G.Đ.P.T Huyền Quang Phật Pháp · Tam Tạng Kinh Điển Tăng Chi Bộ · AN 8.53
Tám Điều Để Tự Biết Đâu Là Chánh Pháp

Kinh Pháp Tóm Tắt

Saṅkhitta Sutta — AN 8.53 · Pāli · Việt · Anh

Tam TạngTạng KinhTrung BộKinh Pháp Tóm Tắt

Mahāpajāpatī Gotamīdi mẫu đã nuôi Thái tử Tất-đạt-đa — xin Thế Tôn một pháp thật vắn tắt để mang đi tu một mình. Ngài không kể giáo lý, mà trao cho bà một CÁI THƯỚC: tám điều để tự kiểm xem một lời dạy có thật là Chánh Pháp hay không.

  • Bộ — Tăng Chi Bộ, Chương Tám Pháp, kinh 53
  • Phẩm — Gotamī (phẩm VI)
  • Nơi chốn — Vesālī, Đại Lâm (Mahāvana), ngôi nhà có nóc nhọn
  • Bản Việt — Hoà thượng Thích Minh Châu, nhan đề Pháp Tóm Tắt

Kinh "Pháp Tóm Tắt" (AN 8.53) là một bài kinh rất ngắn nhưng cực kỳ quan trọng, thường được xem là "cây thước" để đo xem một lời dạy có thật sự là Chánh pháp hay không. Bối cảnh: Thế Tôn trú ở Vesàli, tại Ðại Lâm (Mahàvana), trong ngôi nhà có nóc nhọn. Mahàpajàpatì Gotamì — di mẫu đã nuôi dưỡng Thái tử Tất-đạt-đa — đến đảnh lễ và thưa xin Thế Tôn thuyết pháp vắn tắt, để sau khi nghe, bà sẽ "sống một mình, an tịnh, không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần". Thế Tôn không giảng dài. Ngài trao cho bà tám cặp đối chiếu. Pháp nào đưa đến tham dục, đến hệ phược (trói buộc), đến tích tập, đến dục lớn, đến không biết đủ, đến tụ hội ồn ào, đến biếng nhác, đến khó nuôi dưỡng — thì hãy thọ trì nhứt hướng, dứt khoát: "Ðó không phải Pháp, không phải Luật, không phải lời dạy của bậc Ðạo sư." Ngược lại, pháp nào đưa đến ly tham, ly hệ phược, không tích tập, ít dục, biết đủ, nhàn tịnh, tinh tấn, dễ nuôi dưỡng — thì "Ðó là Pháp, đó là Luật, đó là lời dạy của bậc Ðạo sư." Ý nghĩa cho Huynh trưởng và đoàn sinh: Ðức Phật dạy một tiêu chuẩn có thể tự mình kiểm chứng bằng kết quả thực tế nơi tâm mình, không cần dựa vào danh tiếng người nói. Cứ nhìn xem việc mình đang làm khiến mình bớt tham hay thêm tham, bớt đòi hỏi hay thêm đòi hỏi, siêng năng hơn hay lười hơn, dễ nuôi hay khó nuôi. Tám điều thiện trong kinh cũng chính là những đức tính mà đoàn sinh Gia Ðình Phật Tử được tập mỗi ngày: ít muốn, biết đủ, siêng năng, dễ hoà hợp và không làm phiền người khác.

Bố cục bài kinhTheo đúng thứ tự trong kinh văn

  • 1. Duyên khởi — Thế Tôn trú ở Vesàli, tại Mahàvana, ngôi nhà có nóc nhọn. Mahàpajàpatì Gotamì đến đảnh lễ và đứng một bên.
  • 2. Lời thỉnh cầu của Mahàpajàpatì Gotamì — Bà xin Thế Tôn thuyết pháp vắn tắt, để sau khi nghe, bà sống một mình, an tịnh, không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần.
  • 3. Tám điều KHÔNG phải Pháp, Luật, lời dạy bậc Ðạo sư — Tám pháp đưa đến: tham dục, hệ phược, tích tập, dục lớn, không biết đủ, tụ hội, biếng nhác, khó nuôi dưỡng — hãy thọ trì nhứt hướng rằng đó không phải Pháp, không phải Luật, không phải lời dạy của bậc Ðạo sư.
  • 4. Tám điều LÀ Pháp, Luật, lời dạy bậc Ðạo sư — Tám pháp đưa đến: ly tham, ly hệ phược, không tích tập, ít dục, biết đủ, nhàn tịnh, tinh tấn, dễ nuôi dưỡng — hãy thọ trì nhứt hướng rằng đó là Pháp, là Luật, là lời dạy của bậc Ðạo sư.

