G.Đ.P.T Huyền Quang Phật Pháp · Tam Tạng Kinh Điển Tăng Chi Bộ · AN 8.63
Bốn Vô Lượng Tâm · Bốn Niệm Xứ · Bảy Cách

Kinh Pháp Lược Thuyết

Saṅkhitta Sutta — AN 8.63 · Pāli · Việt · Anh

Tam TạngTạng KinhTrung BộKinh Pháp Lược Thuyết

Một Tỷ-kheo xin một bài pháp THẬT NGẮN để mang về tu một mình. Bài pháp “vắn tắt” ấy hoá ra là CẢ MỘT LỘ TRÌNH: tâm đứng vững → BỐN VÔ LƯỢNG TÂM → BỐN NIỆM XỨ, mỗi đề mục lại luyện qua BẢY CÁCH. Kết quả rất giản dị: “chỗ nào Thầy đi, chỗ ấy Thầy đi được AN ỔN.”

  • Bộ — Tăng Chi Bộ, Chương Tám Pháp, kinh 63
  • Phẩm — Đất Rung Động (Bhūmicālavagga)
  • Người hỏimột Tỷ-kheo; kinh không nêu tên, cũng không nêu nơi chốn
  • Đọc kèmAN 6.13 (bốn vô lượng tâm trị bốn bệnh)

Kinh "Pháp Lược Thuyết" (Saṅkhittasutta) nằm trong Chương Tám Pháp, Phẩm Ðất Rung Ðộng của Tăng Chi Bộ. Một vị Tỷ-kheo không nêu tên đến xin Thế Tôn dạy cho một bài pháp thật ngắn gọn, để có thể mang về mà sống một mình, không phóng dật, nhiệt tâm tinh cần. Thế Tôn trước hết quở một điều rất đáng để Huynh Trưởng suy nghĩ: có những người xin pháp, nhưng khi pháp đã được giảng rồi thì họ chỉ nghĩ đến chuyện đi theo Ngài chứ không thực hành. Vị Tỷ-kheo thỉnh lại lần thứ hai, quyết làm kẻ thừa tự lời dạy chứ không chỉ đi theo, và Thế Tôn mới dạy. Bài pháp "vắn tắt" ấy thật ra là cả một lộ trình tu, đi từng bậc rất rõ. Bậc thứ nhất là nền móng: "Nội tâm ta sẽ an trú, khéo vững trú. Các pháp ác, bất thiện sanh khởi không có xâm chiếm tâm và không có chân đứng." Tâm phải đứng vững trước đã. Khi tâm đã vững, bậc thứ hai là tu tập từ tâm giải thoát — không phải khởi lên một chút rồi thôi, mà "làm cho sung mãn, làm thành cỗ xe, làm thành căn cứ địa", nghĩa là lấy tâm từ làm phương tiện đi và làm chỗ đứng của đời mình. Rồi lần lượt đến bi, hỷ, xả: trọn vẹn Bốn Vô Lượng Tâm. Sau đó là Bốn Niệm Xứ: quán thân trên thân, quán thọ trên các cảm thọ, quán tâm trên các tâm, quán pháp trên các pháp, với nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời. Điều đặc sắc của kinh này là sau mỗi đề mục, Thế Tôn đều lặp lại một điệp khúc: chính cái định ấy phải được tu tập với tầm với tứ, không tầm chỉ với tứ, không tầm không tứ, có hỷ, không hỷ, câu hữu với lạc, câu hữu với xả — bảy cách. Nghĩa là một đề mục không dừng ở một mức, mà phải được luyện thuần thục qua nhiều tầng bậc của định. Kết quả rất giản dị mà đẹp: "chỗ nào, chỗ nào Thầy đi, chỗ ấy Thầy đi được an ổn" — đi, đứng, ngồi, nằm ở đâu cũng an ổn. Vị Tỷ-kheo lãnh giáo, ra đi sống một mình tinh cần, không bao lâu chứng đạt cứu cánh Phạm hạnh ngay trong hiện tại và trở thành một vị A-la-hán.

