh thể nhập đưa đến đoạn tận khổ đau. Điểm đặc sắc của kinh: bốn sở y sau đều được xem là quả chờ đợi của sở y thứ nhất — người có bạn lành thì sẽ giữ giới, sẽ được nghe pháp hướng thượng, sẽ tinh tấn, sẽ có trí tuệ. Sau khi đã trú trong năm pháp ấy, còn phải tu tập thêm bốn pháp: tưởng bất tịnh để đoạn tham, từ tâm để đoạn sân, niệm hơi thở vô - hơi thở ra để cắt đứt tầm, tưởng vô thường để phá ngã mạn. Có tưởng vô thường thì tưởng vô ngã được an trú; có tưởng vô ngã thì ngã mạn bị phá hoại và đạt Niết-bàn ngay trong hiện tại. Với Huynh Trưởng và đoàn sinh, đây là bài kinh nền tảng về giá trị của thiện hữu tri thức — chọn bạn lành chính là bước đầu và là gốc rễ của cả con đường tu học.

Bố cục bài kinhTheo đúng thứ tự trong kinh văn

  • Duyên khởi — Thế Tôn trú tại Jetavana, Sāvatthī, gọi các Tỷ-kheo và nêu câu hỏi giả định của du sĩ ngoại đạo về sở y tu tập các pháp chánh giác phần; các Tỷ-kheo thỉnh Thế Tôn giảng (đoạn 1–4).
  • Sở y thứ nhất: làm bạn với thiện — Tỷ-kheo làm bạn với thiện, thân hữu với thiện, giao thiệp với thiện (đoạn 5).
  • Sở y thứ hai: giới — Có giới, sống được bảo vệ với giới bổn Pātimokkha, đầy đủ uy nghi chánh hạnh, thấy sợ hãi trong các lỗi nhỏ nhặt (đoạn 6).
  • Sở y thứ ba: câu chuyện hướng thượng — Được nghe mười loại luận: ít dục, biết đủ, viễn ly, không tụ hội, tinh tấn tinh cần, giới, định, tuệ, giải thoát, giải thoát tri kiến (đoạn 7).
  • Sở y thứ tư: tinh tấn — Sống tinh cần tinh tấn đoạn tận bất thiện, thành tựu thiện pháp, không từ bỏ gánh nặng (đoạn 8).
  • Sở y thứ năm: trí tuệ — Có trí tuệ về sanh và diệt, với Thánh thể nhập, đưa đến đoạn tận khổ đau (đoạn 9).
  • Bạn lành là gốc của bốn sở y sau — Với Tỷ-kheo làm bạn với thiện, thời được chờ đợi: sẽ giữ giới, sẽ được nghe pháp hướng thượng, sẽ tinh tấn, sẽ có trí tuệ (đoạn 10–13).
  • Bốn pháp cần tu tập thêm — Tưởng bất tịnh đoạn tham, từ tâm đoạn sân, niệm hơi thở vô - hơi thở ra cắt đứt tầm, tưởng vô thường phá ngã mạn; tưởng vô ngã an trú, ngã mạn bị phá hoại, đạt Niết-bàn ngay trong hiện tại (đoạn 14).

Mỗi đoạn ghi nguyên văn Pāli, rồi bản Việt, rồi bản tiếng Anh. Số bên trái là số đoạn trong kinh, để đối chiếu được.

