G.Đ.P.T Huyền Quang Phật Pháp · Tam Tạng Kinh Điển Tăng Chi Bộ · AN 8.30
Bảy Điều Ngài Nghĩ · Điều Thứ Tám Phật Đến Dạy

Kinh Tôn Giả Anuruddha

Anuruddhamahāvitakka Sutta — AN 8.30 · Pāli · Việt · Anh

Tam TạngTạng KinhTrung BộKinh Tôn Giả Anuruddha

Tôn giả Anuruddha ngồi một mình trong rừng, tâm khởi lên BẢY điều suy nghĩ. Đức Phật ở rất xa, rõ biết tâm ấy, biến mất khỏi rừng Bhesakaḷā và HIỆN RA NGAY TRƯỚC MẶT ngài — chỉ để khen “Lành thay” và trao cho điều thứ TÁM.

  • Bộ — Tăng Chi Bộ, Chương Tám Pháp, kinh 30
  • Phẩm — Gia Chủ
  • Nơi chốn — Tôn giả ở Pācīnavaṁsadāya giữa dân chúng Cetī; Thế Tôn ở núi Suṁsumāra, rừng Bhesakaḷā
  • Bản Việt — Hoà thượng Thích Minh Châu, nhan đề Tôn Giả Anuruddha

Kinh này thuộc Tăng Chi Bộ, Chương Tám Pháp, Phẩm Gia Chủ. Lúc bấy giờ Thế Tôn trú giữa dân chúng Bhagga, tại núi Sumsumàra, rừng Bhesakalà, vườn Lộc Uyển; còn Tôn giả Anuruddha (A-nậu-lâu-đà) thì sống một mình giữa dân chúng Cetì, tại Pàcìnavamsadàya. Trong khi sống độc cư Thiền tịnh, tâm Tôn giả Anuruddha khởi lên bảy điều suy nghĩ: pháp này là để cho người ít dục, biết đủ, sống thanh vắng, tinh cần tinh tấn, trú niệm, thiền định, có trí tuệ — chứ không phải cho người nhiều dục, không biết đủ, ưa hội chúng, biếng nhác, thất niệm, không thiền định, ác tuệ. Thế Tôn với tâm mình rõ biết tâm tư ấy, liền biến mất ở rừng Bhesakalà và hiện ra ngay trước mặt Tôn giả Anuruddha. Ngài tán thán "Lành thay", rồi dạy thêm niệm thứ tám: pháp này để cho người không ưa hý luận, không thích hý luận. Đủ tám tư niệm của bậc Đại nhân ấy, Tôn giả sẽ chứng đạt bốn Thiền không khó khăn, không mệt nhọc, không phí sức; và khi đó tấm y phấn tảo, món ăn khất thực, chỗ nằm dưới gốc cây, đệm cỏ, dược phẩm nước tiểu hôi của một vị khất sĩ sẽ quý như y phục, cơm gạo trắng, nhà có nóc nhọn, giường nệm và các loại thuốc quý của người gia chủ — "để được sống biết đủ, ưa thích, không có lo âu, được lạc trú, được bước vào Niết-bàn". Thế Tôn dặn Tôn giả an cư mùa mưa tại chỗ ấy rồi trở về, và giảng lại tám tư niệm này cho chư Tỷ-kheo, giải thích từng điều một: người ít dục thì không muốn người khác biết mình ít dục; người biết đủ thì bằng lòng với bất cứ y áo, đồ ăn, sàng tọa, dược phẩm nào; còn về VIỄN LY thì kinh nói rất cụ thể: dù vị Tỷ-kheo sống viễn ly, vẫn có Tỷ-kheo, Tỷ-kheo-ni, nam nữ cư sĩ, vua, đại thần, ngoại đạo và đệ tử ngoại đạo đến thăm; khi ấy vị ấy với tâm thiên về viễn ly, hướng về viễn ly, thích thú xuất ly, chỉ nói lời khiến khách ra về. Kết thúc, Tôn giả Anuruddha an cư tại đó, sống một mình, không phóng dật, nhiệt tâm tinh cần, và chứng quả A-la-hán, nói lên bài kệ tán thán bậc Đạo Sư đã biết rõ tâm mình và dạy pháp không hý luận. Đây là bài kinh rất hợp để dạy đoàn sinh về hạnh thiểu dục tri túc.