Bố cục bài kinhTheo đúng thứ tự trong kinh văn

  • 1. Lời thỉnh cầu của vị Tỷ-kheo — Một Tỷ-kheo đến đảnh lễ Thế Tôn, xin Ngài thuyết pháp vắn tắt để về sống một mình, không phóng dật, tinh cần. Thế Tôn quở rằng có một số người ngu si cứ thỉnh cầu, nhưng khi pháp được giảng thì chỉ nghĩ đến việc đi theo Ngài. Vị Tỷ-kheo thỉnh lại lần nữa.
  • 2. Nền tảng: nội tâm an trú, khéo vững trú — Thế Tôn dạy điều học đầu tiên: nội tâm được an trú, khéo vững trú, các pháp ác bất thiện đã sanh khởi không xâm chiếm tâm và không có chân đứng.
  • 3. Từ tâm giải thoát (mettā cetovimutti) — Khi nội tâm đã vững, phải tu tập từ tâm giải thoát, làm cho sung mãn, làm thành cỗ xe, thành căn cứ địa, kiên trì, tích tập, khéo tinh cần thực hành.
  • 4. Bảy cách tu tập định (điệp khúc lặp lại) — Sau mỗi đề mục, Thế Tôn dạy tu tập chính định ấy theo bảy cách: có tầm có tứ; không tầm chỉ với tứ; không tầm không tứ; có hỷ; không hỷ; câu hữu với lạc; câu hữu với xả. Điệp khúc này lặp lại sau mỗi nhóm đề mục.
  • 5. Bi, Hỷ, Xả tâm giải thoát — Tiếp theo là bi tâm giải thoát, hỷ tâm giải thoát, xả tâm giải thoát — cũng tu tập, làm cho sung mãn như trên (trọn Bốn Vô Lượng Tâm).
  • 6. Bốn Niệm Xứ — Kế đó là quán thân trên thân, quán thọ trên các cảm thọ, quán tâm trên các tâm, quán pháp trên các pháp — nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời. Sau mỗi nhóm lại lặp lại bảy cách tu định.
  • 7. Kết quả: đi, đứng, ngồi, nằm đều an ổn — Khi định được tu tập, làm cho sung mãn như vậy thì chỗ nào Thầy đi, đứng, ngồi, nằm, chỗ ấy Thầy đều được an ổn.
  • 8. Vị Tỷ-kheo chứng quả A-la-hán — Vị Tỷ-kheo ra đi, sống một mình, không phóng dật, không bao lâu chứng đạt vô thượng cứu cánh Phạm hạnh ngay trong hiện tại, rõ biết "Sanh đã tận…", trở thành một vị A-la-hán.

Mỗi đoạn ghi nguyên văn Pāli, rồi bản Việt, rồi bản tiếng Anh. Số bên trái là số đoạn trong kinh, để đối chiếu được.