Mỗi đoạn ghi nguyên văn Pāli, rồi bản Việt, rồi bản tiếng Anh. Số bên trái là số đoạn trong kinh, để đối chiếu được.

AN 8.53:1.1–1.2
Ekaṁ samayaṁ bhagavā vesāliyaṁ viharati mahāvane kūṭāgārasālāyaṁ. Atha kho mahāpajāpatī gotamī yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ aṭṭhāsi. Ekamantaṁ ṭhitā kho sā mahāpajāpatī gotamī bhagavantaṁ etadavoca:
Một thời, Thế Tôn trú ở Vesàli, tại Mahàvana, ở ngôi nhà có nóc nhọn. Rồi Mahàpajàpatì Gotamì đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi đứng một bên. Ðứng một bên, Mahàpajàpatì Gotamì bạch Thế Tôn:
At one time the Buddha was staying near Vesālī, at the Great Wood, in the hall with the peaked roof. Then Mahāpajāpati Gotamī went up to the Buddha, bowed, stood to one side, and said to him:
AN 8.53:2.1
“Sādhu me, bhante, bhagavā saṅkhittena dhammaṁ desetu, yamahaṁ bhagavato dhammaṁ sutvā ekā vūpakaṭṭhā appamattā ātāpinī pahitattā vihareyyan”ti.
—Lành thay, bạch Thế Tôn! Thế Tôn hãy thuyết pháp vắn tắt cho con, sau khi Thế Tôn thuyết pháp, con sẽ sống một mình, an tịnh, không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần.
“Sir, may the Buddha please teach me Dhamma in brief. When I’ve heard it, I’ll live alone, withdrawn, diligent, keen, and resolute.”
AN 8.53:2.2–2.10
“Ye kho tvaṁ, gotami, dhamme jāneyyāsi: ‘ime dhammā sarāgāya saṁvattanti, no virāgāya; saṁyogāya saṁvattanti, no visaṁyogāya; ācayāya saṁvattanti, no apacayāya; mahicchatāya saṁvattanti, no appicchatāya; asantuṭṭhiyā saṁvattanti, no santuṭṭhiyā; saṅgaṇikāya saṁvattanti, no pavivekāya; kosajjāya saṁvattanti, no vīriyārambhāya; dubbharatāya saṁvattanti, no subharatāyā’ti,
—Này Gotamì, những pháp nào bà biết: “Những pháp này đưa đến tham dục, không phải ly tham; đưa đến hệ phước, không đưa đến ly hệ phước; đưa đến tích tập, không đưa đến không tích tập; đưa đến dục lớn, không đưa đến ít dục; đưa đến không biết đủ, không đưa đến biết đủ; đưa đến tụ hội, không đưa đến nhàn tịnh; đưa đến biếng nhác, không đưa đến tinh tấn; đưa đến khó nuôi dưỡng, không đưa đến dễ nuôi dưỡng”.
“Gotamī, you might know that certain things lead to passion, not dispassion; to yoking, not to unyoking; to accumulation, not dispersal; to more desires, not fewer; to lack of contentment, not contentment; to crowding, not seclusion; to laziness, not energy; to being burdensome, not being unburdensome.
AN 8.53:2.11–2.12
ekaṁsena, gotami, dhāreyyāsi: ‘neso dhammo, neso vinayo, netaṁ satthusāsanan’ti.
Này Gotamì, hãy thọ trì nhứt hướng rằng: “Ðó là không phải Pháp, đó là không phải Luật, đó là không phải lời dạy của bậc Ðạo sư”.
Categorically, you should remember these things as not the teaching, not the training, and not the Teacher’s instructions.
AN 8.53:3.1–3.9
Ye ca kho tvaṁ, gotami, dhamme jāneyyāsi: ‘ime dhammā virāgāya saṁvattanti, no sarāgāya; visaṁyogāya saṁvattanti, no saṁyogāya; apacayāya saṁvattanti, no ācayāya; appicchatāya saṁvattanti, no mahicchatāya; santuṭṭhiyā saṁvattanti, no asantuṭṭhiyā; pavivekāya saṁvattanti, no saṅgaṇikāya; vīriyārambhāya saṁvattanti, no kosajjāya; subharatāya saṁvattanti, no dubbharatāyā’ti,
Và này Gotamì, những pháp nào bà biết: “Những pháp đưa đến ly tham, không đưa đến tham dục; đưa đến ly hệ phước, không đưa đến hệ phước; đưa đến không tích tập, không đưa đến tích tập; đưa đến ít dục, không đưa đến dục lớn; đưa đến biết đủ, không đưa đến không biết đủ; đưa đến nhàn tịnh, không đưa đến tụ hội; đưa đến tinh tấn, không đưa đến biếng nhác; đưa đến dễ nuôi dưỡng, không đưa đến khó nuôi dưỡng”.
You might know that certain things lead to dispassion, not passion; to unyoking, not to yoking; to dispersal, not accumulation; to fewer desires, not more; to contentment, not lack of contentment; to seclusion, not crowding; to energy, not laziness; to being unburdensome, not being burdensome.
AN 8.53:3.10–3.11
ekaṁsena, gotami, dhāreyyāsi: ‘eso dhammo, eso vinayo, etaṁ satthusāsanan’”ti.
Này Gotamì, hãy thọ trì nhứt hướng rằng: “Ðó là Pháp, đó là Luật, đó là lời dạy của bậc Ðạo sư”.
Categorically, you should remember these things as the teaching, the training, and the Teacher’s instructions.”
Chữ PāliNghĩaGhi chú
saṅkhittenamột cách vắn tắt, tóm tắtBà Gotamì xin Thế Tôn "thuyết pháp vắn tắt"; từ này thành tên kinh.
virāga / sarāgaly tham / tham dụcCặp thứ nhất trong tám cặp đối chiếu.
saṁyoga / visaṁyogatrói buộc (hệ phược) / cởi trói (ly hệ phược)
ācaya / apacayatích tập / không tích tập (chất chứa / buông bỏ)
appicchatā / mahicchatāít dục / dục lớn (ham muốn nhiều)
santuṭṭhibiết đủ, tri túc
paviveka / saṅgaṇikānhàn tịnh, độc cư / tụ hội, đám đông
vīriyārambha / kosajjatinh tấn, khởi sự tinh cần / biếng nhác
subharatā / dubbharatādễ nuôi dưỡng / khó nuôi dưỡng
ekaṁsenamột cách nhứt hướng, dứt khoát, không do dự
satthusāsanalời dạy của bậc Ðạo sư
appamatta, ātāpī, pahitattakhông phóng dật, nhiệt tâm, tinh cầnCụm từ quen thuộc chỉ thái độ tu tập tinh chuyên.