Bố cục bài kinhTheo đúng thứ tự trong kinh văn

  • 1. Bảy tư niệm khởi lên nơi Tôn giả Anuruddha — Tôn giả Anuruddha sống độc cư Thiền tịnh giữa dân chúng Cetì, tâm tư khởi lên bảy điều: pháp này để cho người ít dục, biết đủ, sống thanh vắng, tinh cần tinh tấn, trú niệm, Thiền định, có trí tuệ.
  • 2. Thế Tôn hiện đến và dạy tư niệm thứ tám — Thế Tôn rõ biết tâm tư ấy, biến mất ở rừng Bhesakalà và hiện ra trước mặt Tôn giả, tán thán rồi dạy thêm niệm thứ tám: pháp này để cho người không ưa hý luận, không thích hý luận.
  • 3. Tám tư niệm đưa đến bốn Thiền — Khi suy nghĩ đến tám tư niệm này, nếu muốn, Tôn giả sẽ chứng đạt và an trú Thiền thứ nhất, thứ hai, thứ ba, thứ tư.
  • 4. Năm ví dụ về hạnh biết đủ với bốn vật dụng — Y phấn tảo, món ăn khất thực, chỗ nằm dưới gốc cây, đệm cỏ, dược phẩm nước tiểu hôi sẽ được xem như của cải quý của người gia chủ, để được sống biết đủ, ưa thích, không lo âu, được lạc trú, được bước vào Niết-bàn.
  • 5. Thế Tôn dặn an cư và trở về giảng cho chư Tỷ-kheo — Thế Tôn dặn Tôn giả an cư mùa mưa tại Pàcìnavamsadàya, rồi biến mất trở về rừng Bhesakalà và tuyên thuyết tám tư niệm của bậc Đại nhân cho các Tỷ-kheo.
  • 6. Giải thích từng tư niệm một — Mỗi điều đều nêu lại lời đã nói, hỏi "Do duyên gì được nói như vậy?", rồi giải thích: ít dục, biết đủ, viễn ly, tinh cần tinh tấn, trú niệm, thiền định, trí tuệ, không ưa hý luận.
  • 7. Tôn giả Anuruddha chứng A-la-hán và nói kệ — Tôn giả an cư tại đó, sống một mình không phóng dật, chứng ngộ vô thượng cứu cánh Phạm hạnh, trở thành A-la-hán và nói lên các bài kệ.

Mỗi đoạn ghi nguyên văn Pāli, rồi bản Việt, rồi bản tiếng Anh. Số bên trái là số đoạn trong kinh, để đối chiếu được.