AN 8.63, TTC 1 (Pāli/Anh: an8.63:1.2)
“sādhu me, bhante, bhagavā saṅkhittena dhammaṁ desetu, yamahaṁ bhagavato dhammaṁ sutvā eko vūpakaṭṭho appamatto ātāpī pahitatto vihareyyan”ti.
—Lành thay! bạch Thế Tôn, xin Thế Tôn hãy thuyết pháp vắn tắt cho con, sau khi nghe pháp của Thế Tôn, con sẽ sống một mình, an tịnh, không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần.
“Sir, may the Buddha please teach me Dhamma in brief. When I’ve heard it, I’ll live alone, withdrawn, diligent, keen, and resolute.”
AN 8.63, TTC 1 (Pāli/Anh: an8.63:1.3–1.4)
“Evamevaṁ panidhekacce moghapurisā mamaññeva ajjhesanti. Dhamme ca bhāsite mamaññeva anubandhitabbaṁ maññantī”ti.
—Như vậy, ở đây, một số người ngu si, thỉnh cầu Ta, sau khi pháp được giảng, họ nghĩ Ta là người họ cần phải đi theo.
“This is exactly how some futile people ask me for something. But when the teaching has been explained they think only of following me around.”
AN 8.63, TTC 2 (Pāli/Anh: an8.63:1.6–1.8)
“Tasmātiha te, bhikkhu, evaṁ sikkhitabbaṁ: ‘ajjhattaṁ me cittaṁ ṭhitaṁ bhavissati susaṇṭhitaṁ, na ca uppannā pāpakā akusalā dhammā cittaṁ pariyādāya ṭhassantī’ti. Evañhi te, bhikkhu, sikkhitabbaṁ.
—Vậy này Tỷ-kheo, Thầy cần phải học tập như sau: “Nội tâm ta sẽ an trú, khéo vững trú. Các pháp ác, bất thiện sanh khởi không có xâm chiếm tâm và không có chân đứng”. Như vậy, này Tỷ-kheo, Thầy cần phải học tập.
“Well then, mendicant, you should train like this: ‘My mind will be steady and well settled internally. And bad, unskillful qualities that have arisen will not occupy my mind.’ That’s how you should train.
AN 8.63, TTC 3 (Pāli/Anh: an8.63:2.2–2.3)
‘mettā me cetovimutti bhāvitā bhavissati bahulīkatā yānīkatā vatthukatā anuṭṭhitā paricitā susamāraddhā’ti. Evañhi te, bhikkhu, sikkhitabbaṁ.
“Từ tâm giải thoát sẽ được ta tu tập, làm cho sung mãn, làm thành cỗ xe, làm thành căn cứ địa, được làm cho kiên trì, được làm cho tích tập, được khéo tinh cần thực hành”. Như vậy, này Tỷ-kheo, Thầy cần phải học tập.
‘I will develop the heart’s release by love. I’ll cultivate it, make it my vehicle and my basis, keep it up, consolidate it, and properly implement it.’ That’s how you should train.
AN 8.63, TTC 4 (Pāli/Anh: an8.63:3.1)
Yato kho te, bhikkhu, ayaṁ samādhi evaṁ bhāvito hoti bahulīkato, tato tvaṁ, bhikkhu, imaṁ samādhiṁ savitakkampi savicāraṁ bhāveyyāsi, avitakkampi vicāramattaṁ bhāveyyāsi, avitakkampi avicāraṁ bhāveyyāsi, sappītikampi bhāveyyāsi, nippītikampi bhāveyyāsi, sātasahagatampi bhāveyyāsi, upekkhāsahagatampi bhāveyyāsi.
Này Tỷ-kheo, khi nào định này của Thầy được tu tập, được làm cho sung mãn như vậy, khi ấy, này Tỷ-kheo, Thầy cần phải tu tập định này với tầm với tứ; cần phải tu tập không tầm, chỉ với tứ; cần phải tu tập không tầm không tứ; cần phải tu tập có hỷ, cần phải tu tập không hỷ; cần phải tu tập câu hữu với lạc; cần phải tu tập câu hữu với xả.
When this immersion is developed and cultivated in this way, you should develop it while placing the mind and keeping it connected. You should develop it without placing the mind, merely keeping it connected. You should develop it without placing the mind or keeping it connected. You should develop it with rapture. You should develop it without rapture. You should develop it with pleasure. You should develop it with equanimity.
AN 8.63, TTC 4 (Pāli/Anh: an8.63:4.2–4.5)
‘karuṇā me cetovimutti … muditā me cetovimutti … upekkhā me cetovimutti bhāvitā bhavissati bahulīkatā yānīkatā vatthukatā anuṭṭhitā paricitā susamāraddhā’ti. Evañhi te, bhikkhu, sikkhitabbaṁ.
“Bi tâm giải thoát sẽ được Thầy tu tập … Hỷ tâm giải thoát sẽ được Thầy tu tập … Xả tâm giải thoát sẽ được Thầy tu tập, làm cho sung mãn, làm thành cỗ xe, làm thành căn cứ địa, được làm cho kiên trì, được làm cho tích tập, được khéo tinh cần thực hành”. Như vậy, này Tỷ-kheo, Thầy cần phải học tập.
