G.Đ.P.T Huyền Quang Phật Pháp · Tam Tạng Kinh Điển Tăng Chi Bộ · AN 8.29
Tám Phi Thời · Và Một Chánh Thời Duy Nhất

Kinh Không Phải Thời

Akkhaṇa Sutta — AN 8.29 · Pāli · Việt · Anh

Tam TạngTạng KinhTrung BộKinh Không Phải Thời

Người đời ai cũng nói “làm việc đúng thời” — nhưng “vị ấy KHÔNG BIẾT đúng thời và phi thời”. Thế Tôn chỉ ra TÁM PHI THỜI cho đời sống Phạm hạnh, và chỉ MỘT CHÁNH THỜI duy nhất.

  • Bộ — Tăng Chi Bộ, Chương Tám Pháp, kinh 29
  • Phẩm — Gia Chủ (Gahapativagga)
  • Nơi chốn — kinh không ghi; Thế Tôn dạy thẳng
  • Đọc kèmAN 5.78 (năm sợ hãi tương lai) và AN 6.19 (niệm chết)

Kinh mở đầu bằng câu nói cửa miệng của người đời: "Làm việc đúng thời là thế giới" — ai cũng nói tới "đúng thời", nhưng kẻ vô văn phàm phu thật ra không biết thế nào là đúng thời, thế nào là phi thời. Từ đó Thế Tôn chỉ ra tám phi thời (akkhaṇa), tức tám hoàn cảnh mà một chúng sanh không thể sống đời Phạm hạnh, không thể tu học được. Bảy phi thời đầu đều có chung một điều kiện thuận: Như Lai đã xuất hiện ở đời, và Chánh pháp đưa đến an tịnh, tịch tịnh, giác ngộ đang được giảng dạy — nhưng người ấy lại: (1) sanh vào địa ngục, (2) sanh vào loài bàng sanh, (3) sanh vào cõi ngạ quỷ, (4) sanh vào chư Thiên có thọ mạng lâu dài, (5) sanh ở biên địa giữa những kẻ vô trí, nơi Tỷ-kheo, Tỷ-kheo-ni, nam nữ cư sĩ không lui tới, (6) sanh vào chánh địa (trung quốc) nhưng mang tà kiến, tri kiến đảo ngược, cho rằng không có bố thí, không có nghiệp quả, không có đời này đời sau, không có cha mẹ, (7) sanh vào chánh địa nhưng ác tuệ, si mê, câm điếc, không hiểu nổi ý nghĩa lời nói khéo hay dở. Phi thời thứ tám ngược lại: người ấy có trí tuệ, sáng suốt, đủ sức hiểu lời khéo nói — nhưng Như Lai không xuất hiện ở đời và Chánh pháp không được giảng. Chỉ có MỘT chánh thời duy nhất: Như Lai xuất hiện ở đời, Chánh pháp được giảng, và người ấy sanh vào chánh địa, có trí tuệ, không si mê, hiểu được lời nói khéo. Phần kệ kết thúc nhấn mạnh: được thân người khi diệu pháp đang được giảng mà không nắm lấy thời cơ thì là bỏ phí; Như Lai chỉ "năm khi mười họa" mới xuất hiện; kẻ để thời gian trôi qua sẽ sầu muộn, như người buôn mất của. Ai sống chánh niệm, hộ trì các căn, chặt đứt mọi tùy miên thì đến được bờ bên kia và đoạn tận các lậu hoặc.