AN 8.30.1
appicchassāyaṁ dhammo, nāyaṁ dhammo mahicchassa; santuṭṭhassāyaṁ dhammo, nāyaṁ dhammo asantuṭṭhassa; pavivittassāyaṁ dhammo, nāyaṁ dhammo saṅgaṇikārāmassa; āraddhavīriyassāyaṁ dhammo, nāyaṁ dhammo kusītassa; upaṭṭhitassatissāyaṁ dhammo, nāyaṁ dhammo muṭṭhassatissa; samāhitassāyaṁ dhammo, nāyaṁ dhammo asamāhitassa; paññavato ayaṁ dhammo, nāyaṁ dhammo duppaññassā’ti.
Pháp này để cho người ít dục, pháp này không phải để cho người nhiều dục; Pháp này để cho người biết đủ, pháp này không phải để cho người không biết đủ; Pháp này để cho người sống thanh vắng, pháp này không phải để cho người ưa hội chúng; Pháp này để cho người tinh cần tinh tấn, pháp này không phải để cho người biếng nhác; Pháp này để cho người trú niệm, pháp này không phải để cho người thất niệm; Pháp này để cho người Thiền định, pháp này không phải để cho người không Thiền định; Pháp này để cho người có trí tuệ, pháp này không phải để cho người ác tuệ.
“This teaching is for those of few wishes, not those of many wishes. It’s for the contented, not those who lack contentment. It’s for the secluded, not those who enjoy company. It’s for the energetic, not the lazy. It’s for the mindful, not the unmindful. It’s for those with immersion, not those without immersion. It’s for the wise, not the witless.”
AN 8.30.3
Tena hi tvaṁ, anuruddha, imampi aṭṭhamaṁ mahāpurisavitakkaṁ vitakkehi: ‘nippapañcārāmassāyaṁ dhammo nippapañcaratino, nāyaṁ dhammo papañcārāmassa papañcaratino’ti.
Do vậy, này Anuruddha, hãy suy nghĩ đến niệm thứ tám này của bậc Ðại nhân: “Pháp này để cho người không ưa hý luận, không thích hý luận, Pháp này không phải để cho người ưa hý luận, thích hý luận “.
Well then, Anuruddha, you should also reflect on the following eighth thought of a great man: ‘This teaching is for those who don’t enjoy proliferating and don’t like to proliferate, not for those who enjoy proliferating and like to proliferate.’
AN 8.30.8
Yato kho tvaṁ, anuruddha, ime ca aṭṭha mahāpurisavitakke vitakkessasi, imesañca catunnaṁ jhānānaṁ ābhicetasikānaṁ diṭṭhadhammasukhavihārānaṁ nikāmalābhī bhavissasi akicchalābhī akasiralābhī, tato tuyhaṁ, anuruddha, seyyathāpi nāma gahapatissa vā gahapatiputtassa vā nānārattānaṁ dussānaṁ dussakaraṇḍako pūro; evamevaṁ te paṁsukūlacīvaraṁ khāyissati santuṭṭhassa viharato ratiyā aparitassāya phāsuvihārāya okkamanāya nibbānassa.
Khi nào, này Anuruddha, Thầy sẽ suy nghĩ đến tám tư niệm này của bậc Ðại nhân, khi nào bốn Thiền này thuộc tăng thượng tâm, hiện tại lạc trú, chứng được không khó khăn, chứng được không mệt nhọc, chứng được không phí sức, thời này Anuruddha, tấm y lượm từ đống rác lên của Thầy sẽ giống như tủ áo đầy những vải có nhiều màu sắc của người gia chủ hay con người gia chủ, để được sống biết đủ, ưa thích, không có lo âu, được lạc trú, được bước vào Niết-bàn.
First you’ll reflect on these eight thoughts of a great man, and you’ll get the four absorptions—blissful meditations in this life that belong to the higher mind—when you want, without trouble or difficulty. Then as you live contented, your rag robe will seem to you like a chest full of garments of different colors seems to a householder or householder’s child. It will be for your enjoyment, relief, and comfort, and for alighting upon extinguishment.
AN 8.30.17
Idha, bhikkhave, bhikkhu appiccho samāno ‘appicchoti maṁ jāneyyun’ti na icchati, santuṭṭho samāno ‘santuṭṭhoti maṁ jāneyyun’ti na icchati, pavivitto samāno ‘pavivittoti maṁ jāneyyun’ti na icchati, āraddhavīriyo samāno ‘āraddhavīriyoti maṁ jāneyyun’ti na icchati, upaṭṭhitassati samāno ‘upaṭṭhitassatīti maṁ jāneyyun’ti na icchati, samāhito samāno ‘samāhitoti maṁ jāneyyun’ti na icchati, paññavā samāno ‘paññavāti maṁ jāneyyun’ti na icchati, nippapañcārāmo samāno ‘nippapañcārāmoti maṁ jāneyyun’ti na icchati.
Này các Tỷ-kheo, ở đây, Tỷ-kheo ít dục không muốn: “Mong người ta biết tôi là ít dục”; biết đủ, không muốn: “Mong người ta biết tôi là biết đủ”; sống viễn ly, không muốn: “Mong người ta biết tôi sống viễn ly”; tinh cần tinh tấn, không muốn: “Mong người ta biết tôi sống tinh cần tinh tấn”; trú niệm, không muốn: “Mong người ta biết tôi trú niệm”; có định, không muốn: “Mong người ta biết tôi có định”; có tuệ, không muốn: “Mong người ta biết tôi là người có tuệ “; không thích hý luận, không muốn: “Mong người ta biết tôi không thích hý luận”.