‘I will develop the heart’s release by compassion …’ … ‘I will develop the heart’s release by rejoicing …’ … ‘I will develop the heart’s release by equanimity. I’ll cultivate it, make it my vehicle and my basis, keep it up, consolidate it, and properly implement it.’ That’s how you should train.
AN 8.63, TTC 5–6 (Pāli/Anh: an8.63:6.2, 8.4)
‘kāye kāyānupassī viharissāmi ātāpī sampajāno satimā, vineyya loke abhijjhādomanassan’ti. … ‘vedanāsu … citte … dhammesu dhammānupassī viharissāmi ātāpī sampajāno satimā, vineyya loke abhijjhādomanassan’ti. Evañhi te, bhikkhu, sikkhitabbaṁ.
“Ta sẽ sống quán thân trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời”. … “Ta sẽ sống quán thọ trên các cảm thọ … quán tâm trên các tâm … quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời”. Như vậy, này Tỷ-kheo, Thầy cần phải học tập.
‘I’ll meditate observing an aspect of the body—keen, aware, and mindful, rid of covetousness and displeasure for the world.’ … ‘I’ll meditate on an aspect of feelings …’ … ‘I’ll meditate on an aspect of the mind …’ … ‘I’ll meditate on an aspect of principles—keen, aware, and mindful, rid of covetousness and displeasure for the world.’ That’s how you should train.
AN 8.63, TTC 7 (Pāli/Anh: an8.63:10.1)
Yato kho te, bhikkhu, ayaṁ samādhi evaṁ bhāvito hoti subhāvito, tato tvaṁ, bhikkhu, yena yeneva gagghasi phāsuṁyeva gagghasi, yattha yattha ṭhassasi phāsuṁyeva ṭhassasi, yattha yattha nisīdissasi phāsuṁyeva nisīdissasi, yattha yattha seyyaṁ kappessasi phāsuṁyeva seyyaṁ kappessasī”ti.
Này Tỷ-kheo, khi nào định này của Thầy được tu tập, được làm cho sung mãn như vậy, khi ấy này Tỷ-kheo, chỗ nào, chỗ nào Thầy đi, chỗ ấy Thầy đi được an ổn; chỗ nào, chỗ nào Thầy sẽ đứng, chỗ ấy Thầy đứng được an ổn; chỗ nào, chỗ nào sẽ Thầy ngồi, chỗ ấy Thầy ngồi được an ổn; chỗ nào, chỗ nào Thầy sẽ nằm, chỗ ấy Thầy sẽ nằm được an ổn.
When this immersion is well developed and cultivated in this way, wherever you walk, you’ll walk comfortably. Wherever you stand, you’ll stand comfortably. Wherever you sit, you’ll sit comfortably. Wherever you lie down, you’ll lie down comfortably.”
AN 8.63, TTC 8 (Pāli/Anh: an8.63:11.3–11.4)
“Khīṇā jāti, vusitaṁ brahmacariyaṁ, kataṁ karaṇīyaṁ, nāparaṁ itthattāyā”ti abbhaññāsi. Aññataro ca pana so bhikkhu arahataṁ ahosīti.
Vị ấy rõ biết: “Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành. Những việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa”. Tỷ-kheo ấy trở thành một vị A-la-hán.
He understood: “Rebirth is ended; the spiritual journey has been completed; what had to be done has been done; there is nothing further for this place.” And that mendicant became one of the perfected.
Chữ PāliNghĩaGhi chú
saṅkhittavắn tắt, lược thuyếtTên kinh Saṅkhittasutta: bài kinh dạy pháp vắn tắt.
cetovimuttitâm giải thoátỞ đây chỉ bốn tâm giải thoát: từ, bi, hỷ, xả.
mettātừ (lòng thương yêu mong người khác được an vui)
karuṇābi (lòng thương xót muốn người khác hết khổ)
muditāhỷ (vui theo cái vui, cái thành tựu của người khác)
upekkhāxả (tâm quân bình, không thiên lệch)
samādhiđịnhBản Anh của Sujato dịch là "immersion".
vitakka – vicāratầm – tứKinh dạy tu định theo bảy cách: có tầm có tứ; không tầm chỉ với tứ; không tầm không tứ; có hỷ; không hỷ; câu hữu với lạc; câu hữu với xả.
pītihỷ (niềm phấn khởi trong thiền)sappītika = có hỷ; nippītika = không hỷ. Khác với muditā ở Bốn Vô Lượng Tâm.
satipaṭṭhāna (kāyānupassī, vedanānupassī, cittānupassī, dhammānupassī)niệm xứ: quán thân, quán thọ, quán tâm, quán pháp
ātāpī sampajāno satimānhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm
abhijjhādomanassatham ưu (ở đời)
appamattakhông phóng dật
moghapurisangười ngu si, kẻ rỗng không
brahmacariyaPhạm hạnh, đời sống thanh tịnh
arahantA-la-hán, bậc đã đoạn tận lậu hoặc