Bố cục bài kinhTheo đúng thứ tự trong kinh văn

  • 1. Mở đề: phàm phu nói "đúng thời" mà không biết thời — Thế Tôn nêu câu nói quen thuộc của kẻ vô văn phàm phu, rồi tuyên bố có tám phi thời, phi thời tiết cho đời sống Phạm hạnh (AN 8.29:1.1–1.3 / TTC 1).
  • 2. Bảy phi thời đầu: có Phật, có Pháp, nhưng người ấy không gặp được — Địa ngục; bàng sanh; ngạ quỷ; chư Thiên thọ mạng lâu dài; biên địa giữa kẻ vô trí; chánh địa nhưng tà kiến; chánh địa nhưng ác tuệ si mê câm điếc (AN 8.29:1.4–7.3 / TTC 2–3).
  • 3. Phi thời thứ tám: người đủ trí nhưng không có Phật, không có Pháp — Như Lai không xuất hiện ở đời, Chánh pháp không được giảng; người ấy tuy sanh chánh địa, có trí tuệ, sáng suốt, hiểu được lời khéo nói (AN 8.29:8.1–9.1).
  • 4. Một chánh thời duy nhất — Như Lai xuất hiện ở đời, Chánh pháp được giảng, và người ấy sanh chánh địa, có trí tuệ, không si mê — đây là chánh thời tiết độc nhất cho đời sống Phạm hạnh (AN 8.29:10.1–10.5 / TTC 5–6).
  • 5. Phần kệ kết — Mười đoạn kệ (AN 8.29:11–20): được thân người gặp diệu pháp mà bỏ lỡ thời cơ; Như Lai hiếm khi xuất hiện; kẻ lỡ thời sầu muộn nơi địa ngục, như người buôn mất của; ai sống chánh niệm, hộ trì, chặt đứt tùy miên thì đến bờ bên kia, đoạn tận lậu hoặc.

Mỗi đoạn ghi nguyên văn Pāli, rồi bản Việt, rồi bản tiếng Anh. Số bên trái là số đoạn trong kinh, để đối chiếu được.