AN 9.1:2.3
"Bhagavaṁmūlakā no, bhante, dhammā …pe… bhagavato sutvā bhikkhū dhāressantī"ti.
Bạch Thế Tôn, đối với chúng con, các pháp lấy Thế Tôn làm căn bản, lấy Thế Tôn làm lãnh đạo, lấy Thế Tôn làm chỗ nương tựa. Thật lành thay, bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy nói lên ý nghĩa của lời nói này. Sau khi nghe Thế Tôn, các Tỷ-kheo sẽ thọ trì.
"Our teachings are rooted in the Buddha. … The mendicants will listen and remember it."
AN 9.1:5.1–5.2
'Idhāvuso, bhikkhu kalyāṇamitto hoti kalyāṇasahāyo kalyāṇasampavaṅko. Sambodhipakkhikānaṁ, āvuso, dhammānaṁ ayaṁ paṭhamā upanisā bhāvanāya.
Ở đây, thưa chư Hiền, Tỷ-kheo làm bạn với thiện, thân hữu với thiện, giao thiệp với thiện. Này chư Hiền, đây là sở y thứ nhất để tu tập các pháp chánh giác phần.
'It's when a mendicant has good friends, companions, and associates. This is the first vital condition for the development of the awakening factors.
AN 9.1:6.1
Puna caparaṁ, āvuso, bhikkhu sīlavā hoti, pātimokkhasaṁvarasaṁvuto viharati ācāragocarasampanno aṇumattesu vajjesu bhayadassāvī, samādāya sikkhati sikkhāpadesu.
Lại nữa, này chư Hiền, Tỷ-kheo có giới, sống được bảo vệ với sự bảo vệ của giới bổn Pàtimokkha, đầy đủ uy nghi chánh hạnh, thấy sợ hãi trong các lỗi nhỏ nhặt, chấp nhận và học tập trong các học pháp.
Furthermore, a mendicant is ethical, restrained in the monastic code, conducting themselves well and resorting for alms in suitable places. Seeing danger in the slightest fault, they keep the rules they've undertaken.
AN 9.1:7.1
Puna caparaṁ, āvuso, bhikkhu yāyaṁ kathā abhisallekhikā cetovivaraṇasappāyā, seyyathidaṁ—appicchakathā santuṭṭhikathā pavivekakathā asaṁsaggakathā vīriyārambhakathā sīlakathā samādhikathā paññākathā vimuttikathā vimuttiñāṇadassanakathā, evarūpiyā kathāya nikāmalābhī hoti akicchalābhī akasiralābhī.
Lại nữa, này chư Hiền, Tỷ-kheo có định, câu chuyện này có khả năng đoạn giảm hướng thượng đưa đến tâm được rộng mở như luận về ít dục, luận về biết đủ, luận về viễn ly, luận về không tụ hội, luận về tinh tấn tinh cần, luận về giới, luận về định, luận về tuệ, luận về giải thoát, luận về giải thoát tri kiến, những câu chuyện như vậy, có được không khó khăn, có được không mệt nhọc, có được không phí sức.
Furthermore, a mendicant gets to take part in talk about self-effacement that helps open the heart, when they want, without trouble or difficulty. That is, talk about fewness of wishes, contentment, seclusion, aloofness, arousing energy, ethics, immersion, wisdom, freedom, and the knowledge and vision of freedom.
AN 9.1:8.1
Puna caparaṁ, āvuso, bhikkhu āraddhavīriyo viharati akusalānaṁ dhammānaṁ pahānāya, kusalānaṁ dhammānaṁ upasampadāya, thāmavā daḷhaparakkamo anikkhittadhuro kusalesu dhammesu.
Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo sống tinh cần tinh tấn để đoạn tận các pháp bất thiện, để thành tựu các pháp thiện, nỗ lực, kiên trì, không từ bỏ gánh nặng trong các thiện pháp.