Xin thưa trước về người đứng hỏi, vì bà không phải người thường. Mahāpajāpatī Gotamī là DI MẪU của Đức Phậtem gái của hoàng hậu Māyā, người đã nuôi Thái tử Tất-đạt-đa từ khi mẹ Ngài mất. Và bà cũng là người nữ đầu tiên xin xuất gia.

Bà xin điều gì? Xin thưa, bà không xin ban ơn, không xin thọ ký. Bà xin “thuyết pháp VẮN TẮT”, để sau khi nghe, bà sẽ sống MỘT MÌNH, an tịnh, không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần.

Xin để ý câu ấy: bà nói rõ mình sẽ LÀM GÌ với lời dạy trước khi xin. Bà không xin để biết thêm — bà xin để mang đi hành.

Và câu trả lời của Thế Tôn là chỗ đặc biệt nhất của bài kinh này. Ngài KHÔNG giảng Bốn Thánh Đế. KHÔNG giảng Bát Chánh Đạo. KHÔNG dạy một đề mục thiền nào cả.

Ngài trao cho bà một CÁI THƯỚC. Ngài dạy: “những pháp nào bà BIẾT rằng…” — nghĩa là từ nay bà tự đo lấy.

Thước ấy có tám vạch, xếp thành từng cặp đối nhau. Xin đọc chậm cả tám. Đưa đến THAM DỤC hay LY THAM? Đưa đến TRÓI BUỘC hay CỞI TRÓI? Đưa đến TÍCH TẬP hay KHÔNG TÍCH TẬP? Đưa đến DỤC LỚN hay ÍT DỤC?

Bốn vạch còn lại: KHÔNG BIẾT ĐỦ hay BIẾT ĐỦ? TỤ HỘI hay NHÀN TỊNH? BIẾNG NHÁC hay TINH TẤN? KHÓ NUÔI DƯỠNG hay DỄ NUÔI DƯỠNG?

Nếu là vế trước, Ngài dạy: “hãy THỌ TRÌ NHỨT HƯỚNG rằng đó KHÔNG PHẢI Pháp, KHÔNG PHẢI Luật, KHÔNG PHẢI lời dạy của bậc Đạo sư”. Nếu là vế sau, thì đó LÀ Pháp, LÀ Luật, LÀ lời dạy của bậc Đạo sư.