Xin thưa bài kinh này mở đầu bằng một lời quở, và con nghĩ lời quở ấy rất đáng để anh chị em Huynh Trưởng suy nghĩ.

Một Tỷ-kheo — kinh không nêu tên — đến xin Thế Tôn “thuyết pháp VẮN TẮT” để mang về sống một mình, an tịnh, không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần.

Nhưng Thế Tôn KHÔNG dạy ngay. Ngài quở trước: có những người XIN PHÁP, nhưng khi pháp đã được giảng rồi thì họ CHỈ NGHĨ ĐẾN CHUYỆN ĐI THEO NGÀI chứ KHÔNG THỰC HÀNH.

Xin thưa con thấy lời quở ấy rất thấm, và rất đúng với thời nay: xin pháp thì hăng, mà xin xong lại chỉ muốn ở gần thầy, chứ không chịu về mà làm.

Vị Tỷ-kheo thỉnh lại LẦN THỨ HAI, quyết làm KẺ THỪA TỰ LỜI DẠY chứ không chỉ đi theo — bấy giờ Thế Tôn mới dạy.

Và bài pháp “VẮN TẮT” ấy — xin thưa — thật ra là CẢ MỘT LỘ TRÌNH TU, đi từng bậc rất rõ.

BẬC THỨ NHẤT — NỀN MÓNG: “NỘI TÂM ta sẽ AN TRÚ, KHÉO VỮNG TRÚ. Các pháp ác, bất thiện sanh khởi KHÔNG CÓ XÂM CHIẾM TÂM và KHÔNG CÓ CHÂN ĐỨNG.”

Xin thưa hai chữ “KHÔNG CÓ CHÂN ĐỨNG” rất đắt: pháp bất thiện KHỞI LÊN thì cứ khởi — nhưng KHÔNG TÌM ĐƯỢC CHỖ ĐỂ ĐỨNG LẠI.

Nghĩa là: TÂM PHẢI ĐỨNG VỮNG TRƯỚC ĐÃ. Đây là bậc thềm, chưa phải pháp môn.

BẬC THỨ HAI — khi tâm đã vững thì TU TẬP TỪ TÂM GIẢI THOÁT. Và xin để ý cách kinh nói:

KHÔNG PHẢI khởi lên một chút rồi thôi, mà “LÀM CHO SUNG MÃN, LÀM THÀNH CỖ XE, LÀM THÀNH CĂN CỨ ĐỊA”.

Xin thưa hai hình ảnh ấy rất hay: CỖ XEphương tiện ĐỂ ĐI; CĂN CỨ ĐỊACHỖ ĐỨNG của đời mình.

Rồi lần lượt đến BI, HỶ, XẢtrọn BỐN VÔ LƯỢNG TÂM.

Sau đó là BỐN NIỆM XỨ: quán THÂN trên thân, quán THỌ trên các cảm thọ, quán TÂM trên các tâm, quán PHÁP trên các pháp — với nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời.

Nay xin thưa điều đặc sắc nhất của bài kinh này, và cũng là chỗ ít ai để ý.

Sau MỖI đề mục, Thế Tôn đều lặp lại MỘT ĐIỆP KHÚC: chính cái định ấy phải được tu tập với TẦM với TỨ, không tầm chỉ với tứ, không tầm không tứ, có HỶ, không hỷ, câu hữu với LẠC, câu hữu với XẢBẢY CÁCH.

Nghĩa là: MỘT ĐỀ MỤC KHÔNG DỪNG Ở MỘT MỨC — mà phải được LUYỆN THUẦN THỤC QUA NHIỀU TẦNG BẬC của định.

Xin thưa con thấy điều ấy rất đáng học, vì ta hay tưởng “tu từ tâm” là một việc làm một lần rồi xong. Kinh nói: cùng một tâm từ, phải luyện qua bảy cách.

KẾT QUẢ thì rất giản dị mà đẹp:

“Này Tỷ-kheo, khi nào định này của Thầy được tu tập, được làm cho sung mãn như vậy, khi ấy chỗ nào, chỗ nào Thầy ĐI, chỗ ấy Thầy đi được AN ỔN; chỗ nào Thầy sẽ ĐỨNG… sẽ NGỒI… sẽ NẰM, chỗ ấy Thầy được AN ỔN.”