Furthermore, a mendicant lives with energy roused up for giving up unskillful qualities and embracing skillful qualities. They are strong, staunchly vigorous, not slacking off when it comes to developing skillful qualities.
AN 9.1:9.1
Puna caparaṁ, āvuso, bhikkhu paññavā hoti udayatthagāminiyā paññāya samannāgato ariyāya nibbedhikāya sammā dukkhakkhayagāminiyā.
Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo có trí tuệ, thành tựu trí tuệ về sanh và diệt, với Thánh thể nhập (quyết trạch) đi đến con đường đoạn tận khổ đau.
Furthermore, a mendicant is wise. They have the wisdom of arising and passing away which is noble, penetrative, and leads to the complete ending of suffering.
AN 9.1:14.1–14.2
Tena ca pana, bhikkhave, bhikkhunā imesu pañcasu dhammesu patiṭṭhāya cattāro dhammā uttari bhāvetabbā— asubhā bhāvetabbā rāgassa pahānāya, mettā bhāvetabbā byāpādassa pahānāya, ānāpānassati bhāvetabbā vitakkupacchedāya, aniccasaññā bhāvetabbā asmimānasamugghātāya.
Và này các Tỷ-kheo, khi Tỷ-kheo ấy đã trú trong năm pháp này, bốn pháp nữa cần phải tu tập. Cần phải tu tập tưởng bất tịnh để đoạn tận tham ái, cần phải tu tập từ tâm để đoạn tận sân, cần phải tu tập niệm hơi thở vô, hơi thở ra để cắt đứt tầm, cần phải tu tập tưởng vô thường để phá hoại ngã mạn.
But then, a mendicant grounded on these five things should develop four further things. They should develop the perception of ugliness to give up greed, love to give up hate, mindfulness of breathing to cut off thinking, and perception of impermanence to uproot the conceit 'I am'.
AN 9.1:14.3–14.4
Aniccasaññino, bhikkhave, anattasaññā saṇṭhāti. Anattasaññī asmimānasamugghātaṁ pāpuṇāti diṭṭheva dhamme nibbānan"ti.
Này các Tỷ-kheo, với Tỷ-kheo có tưởng vô thường, tưởng vô ngã được an trú; với Tỷ-kheo có tưởng vô ngã, ngã mạn bị phá hoại, ngay trong hiện tại, đạt được Niết-bàn.
When you perceive impermanence, the perception of not-self becomes stabilized. Perceiving not-self, you uproot the conceit 'I am' and attain extinguishment in this very life.
Chữ PāliNghĩaGhi chú
sambodhichánh giác, sự giác ngộtên kinh: Sambodhisutta
sambodhipakkhikā dhammācác pháp chánh giác phầnSujato: "the qualities on the same side as awakening"
upanisāsở y, điều kiện thiết yếu để tu tậpHT. Minh Châu dịch "sở y"
kalyāṇamitta / kalyāṇasahāya / kalyāṇasampavaṅkalàm bạn với thiện, thân hữu với thiện, giao thiệp với thiện
pātimokkhasaṁvarasự bảo vệ của giới bổn Pātimokkha
abhisallekhikā kathācâu chuyện có khả năng đoạn giảm (hướng thượng)
appicchakathā, santuṭṭhikathā, pavivekakathā, asaṁsaggakathāluận về ít dục, biết đủ, viễn ly, không tụ hội
āraddhavīriyatinh cần tinh tấn
udayatthagāminī paññātrí tuệ về sanh và diệt
nibbedhikāthể nhập, quyết trạch (thâm nhập)
asubhātưởng bất tịnh — đoạn tận tham (rāga)
mettātừ tâm — đoạn tận sân (byāpāda)
ānāpānassatiniệm hơi thở vô, hơi thở ra — cắt đứt tầm (vitakka)
aniccasaññā / anattasaññātưởng vô thường / tưởng vô ngã
asmimānangã mạn ("tôi là")asmimānasamugghāta: phá hoại (nhổ tận gốc) ngã mạn
diṭṭheva dhamme nibbānaNiết-bàn ngay trong hiện tại