Xin thưa mấy chữ “THỌ TRÌ NHỨT HƯỚNG” là chỗ mạnh nhất. Nhứt hướng (ekaṁsena) nghĩa là DỨT KHOÁT, một chiều, không cần dè dặt. Đức Phật cho phép người học kết luận thẳng, không phải hỏi lại ai.

Và đó là điều con nghĩ rất đáng nói với anh chị em Huynh Trưởng. Ngài trao quyền thẩm định ấy cho một người học trò, và người học trò ấy là một người nữ lớn tuổi sắp đi tu một mình. Không bắt bà phải trở lại hỏi Ngài mỗi lần gặp điều nghi.

Bài kinh này thường được xếp cạnh Kinh Kālāma (AN 3.65), và hai bài bổ cho nhau. Kālāma nói về chỗ ĐỪNG tin: đừng vì nghe truyền lại, đừng vì kinh điển, đừng vì thầy mình nói. Bài này nói tiếp: vậy thì lấy gì mà đo.

Và xin để ý cái thước này đo BẰNG KẾT QUẢ, không đo bằng danh nghĩa.không hỏi “ai nói câu này”, không hỏi “sách nào chép”. Nó chỉ hỏi “pháp ấy ĐƯA ĐẾN đâu”.

Xin nói riêng về vạch “KHÓ NUÔI DƯỠNG / DỄ NUÔI DƯỠNG”, vì vạch này nghe lạ tai nhất. Dễ nuôi dưỡng (subharatā) là người ít đòi hỏi, ai cúng gì dùng nấy, không làm phiền người khác. Kinh xếp điều ấy ngang hàng với ly tham và tinh tấnvì một pháp môn mà càng tu càng làm khổ người chung quanh thì có gì đó đã sai.

Xin thưa thêm một chỗ về chữ nghĩa, để bác khỏi thắc mắc khi đọc. Trong bản in tại nguồn, cặp saṁyoga / visaṁyoga được ghi là “hệ phước / ly hệ phước”, còn các bản khác thường in “hệ phược / ly hệ phược” (phược nghĩa là trói buộc). Trang này chép đúng nguyên văn theo nguồn, không sửa chữ của Hoà thượng — chỉ xin ghi chú để bác đọc cho thông.

Xin thưa lời cuối cho anh chị em. Ngày nay các em nghe pháp từ rất nhiều nguồnđiện thoại, YouTube, người này người kia — và anh chị em không thể kiểm hết được. Bài kinh này chính là thứ nên trao cho các em: không phải một danh sách ai đáng tin, mà một cái thước để các em tự đo. Tám câu hỏi, học thuộc được, và dùng được suốt đời.

  • “Đây là bài kinh dạy giáo lý.” Không — Thế Tôn không giảng một giáo lý nào. Ngài trao một CÁI THƯỚC để người học tự đo mọi lời dạy về sau.
  • “Cái thước này để chê người khác.” Bà Gotamī xin pháp để mang đi tu MỘT MÌNH. Thước ấy trước hết dùng để đo chính đường tu của mình.
  • “Nhứt hướng nghĩa là phải hỏi lại thầy cho chắc.” Ngược lại — nhứt hướng (ekaṁsena) nghĩa là DỨT KHOÁT. Ngài cho phép bà kết luận thẳng.
  • Ngành Oanh. Kể chuyện bà nuôi của Đức Phật đi xin học, rồi dạy hai vạch dễ nhất: biết đủsiêng năng.
  • Ngành Thiếu. Học thuộc tám cặp, rồi thử soi một điều mình mới nghe trên mạng.
  • Ngành Thanh và Huynh Trưởng. Đọc bài này cạnh Kinh Kālāma: một bài nói đừng dựa vào đâu, một bài nói lấy gì mà đo.
  • Bà Mahāpajāpatī Gotamī là ai?
  • Bà xin điều gì, và để làm gì?
  • Tám cặp đối chiếu là những cặp nào?
  • “Thọ trì nhứt hướng” nghĩa là sao?

Nguyên văn Pāli chép từ ấn bản Mahāsaṅgīti — tệp dữ liệu gốc bilara-data của suttacentral.net, từng đoạn có đánh số. Bản tiếng Việt của Hoà thượng Thích Minh Châu; bản tiếng Anh của Tỳ-kheo Sujato. Bài này đã qua một lượt soi lại độc lập. Muốn đọc trọn bài kinh, xin xem nguyên văn ba thứ tiếng. Thấy chỗ nào khác ấn bản in, xin báo cho chúng tôi.