A mendicant with few wishes doesn’t wish: ‘May they know me as having few wishes!’ When contented, they don’t wish: ‘May they know me as contented!’ When secluded, they don’t wish: ‘May they know me as secluded!’ When energetic, they don’t wish: ‘May they know me as energetic!’ When mindful, they don’t wish: ‘May they know me as mindful!’ When immersed, they don’t wish: ‘May they know me as immersed!’ When wise, they don’t wish: ‘May they know me as wise!’ When not enjoying proliferation, they don’t wish: ‘May they know me as one who doesn’t enjoy proliferating!’
AN 8.30.19
Idha, bhikkhave, bhikkhu santuṭṭho hoti itarītaracīvarapiṇḍapātasenāsanagilānapaccayabhesajjaparikkhārena.
Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo biết đủ với bất cứ vật dụng gì như y áo, đồ ăn khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh.
It’s for a mendicant who’s content with any kind of robes, almsfood, lodgings, and medicines and supplies for the sick.
AN 8.30.23
Idha, bhikkhave, bhikkhu āraddhavīriyo viharati akusalānaṁ dhammānaṁ pahānāya kusalānaṁ dhammānaṁ upasampadāya thāmavā daḷhaparakkamo anikkhittadhuro kusalesu dhammesu.
Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo sống tinh cần tinh tấn, đoạn tận các pháp bất thiện, thành tựu các Pháp thiện, nỗ lực kiên trì, không từ bỏ gánh nặng đối với các thiện pháp.
It’s for a mendicant who lives with energy roused up for giving up unskillful qualities and embracing skillful qualities. They’re strong, staunchly vigorous, not slacking off when it comes to developing skillful qualities.
AN 8.30.31
Idha, bhikkhave, bhikkhuno papañcanirodhe cittaṁ pakkhandati pasīdati santiṭṭhati vimuccati.
Này các Tỷ-kheo, ở đây, Tỷ-kheo đối với đoạn diệt hý luận, tâm được phấn chấn, tịnh tín, an trú, hướng đến.
It’s for a mendicant whose mind leaps forth, gains confidence, settles down, and becomes decided regarding the cessation of proliferation.
AN 8.30.32 (kệ)
“Mama saṅkappamaññāya, satthā loke anuttaro; Manomayena kāyena, iddhiyā upasaṅkami. Yathā me ahu saṅkappo, tato uttari desayi; Nippapañcarato buddho, nippapañcaṁ adesayi. Tassāhaṁ dhammamaññāya, vihāsiṁ sāsane rato; Tisso vijjā anuppattā, kataṁ buddhassa sāsanan”ti.
Thế gian vô thượng sư / Rõ biết tư tưởng ta / Với thân do ý tạo / Thần thông đến với ta / Tùy theo ta nghĩ gì / Ngài thuyết rõ tất cả / Phật không ưa hý luận / Ngài thuyết, không hý luận / Ngộ pháp, ta hoan hỷ / Trú trong giáo pháp ngài / Ba minh đã đạt được / Giáo pháp Phật làm xong.
“Knowing my thoughts, the supreme Teacher in the world came to me in a mind-made body, using his psychic power. He taught me more than I had thought of. The Buddha who loves non-proliferation taught me non-proliferation. Understanding that teaching, I happily did his bidding. I’ve attained the three knowledges, and have fulfilled the Buddha’s instructions.”
Chữ PāliNghĩaGhi chú
mahāpurisavitakkatư niệm (suy nghĩ) của bậc Đại nhânBản Minh Châu dịch là "tám tư niệm của bậc Ðại nhân"; có chỗ trong kinh dùng "bảy niệm của bậc Ðại nhân".
appicchaít dụctrái nghĩa: mahiccha — nhiều dục
santuṭṭhabiết đủ (tri túc)trái nghĩa: asantuṭṭha
paviveka / pavivittaviễn ly, sống thanh vắngtrái nghĩa: saṅgaṇikārāma — ưa hội chúng
āraddhavīriyatinh cần tinh tấntrái nghĩa: kusīta — biếng nhác
upaṭṭhitassatitrú niệm, niệm được an trútrái nghĩa: muṭṭhassati — thất niệm
samāhitacó định, Thiền địnhtrái nghĩa: asamāhita
paññavācó trí tuệtrái nghĩa: duppañña — ác tuệ / không trí tuệ
papañca / nippapañcahý luận / không hý luậnpapañcanirodha: đoạn diệt hý luận
jhānaThiền (bốn Thiền: thứ nhất đến thứ tư)thuộc tăng thượng tâm (ābhicetasika), hiện tại lạc trú
paṁsukūlacīvaray phấn tảo — tấm y lượm từ đống rác lên
pūtimuttabhesajjadược phẩm nước tiểu hôi
vassāvāsaan cư mùa mưa
nibbānaNiết-bànokkamanāya nibbānassa: được bước vào Niết-bàn