Xin thưa bài kinh này mở đầu bằng một câu hỏi rất hay, và câu hỏi ấy do CÁC DU SĨ NGOẠI ĐẠO đặt ra. Thế Tôn nêu lại: nếu họ hỏi “Các pháp CHÁNH GIÁC PHẦN lấy gì làm SỞ Y để tu tập?” thì các Tỷ-kheo trả lời sao?

Các Tỷ-kheo thưa thật: “đối với chúng con, các pháp lấy Thế Tôn làm CĂN BẢN, lấy Thế Tôn làm LÃNH ĐẠO, lấy Thế Tôn làm CHỖ NƯƠNG TỰA” — rồi thỉnh Ngài giảng.

Và Ngài dạy NĂM SỞ Y (upanisā). Chữ upanisā nghĩa là ĐIỀU KIỆN THIẾT YẾU — cái phải có trước thì cái sau mới mọc lên được.

SỞ Y THỨ NHẤT: “Tỷ-kheo LÀM BẠN VỚI THIỆN, THÂN HỮU VỚI THIỆN, GIAO THIỆP VỚI THIỆN.”

Xin để ý kinh dùng tới BA chữ cho một việc: LÀM BẠN, THÂN HỮU, GIAO THIỆP. Không phải chỉ quen biết — mà là thật sự ở gần, đi lại, chịu ảnh hưởng.

SỞ Y THỨ HAI: CÓ GIỚI“sống được bảo vệ với sự bảo vệ của giới bổn Pātimokkha, đầy đủ uy nghi chánh hạnh, THẤY SỢ HÃI TRONG CÁC LỖI NHỎ NHẶT”.

Xin thưa mấy chữ “THẤY SỢ HÃI TRONG CÁC LỖI NHỎ NHẶT” là chỗ rất đáng học. Người giữ giới thật không phải người tránh được tội lớn — mà là người ngại cả điều rất nhỏ. Vì tội lớn thì ai cũng biết tránh; chỗ hỏng nằm ở những điều nhỏ mà ta cho phép mình.

SỞ Y THỨ BA: được nghe và tham dự NHỮNG CÂU CHUYỆN HƯỚNG THƯỢNG, làm tâm rộng mở — luận về ÍT DỤC, BIẾT ĐỦ, VIỄN LY, KHÔNG TỤ HỘI, TINH TẤN TINH CẦN, GIỚI, ĐỊNH, TUỆ, GIẢI THOÁT, GIẢI THOÁT TRI KIẾN — và “có được KHÔNG KHÓ KHĂN, KHÔNG MỆT NHỌC, KHÔNG PHÍ SỨC”.

Xin dừng ở sở y thứ ba này, vì con thấy ít ai để ý mà nó rất thật. Đức Phật xếp CHUYỆN MÌNH ĐƯỢC NGHE HẰNG NGÀY thành một điều kiện thiết yếu của việc tu. Không phải kinh sách — mà là CÂU CHUYỆN trong chỗ mình sống.

Và mấy chữ “có được KHÔNG KHÓ KHĂN” nghĩa là: những câu chuyện ấy PHẢI CÓ SẴN quanh mình. Người phải lặn lội mãi mới nghe được một lời lành thì đã thiếu một sở y.

SỞ Y THỨ TƯ: sống TINH CẦN TINH TẤN“đoạn tận pháp bất thiện, thành tựu pháp thiện, nỗ lực kiên trì, KHÔNG TỪ BỎ GÁNH NẶNG trong các thiện pháp”.

SỞ Y THỨ NĂM: CÓ TRÍ TUỆ“trí tuệ về SANH và DIỆT, với Thánh thể nhập, đưa đến đoạn tận khổ đau”.

Bây giờ tới chỗ con cho là đặc sắc nhất của bài kinh, xin bác để ý. BỐN sở y sau đều được nêu lại thành “ĐIỀU CHỜ ĐỢI” ở người đã có sở y thứ nhất.

Nghĩa là: người LÀM BẠN VỚI THIỆN thì “được chờ đợi” rằng sẽ GIỮ GIỚI, sẽ ĐƯỢC NGHE pháp hướng thượng, sẽ TINH TẤN, sẽ CÓ TRÍ TUỆ.

Xin thưa cách sắp xếp ấy nói một điều rất mạnh: bốn điều kia KHÔNG phải bốn việc riêng lẻ ta phải gắng làm từng cái. Chúng là NHỮNG THỨ MỌC LÊN từ chỗ mình ngồi gần ai.

Và điều ấy khớp đúng với Kinh Vô Minh (AN 10.61) đã có trên trang nàyở đó, bậc đầu tiên của cả chuỗi đi lên cũng là “GIAO THIỆP VỚI BẬC CHÂN NHÂN”. Hai bài kinh khác chương, khác cách trình bày, mà cùng đặt một điều ở gốc.