AN 8.29:1.1 (TTC 1)
"'Khaṇakicco loko, khaṇakicco loko'ti, bhikkhave, assutavā puthujjano bhāsati, no ca kho so jānāti khaṇaṁ vā akkhaṇaṁ vā. Aṭṭhime, bhikkhave, akkhaṇā asamayā brahmacariyavāsāya. Katame aṭṭha?
"Làm việc đúng thời là thế giới, làm việc đúng thời là thế giới ", này các Tỷ-kheo, kẻ vô văn phàm phu nói như vậy, nhưng vị ấy không biết đúng thời và phi thời. Này các Tỷ-kheo, có tám phi thời, phi thời tiết cho đời sống Phạm hạnh. Thế nào là tám?
"'Now is the time! Now is the time!' So says an unlearned ordinary person. But they don't know whether it's time or not. Mendicants, there are eight lost opportunities for spiritual practice. What eight?
AN 8.29:1.4–1.6 (TTC 2)
Idha, bhikkhave, tathāgato ca loke uppanno hoti arahaṁ sammāsambuddho vijjācaraṇasampanno sugato lokavidū anuttaro purisadammasārathi satthā devamanussānaṁ buddho bhagavā, dhammo ca desiyati opasamiko parinibbāniko sambodhagāmī sugatappavedito; ayañca puggalo nirayaṁ upapanno hoti. Ayaṁ, bhikkhave, paṭhamo akkhaṇo asamayo brahmacariyavāsāya.
Ở đây, này các Tỷ-kheo, Như Lai xuất hiện ở đời, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn. Và pháp được giảng đưa đến an tịnh, đưa đến tịch tịnh, đưa đến giác ngộ, được bậc Thiện Thệ tuyên bố. Và người này lại bị sanh vào địa ngục. Này các Tỷ-kheo, đây là phi thời, phi thời tiết thứ nhất cho đời sống Phạm hạnh.
Firstly, a Realized One has arisen in the world—perfected, a fully awakened Buddha, accomplished in knowledge and conduct, holy, knower of the world, supreme guide for those fit for training, teacher of gods and humans, awakened, blessed. He teaches the Dhamma leading to peace, extinguishment, awakening, as proclaimed by the Holy One. But an individual has been reborn in hell. This is the first lost opportunity for spiritual practice.
AN 8.29:5.2 (nằm trong TTC 3)
ayañca puggalo paccantimesu janapadesu paccājāto hoti, so ca hoti aviññātāresu milakkhesu, yattha natthi gati bhikkhūnaṁ bhikkhunīnaṁ upāsakānaṁ upāsikānaṁ …pe….
và người này lại bị sanh vào các biên địa, giữa những kẻ vô trí mọi rợ, tại đây, không có hướng đi cho các Tỷ-kheo, cho các Tỷ-kheo—Ni, cho nam cư sĩ, nữ cư sĩ …
But an individual has been reborn in the borderlands, among uneducated foreigners, where monks, nuns, laymen, and laywomen do not go. This is the fifth lost opportunity …
AN 8.29:6.2 (nằm trong TTC 3)
'natthi dinnaṁ, natthi yiṭṭhaṁ, natthi hutaṁ, natthi sukatadukkaṭānaṁ kammānaṁ phalaṁ vipāko, natthi ayaṁ loko, natthi paro loko, natthi mātā, natthi pitā, natthi sattā opapātikā, natthi loke samaṇabrāhmaṇā sammaggatā sammā paṭipannā ye imañca lokaṁ parañca lokaṁ sayaṁ abhiññā sacchikatvā pavedentī'ti …pe….
và người này được sanh vào chánh địa, nhưng lại có tà kiến, có tri kiến đảo ngược: "Không có bố thí, không có lễ hy sinh, không có tế tự, không có quả dị thục các nghiệp thiện ác, không có đời này, không có đời khác, không có mẹ, không có cha, không có loại hóa sanh, ở đời không có những Sa-môn, những Bà-la-môn chánh hướng chánh hạnh, đã tự mình chứng tri giác ngộ và truyền dạy lại đời này, đời khác …"
'There's no meaning in giving, sacrifice, or offerings. There's no fruit or result of good and bad deeds. There's no afterlife. There's no such thing as mother and father, or beings that are reborn spontaneously. And there's no ascetic or brahmin who is rightly comported and rightly practiced, and who describes the afterlife after realizing it with their own insight.' This is the sixth lost opportunity …
AN 8.29:10.1–10.5 (TTC 5–6)
Ekova kho, bhikkhave, khaṇo ca samayo ca brahmacariyavāsāya. Katamo eko? Idha, bhikkhave, tathāgato ca loke uppanno hoti arahaṁ sammāsambuddho vijjācaraṇasampanno sugato lokavidū anuttaro purisadammasārathi satthā devamanussānaṁ buddho bhagavā. Dhammo ca desiyati opasamiko parinibbāniko sambodhagāmī sugatappavedito. Ayañca puggalo majjhimesu janapadesu paccājāto hoti, so ca hoti paññavā ajaḷo aneḷamūgo paṭibalo subhāsitadubbhāsitassa atthamaññātuṁ. Ayaṁ, bhikkhave, ekova khaṇo ca samayo ca brahmacariyavāsāyāti.
Này các Tỷ-kheo, chỉ có một chánh thời, một chánh thời tiết này cho đời sống Phạm hạnh. Thế nào là một? Ở đây, này các Tỷ-kheo, Thế Tôn xuất hiện ở đời, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn. Và pháp được giảng đưa đến an tịnh, đưa đến tịch tịnh, đưa đến giác ngộ, được bậc Thiện Thệ tuyên bố. Và người này được sanh vào chánh địa, vị ấy có trí tuệ, không si mê, không câm điếc, có thể hiểu rõ ý nghĩa của một lời nói khéo, nói hay, nói dở. Này các Tỷ-kheo, đây là chánh thời, chánh thời tiết độc nhất cho đời sống Phạm hạnh.
Mendicants, there is just one opportunity for spiritual practice. What is that one? It's when a Realized One has arisen in the world, perfected, a fully awakened Buddha, accomplished in knowledge and conduct, holy, knower of the world, supreme guide for those fit for training, teacher of gods and humans, awakened, blessed. He teaches the Dhamma leading to peace, extinguishment, awakening, as proclaimed by the Holy One. And an individual is reborn in a central country. And they're wise, bright, clever, and able to distinguish what is well said from what is poorly said. This is the one opportunity for spiritual practice.
AN 8.29:11.1–12.4 (kệ)
Manussalābhaṁ laddhāna,
saddhamme suppavedite;
Ye khaṇaṁ nādhigacchanti,
atināmenti te khaṇaṁ.
Bahū hi akkhaṇā vuttā,
maggassa antarāyikā;
Kadāci karahaci loke,
uppajjanti tathāgatā.
Ai được sanh làm người
Khi diệu pháp được giảng
Lại không nắm được thời
Họ vượt qua khỏi thời
Nhiều phi thời được nói
Làm chướng ngại con người
Chỉ năm khi mười họa
Như Lai hiện ở đời
When you've gained the human state, and the true teaching has been so well proclaimed, those who don't seize the moment are wasting their time. For many wrong times are spoken of, which obstruct the path. Only on rare occasions do Realized Ones arise.
AN 8.29:20.1–20.4 (kệ kết)
Sabbe anusaye chetvā,
māradheyyaparānuge;
Te ve pāraṅgatā loke,
ye pattā āsavakkhayan"ti.
Chặt đứt mọi tùy miên
Không chạy theo ma giới
Các vị ấy ở đời
Ðến được bờ bên kia
Và họ cũng đạt được
Các lậu hoặc đoạn tận.
Having cut off all underlying tendencies that follow those drifting in Māra's dominion, they're the ones in this world who've truly crossed over, having reached the ending of defilements."
Chữ PāliNghĩaGhi chú
akkhaṇaphi thời, phi thời tiết — hoàn cảnh không có cơ hội tu họcSujato dịch "lost opportunity"
khaṇathời, chánh thời, thời cơ
samayathời tiết, thời điểm thích hợp
brahmacariyavāsađời sống Phạm hạnh
assutavā puthujjanokẻ vô văn phàm phu
tathāgato … arahaṁ sammāsambuddhoNhư Lai, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giácmở đầu chuỗi mười danh hiệu Phật
niraya / tiracchānayoni / pettivisayađịa ngục / loài bàng sanh / cõi ngạ quỷ
dīghāyuka devanikāyachư Thiên giới có thọ mạng lâu dài
paccantima janapada / majjhima janapadabiên địa / chánh địa (trung quốc)
micchādiṭṭhi, viparītadassanatà kiến, tri kiến đảo ngược
duppañño jaḷo eḷamūgoác tuệ, si mê, câm điếc
saddhammadiệu pháp, Chánh pháp
anusayatùy miên — phiền não ngủ ngầm
āsavakkhayalậu hoặc đoạn tận
ādiccabandhubậc bà con mặt trời (danh hiệu đức Phật)
pāraṅgatađến bờ bên kia