Xin thưa bài kinh này có một cảnh mà con đọc hoài không chán. Tôn giả Anuruddha đang sống MỘT MÌNH, độc cư Thiền tịnh, giữa dân chúng Cetī. Thế Tôn thì ở rất xa — giữa dân chúng Bhagga, núi Suṁsumāra, rừng Bhesakaḷā.

Trong khi ngồi một mình, tâm Tôn giả khởi lên BẢY điều suy nghĩ. Xin để ý bảy điều ấy đều có cùng một khuôn: “Pháp này ĐỂ CHO người… , pháp này KHÔNG PHẢI để cho người…”

Bảy điều ấy là: pháp này để cho người ÍT DỤC, không phải cho người nhiều dục; người BIẾT ĐỦ, không phải người không biết đủ; người SỐNG THANH VẮNG, không phải người ưa hội chúng; người TINH CẦN TINH TẤN, không phải người biếng nhác; người TRÚ NIỆM, không phải người thất niệm; người THIỀN ĐỊNH, không phải người không thiền định; người CÓ TRÍ TUỆ, không phải người ác tuệ.

Và rồi tới đoạn con muốn bác đọc thật chậm. “Thế Tôn với tâm mình rõ biết tâm tư ấy” — Ngài BIẾN MẤT ở rừng Bhesakaḷā và HIỆN RA NGAY TRƯỚC MẶT Tôn giả Anuruddha.

Xin thưa: Ngài đi một quãng đường rất xa, bằng thần thông, để làm gì? Để nói “LÀNH THAY” — và trao cho điều thứ TÁM.

Điều thứ tám: “Pháp này để cho người KHÔNG ƯA HÝ LUẬN, KHÔNG THÍCH HÝ LUẬN; pháp này không phải để cho người ưa hý luận, thích hý luận.”

Xin thưa chữ HÝ LUẬN (papañca) khó dịch lắm. Nó nghĩa là cái TRÒ SINH SÔI CỦA Ý NGHĨmột chuyện nhỏ mà tâm cứ nở ra, thêm thắt, bàn tới bàn lui, dựng thành cả một câu chuyện. Bản Anh dịch là “proliferation” — sự nảy nở tràn lan.

Và xin để ý điều rất hay: BẢY điều đầu Tôn giả TỰ NGHĨ RA. Chỉ riêng điều thứ tám là Đức Phật phải ĐÍCH THÂN tới trao.

Con nghĩ chi tiết ấy nói một điều rất tinh: hý luận là thứ khó tự thấy nhất. Người ta biết mình tham, biết mình lười, biết mình mất niệm. Nhưng cái tâm đang bận rộn nở ra thì rất giống việc đang suy nghĩ đàng hoàng — nên chính nó tự soi nó không ra.

Rồi Thế Tôn nói: khi đủ TÁM tư niệm của bậc Đại nhân ấy, Tôn giả sẽ chứng đạt BỐN THIỀN “không khó khăn, không mệt nhọc, KHÔNG PHÍ SỨC”.

Và tới đoạn ví dụ, mà con thấy là đoạn đẹp nhất bài kinh. Khi ấy thì tấm y PHẤN TẢO — y lượm từ đống rác lên — sẽ quý như tủ áo đầy vải quý của người gia chủ; món ăn KHẤT THỰC quý như cơm gạo trắng; chỗ nằm DƯỚI GỐC CÂY quý như nhà có nóc nhọn; ĐỆM CỎ quý như giường nệm; và dược phẩm NƯỚC TIỂU HÔI quý như các loại thuốc quý.

Xin để ý mục đích được nêu ra ngay sau đó — kinh nói rất rõ, không để ai hiểu lệch: “ĐỂ ĐƯỢC SỐNG BIẾT ĐỦ, ƯA THÍCH, KHÔNG CÓ LO ÂU, ĐƯỢC LẠC TRÚ, ĐƯỢC BƯỚC VÀO NIẾT-BÀN.”

Xin thưa mục đích ấy là chỗ giữ cho bài kinh khỏi bị hiểu thành hạnh khổ hạnh. Kinh KHÔNG bảo phải chịu khổ cho đáng. Nó nói: sống ít đi mà thấy ĐỦ thì KHÔNG CÒN LO ÂU — và đó là LẠC TRÚ.

Rồi Thế Tôn dặn Tôn giả AN CƯ MÙA MƯA tại chỗ ấy, rồi trở về giảng lại tám tư niệm cho chư Tỷ-kheo — và giải thích từng điều một.

Và các lời giải thích ấy rất sắc. Xin thưa điều thứ nhất: “Tỷ-kheo ÍT DỤC KHÔNG MUỐN: ‘Mong người ta BIẾT tôi là ít dục’.” Biết đủ thì không muốn người ta biết mình biết đủ; sống viễn ly thì không muốn người ta biết mình sống viễn ly — và cứ thế đủ cả tám.