Rồi Ngài dạy: sau khi đã trú trong năm pháp ấy, còn phải tu tập thêm BỐN pháp nữa — và bốn pháp này rất cụ thể, mỗi pháp trị đúng một bệnh.

TƯỞNG BẤT TỊNH để đoạn THAM ÁI. TỪ TÂM để đoạn SÂN. NIỆM HƠI THỞ VÔ, HƠI THỞ RA để CẮT ĐỨT TẦM (tức cắt dòng suy nghĩ lăng xăng). TƯỞNG VÔ THƯỜNG để PHÁ HOẠI NGÃ MẠN.

Xin thưa cặp cuối là chỗ đẹp nhất, vì nó nối liền hai bước: “với Tỷ-kheo có TƯỞNG VÔ THƯỜNG, TƯỞNG VÔ NGÃ được an trú; với Tỷ-kheo có tưởng vô ngã, NGÃ MẠN BỊ PHÁ HOẠI, NGAY TRONG HIỆN TẠI ĐẠT ĐƯỢC NIẾT-BÀN.”

Xin để ý thứ tự: KHÔNG bắt đầu bằng vô ngã. Bắt đầu bằng VÔ THƯỜNG — cái ai cũng thấy được, mỗi ngày. Rồi vô ngã tự đứng vững theo. Đạo Phật KHÔNG đòi ta nhảy thẳng vào chỗ khó nhất.

Xin thưa lời cuối cho anh chị em, và con nghĩ bài kinh này chính là bài kinh của Gia Đình Phật Tử. Việc anh chị em làm mỗi cuối tuần — mở đoàn quán, ngồi lại với các em, để các em có bạn lành và có chuyện lành để nghebài kinh này gọi đó là SỞ Y THỨ NHẤT, và nói rằng bốn điều còn lại sẽ theo sau.

  • “Bạn lành chỉ là chuyện phụ, tu mới là chính.” Kinh xếp làm bạn với thiện là SỞ Y THỨ NHẤT, và nêu bốn điều còn lại là “điều CHỜ ĐỢI” ở người đã có bạn lành.
  • “Giữ giới là tránh phạm tội lớn.” Kinh nói “THẤY SỢ HÃI TRONG CÁC LỖI NHỎ NHẶT”.
  • “Nghe pháp là đọc kinh sách.” Sở y thứ ba là NHỮNG CÂU CHUYỆN quanh mình — và phải “có được KHÔNG KHÓ KHĂN”, tức phải có sẵn trong chỗ mình sống.
  • “Phải quán vô ngã trước.” Kinh đi từ VÔ THƯỜNG: có tưởng vô thường thì tưởng vô ngã mới được an trú.
  • Ngành Oanh. Dạy sở y thứ nhất: chơi với bạn lành thì mình cũng lành theo.
  • Ngành Thiếu. Bàn sở y thứ ba: mỗi ngày em nghe những câu chuyện gì? Chúng kéo em đi đâu?
  • Ngành Thanh và Huynh Trưởng. Đọc kèm AN 10.61: hai bài kinh cùng đặt một điều ở gốc.
  • Năm sở y là năm điều nào?
  • Vì sao bốn sở y sau gọi là “điều chờ đợi”?
  • Bốn pháp tu thêm trị bốn bệnh nào?
  • Vì sao kinh đi từ vô thường trước?

Nguyên văn Pāli chép từ ấn bản Mahāsaṅgīti — tệp dữ liệu gốc bilara-data của suttacentral.net, từng đoạn có đánh số. Bản tiếng Việt của Hoà thượng Thích Minh Châu; bản tiếng Anh của Tỳ-kheo Sujato. Bài này đã qua một lượt soi lại độc lập. Muốn đọc trọn bài kinh, xin xem nguyên văn ba thứ tiếng. Thấy chỗ nào khác ấn bản in, xin báo cho chúng tôi.