Xin thưa câu mở đầu của bài kinh này rất sắc, và con nghĩ nên đọc nguyên văn cho các em nghe.

“Làm việc đúng thời là thế giới, làm việc đúng thời là thế giới” — kẻ vô văn phàm phu nói như vậy, NHƯNG VỊ ẤY KHÔNG BIẾT đúng thời và phi thời.

Nghĩa là: ai cũng nói “phải biết chọn thời”mà chính chỗ THẾ NÀO LÀ ĐÚNG THỜI thì lại không biết.

Rồi Ngài kể TÁM PHI THỜI (Pāli akkhaṇa“lỡ mất cơ hội”).

Xin để ý cách dựng rất khéo: BẢY điều đầu đều có chung MỘT ĐIỀU KIỆN THUẬN“Như Lai xuất hiện ở đời… và pháp được giảng đưa đến an tịnh, đưa đến tịch tịnh, đưa đến giác ngộ”.

CÓ PHẬT, CÓ PHÁP — mà người ấy vẫn KHÔNG GẶP ĐƯỢC.

Vì sao? Vì người ấy sanh vào ĐỊA NGỤC; hoặc loài BÀNG SANH; hoặc cõi NGẠ QUỶ; hoặc chư Thiên có THỌ MẠNG LÂU DÀI.

Xin thưa điều thứ tư ấy đáng ngẫm: sanh lên cõi trời sống lâu CŨNG là một PHI THỜI. Sung sướng quá và lâu quá thì KHÔNG THẤY CẦN TU.

Hoặc sanh ở BIÊN ĐỊA giữa những kẻ vô trí, “tại đây KHÔNG CÓ HƯỚNG ĐI cho các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo-ni, nam cư sĩ, nữ cư sĩ”.

Hoặc sanh vào chánh địa NHƯNG MANG TÀ KIẾN: “không có bố thí… không có quả dị thục các nghiệp thiện ác… không có mẹ, không có cha…”.

Hoặc sanh vào chánh địa nhưng “ÁC TUỆ, SI MÊ, CÂM ĐIẾC, không có thể hiểu rõ ý nghĩa của một lời nói khéo, nói hay, nói dở”.

điều cuối thì NGƯỢC HẲN LẠI: người ấy CÓ ĐỦ TRÍ TUỆ, sáng suốt, hiểu được lời khéo nói — NHƯNG Như Lai KHÔNG xuất hiện ở đời và Chánh pháp KHÔNG được giảng.

Xin thưa thế đối ấy chính là ý bài kinh: bảy lần “có Pháp mà người không tới được”, rồi MỘT lần “người tới được mà không có Pháp”.

CHÁNH THỜI thì chỉ có MỘT: Như Lai xuất hiện ở đời, Chánh pháp được giảng, VÀ người ấy sanh vào chánh địa, có trí tuệ, không si mê, hiểu được lời nói khéo.

Tám điều hỏng chỉ cần một chỗ hỏng; một điều đủ thì phải đủ CẢ.