Xin thưa con thấy đó là một trong những định nghĩa sắc nhất của cả tạng kinh. Ít dục mà mong người ta biết mình ít dục thì CÁI MONG ẤY chính là dục. Kinh không định nghĩa bằng việc mình làm — mà bằng chỗ mình KHÔNG MUỐN AI THẤY.

Và về VIỄN LY, kinh nói rất cụ thể — chỗ này lượt soi của trang này chỉ ra, và đúng là chỗ đắt nhất. Dù vị Tỷ-kheo sống viễn ly, vẫn có Tỷ-kheo, Tỷ-kheo-ni, nam nữ cư sĩ, VUA, ĐẠI THẦN, ngoại đạo và đệ tử ngoại đạo ĐẾN THĂM. Khi ấy vị ấy, với tâm thiên về viễn ly, hướng về viễn ly, thích thú xuất ly, CHỈ NÓI LỜI KHIẾN KHÁCH RA VỀ.

Xin thưa vì sao chỗ ấy đắt. Viễn ly KHÔNG được định nghĩa bằng chỗ ở vắng người. Nó được định nghĩa bằng cách cư xử KHI NGƯỜI TA TỚI. Ai cũng có thể vào rừng; ít ai giữ được lòng viễn ly khi có vua tới thăm.

Và kinh kết: Tôn giả Anuruddha an cư tại đó, sống một mình, KHÔNG PHÓNG DẬT, nhiệt tâm tinh cần, và CHỨNG QUẢ A-LA-HÁN. Rồi ngài nói bài kệ, trong đó có câu: “Phật KHÔNG ƯA HÝ LUẬN, Ngài thuyết, KHÔNG HÝ LUẬN.”

Xin thưa lời cuối cho anh chị em. Bài này rất hợp để dạy hạnh THIỂU DỤC TRI TÚC, và con xin đề nghị dạy bằng đúng câu định nghĩa kia: “ít dục thì KHÔNG MUỐN người ta biết mình ít dục”. Vì các em ở tuổi rất dễ làm việc tốt để được khenvà câu ấy dạy các em một bậc cao hơn: làm rồi thôi, đừng mong ai thấy.

  • “Kinh dạy sống khổ cực cho đáng công tu.” Kinh nêu rõ mục đích: “để được sống BIẾT ĐỦ, ƯA THÍCH, KHÔNG CÓ LO ÂU, được LẠC TRÚ, được bước vào Niết-bàn”.
  • “Ít dục là làm cho người ta thấy mình giản dị.” Kinh định nghĩa ngược lại: “ít dục KHÔNG MUỐN: ‘Mong người ta biết tôi là ít dục’.”
  • “Viễn ly là ở chỗ vắng người.” Kinh nói dù sống viễn ly vẫn có khách đến thăm, kể cả vua và đại thần; viễn ly là khi ấy chỉ nói lời khiến khách ra về.
  • “Bảy tư niệm là do Đức Phật dạy cả.” BẢY điều đầu do chính Tôn giả Anuruddha tự nghĩ ra; Đức Phật đích thân tới trao điều THỨ TÁM — về hý luận.
  • Ngành Oanh. Kể chuyện Đức Phật hiện ra trước mặt ngài Anuruddha, rồi dạy biết đủ bằng lời giản dị.
  • Ngành Thiếu. Học câu “ít dục thì không muốn người ta biết mình ít dục”: làm việc tốt rồi thôi, đừng mong ai thấy.
  • Ngành Thanh và Huynh Trưởng. Bàn về HÝ LUẬN: vì sao đó là điều khó tự thấy nhất, tới mức Đức Phật phải đích thân tới trao?
  • Bảy tư niệm khởi lên nơi ai, ở đâu?
  • Điều thứ tám là điều gì, và ai dạy?
  • Hý luận (papañca) nghĩa là gì?
  • Kinh định nghĩa “ít dục” bằng cách nào?

Nguyên văn Pāli chép từ ấn bản Mahāsaṅgīti — tệp dữ liệu gốc bilara-data của suttacentral.net, từng đoạn có đánh số. Bản tiếng Việt của Hoà thượng Thích Minh Châu; bản tiếng Anh của Tỳ-kheo Sujato. Bài này đã qua một lượt soi lại độc lập. Lượt soi ấy chỉ ra 1 chỗ cần xem lại; chỗ nào là lỗi thật thì chúng tôi đã sửa và ghi rõ ở Phần IV. Muốn đọc trọn bài kinh, xin xem nguyên văn ba thứ tiếng. Thấy chỗ nào khác ấn bản in, xin báo cho chúng tôi.