Xin thưa cả một lộ trình dài như vậy, mà chỗ đến chỉ là bốn oai nghi rất đời thường: ĐI, ĐỨNG, NGỒI, NẰMở đâu cũng AN ỔN.

Vị Tỷ-kheo lãnh giáo, ra đi sống một mình tinh cần, và KHÔNG BAO LÂU chứng đạt vô thượng cứu cánh Phạm hạnh ngay trong hiện tại, trở thành một vị A-LA-HÁN.

Xin thưa lời cuối cho anh chị em, và con nghĩ bài này nói đúng hai chỗ của mình.

Thứ nhất là lời quở ở đầu: xin pháp rồi phải VỀ MÀ LÀM, chứ không phải chỉ ở gần thầy cho yên tâm.

Thứ hai là bậc thềm: TÂM PHẢI ĐỨNG VỮNG TRƯỚC ĐÃ. Chưa vững mà vội tu cái cao thì như xây trên nền lún.

Xin thưa một ghi nhận về trang, con phải nói rõ chứ không sửa thầm. Bản dựng đầu CẮT ô trích đoạn 10.1 ngay GIỮA CÂU, bỏ mất vế đầu “Này Tỷ-kheo, khi nào định này của Thầy được tu tập, được làm cho sung mãn như vậy…” — khiến người đọc tưởng đó là trọn đoạn.

Chúng con đã TỰ TẢI LẠI cả ba nguồn, đọc tận nơi và CHÉP ĐỦ vế đầu vào CẢ BA CỘTchứ KHÔNG đặt dấu lược của người biên tập vào ô trích, vì ô trích của trang chỉ được chứa chữ của nguồn.

  • “Pháp lược thuyết là bài pháp ngắn, dễ.” Bài “vắn tắt” ấy thật ra là CẢ MỘT LỘ TRÌNH: tâm vững → bốn vô lượng tâm → bốn niệm xứ, mỗi đề mục luyện qua bảy cách.
  • “Tu từ tâm là làm một lần rồi xong.” Kinh dạy “làm cho sung mãn, làm thành CỖ XE, làm thành CĂN CỨ ĐỊA”, và luyện qua BẢY CÁCH của định.
  • “Xin được pháp là xong việc.” Thế Tôn quở ngay ở đầu kinh: có người xin pháp rồi chỉ nghĩ đến việc ĐI THEO Ngài, không thực hành.
  • “Phải diệt sạch pháp bất thiện rồi mới tu được.” Kinh nói “không có XÂM CHIẾM tâm và không có CHÂN ĐỨNG”chúng vẫn khởi, nhưng không tìm được chỗ đứng.
  • Ngành Oanh. Chỉ lấy câu kết: tâm yên thì đi đâu cũng thấy dễ chịu.
  • Ngành Thiếu. Học bậc thềm: “không có chân đứng” — điều xấu khởi lên thì cứ khởi, đừng cho nó chỗ đứng.
  • Ngành Thanh và Huynh Trưởng. Soi lời quở ở đầu kinh, và bàn: mình học pháp xong có VỀ MÀ LÀM không? Rồi học bảy cách tu định.
  • Vì sao Thế Tôn không dạy ngay lần đầu?
  • Bậc thềm đầu tiên là gì?
  • “Cỗ xe” và “căn cứ địa” nghĩa là gì?
  • Bảy cách tu tập định là gì?
  • Kết quả của cả lộ trình là gì?

Nguyên văn Pāli chép từ ấn bản Mahāsaṅgīti — tệp dữ liệu gốc bilara-data của suttacentral.net, từng đoạn có đánh số. Bản tiếng Việt của Hoà thượng Thích Minh Châu; bản tiếng Anh của Tỳ-kheo Sujato. Bài này đã qua một lượt soi lại độc lập. Lượt soi ấy chỉ ra 1 chỗ cần xem lại; chỗ nào là lỗi thật thì chúng tôi đã sửa và ghi rõ ở Phần IV. Muốn đọc trọn bài kinh, xin xem nguyên văn ba thứ tiếng. Thấy chỗ nào khác ấn bản in, xin báo cho chúng tôi.