Bài kệ kết nói rất thẳng: được thân người khi diệu pháp đang được giảng mà KHÔNG NẮM LẤY thời cơ thì là BỎ PHÍ; Như Lai chỉ “NĂM KHI MƯỜI HỌA” mới xuất hiện; kẻ để thời gian trôi qua sẽ SẦU MUỘN, NHƯ NGƯỜI BUÔN MẤT CỦA.

Xin thưa lời cuối cho anh chị em Huynh Trưởng. Con nghĩ bài kinh này nên dạy KÈM một câu hỏi, đừng chỉ kể tám điều.

Câu hỏi ấy là: “trong tám điều ấy, hôm nay em KHÔNG rơi vào điều nào?”

Vì các em đang có thân người, đang ở nơi có chùa có Tăng, đang nghe được và hiểu đượctức là đang ở ĐÚNG cái CHÁNH THỜI DUY NHẤT ấy.

Xin thưa một chỗ phải nói thật rõ, và xin thưa trước rằng chúng con KHÔNG dám nói bản dịch sai.

Bản Pāli kể phi thời thứ BẢY“ác tuệ, si mê, câm điếc”, rồi phi thời thứ TÁM“NHƯ LAI KHÔNG xuất hiện ở đời”. Chúng con đã TỰ TẢI LẠI bản Minh Châu và đọc tận nơi: bản Việt ghi chính mục “ác tuệ, si mê, câm điếc” LÀ “phi thời… thứ TÁM”, và KHÔNG có mục “Như Lai không xuất hiện ở đời”.

Tức là ở chỗ này bản Việt LƯỢC BỚT một mục và đánh số khác bản Pāli. Chúng con ghi nhận nguyên trạng để người đọc khỏi ngỡ ngàng khi đối chiếu, chứ không sửa một chữ nào của Hoà thượng. Vì bản Việt không có mục ấy nên trang đã BỎ HẲN ô trích tương ứng, thay vì để một ô trống hay mượn chữ từ chỗ khác đắp vào.

  • “Sanh lên cõi trời là tốt nhất.” Kinh xếp “chư Thiên có thọ mạng lâu dài” LÀ MỘT PHI THỜIsung sướng quá và lâu quá thì không thấy cần tu.
  • “Phi thời nghĩa là chưa tới lúc, cứ từ từ.” AkkhaṇaLỠ MẤT CƠ HỘI — bài kệ nói kẻ để thời gian trôi qua “sầu muộn, như người buôn mất của”.
  • “Chỉ cần có Phật pháp là đủ.” Bảy phi thời đầu ĐỀU có Phật, có Phápmà người ấy vẫn không gặp được.
  • “Người thông minh thì lúc nào tu cũng được.” Phi thời cuối trong bản Pāli là người CÓ trí tuệ mà KHÔNG có Phật, không có Pháp.
  • “Chánh thời cũng có nhiều.” Kinh nói “chỉ có MỘT chánh thời, MỘT chánh thời tiết”và nó đòi phải đủ CẢ.
  • Ngành Oanh. Đừng kể tám điều. Chỉ hỏi: hôm nay con có tai nghe được, có người dạy, có chùa để tới — con thấy may không?
  • Ngành Thiếu. Học đủ tám, rồi hỏi: bảy điều đầu giống nhau ở chỗ nào, và điều cuối khác ở chỗ nào?
  • Ngành Thanh và Huynh Trưởng. Dạy kèm câu hỏi: “trong tám điều ấy, hôm nay em KHÔNG rơi vào điều nào?”
  • Câu mở đầu bài kinh nói gì về người đời?
  • Bảy phi thời đầu giống nhau ở chỗ nào?
  • Vì sao sanh làm chư Thiên sống lâu lại là phi thời?
  • Phi thời cuối khác bảy điều trên ra sao?
  • Chánh thời duy nhất gồm những điều kiện gì?

Nguyên văn Pāli chép từ ấn bản Mahāsaṅgīti — tệp dữ liệu gốc bilara-data của suttacentral.net, từng đoạn có đánh số. Bản tiếng Việt của Hoà thượng Thích Minh Châu; bản tiếng Anh của Tỳ-kheo Sujato. Bài này đã qua một lượt soi lại độc lập. Muốn đọc trọn bài kinh, xin xem nguyên văn ba thứ tiếng. Thấy chỗ nào khác ấn bản in, xin báo cho chúng tôi.