G.Đ.P.T Huyền Quang Phật Pháp · Tam Tạng Kinh Điển Tăng Chi Bộ · AN 8.28
Tám Sức Mạnh · Thế Tôn Hỏi, Tôn Giả Sāriputta Đáp

Kinh Sức Mạnh (2)

Dutiyabala Sutta — AN 8.28 · Pāli · Việt · Anh

Tam TạngTạng KinhTrung BộKinh Sức Mạnh (2)

Thế Tôn HỎI, và Tôn giả Sāriputta ĐÁP: vị Tỷ-kheo đã đoạn tận lậu hoặc có TÁM SỨC MẠNHhai cái thấy, một khuynh hướng của tâm, và năm nhóm công phu.

  • Bộ — Tăng Chi Bộ, Chương Tám Pháp, kinh 28
  • Phẩm — Gia Chủ (Gahapativagga)
  • Nơi chốn — kinh không ghi; Tôn giả Sāriputta đến hầu Phật
  • Đọc kèmAN 7.4 (bảy sức mạnh) và AN 9.11 (tiếng rống con sư tử)

Kinh "Sức Mạnh (2)" (Dutiyabalasutta) thuộc Chương Tám Pháp, Phẩm Gia Chủ, Tăng Chi Bộ. Bài kinh rất ngắn, chỉ có một câu hỏi và một câu trả lời. Duyên khởi: Tôn giả Sāriputta đến hầu Phật, đảnh lễ rồi ngồi xuống một bên. Thế Tôn hỏi Tôn giả: vị Tỷ-kheo đã đoạn trừ các lậu hoặc có bao nhiêu sức mạnh, và nhờ những sức mạnh nào mà vị ấy dám tự nhận "Các lậu hoặc đã được ta đoạn tận"? Điều đáng chú ý là ở đây chính Đức Phật hỏi và Tôn giả Sāriputta - bậc Trí tuệ đệ nhất - là người thuyết. Tôn giả trả lời: có tám sức mạnh. Hai sức mạnh đầu thuộc về cái thấy: thấy như thật với chánh trí tuệ rằng tất cả các hành là vô thường, và thấy như thật rằng các dục ví như hố than hừng. Sức mạnh thứ ba thuộc về khuynh hướng của tâm: tâm thuận xuôi, hướng về, thiên về và trú ở viễn ly, hoan hỷ về xuất ly, đã đoạn tận hoàn toàn mọi pháp có thể làm trú xứ cho lậu hoặc. Năm sức mạnh còn lại thuộc về công phu tu tập, chính là các phần trong Ba mươi bảy phẩm trợ đạo: Bốn niệm xứ, Bốn như ý túc, Năm căn, Năm lực, Bảy giác chi và Thánh đạo tám ngành - tất cả đều "được tu tập, được khéo tu tập". Sau mỗi mục, Tôn giả đều lặp lại cùng một điệp khúc: đó là sức mạnh khiến vị ấy tự nhận các lậu hoặc đã đoạn tận. Ý nghĩa cho Huynh trưởng và đoàn sinh: sự giải thoát không phải là lời tuyên bố suông, mà đứng trên nền tảng có thể kiểm chứng được - cái thấy đúng về vô thường và về nguy hiểm của dục, khuynh hướng tâm nghiêng về buông xả, và công phu tu tập đầy đủ, đều đặn, "khéo tu tập" chứ không nửa vời. Bài kinh cũng là một bảng tóm tắt gọn gàng các nhóm pháp hành căn bản mà người con Phật cần thuộc.

Bố cục bài kinhTheo đúng thứ tự trong kinh văn

  • Duyên khởi: Tôn giả Sāriputta đến hầu Phật — Tôn giả Sàriputta đi đến Thế Tôn, đảnh lễ, ngồi xuống một bên. Thế Tôn hỏi: có bao nhiêu sức mạnh của Tỷ-kheo đã đoạn trừ các lậu hoặc, do những sức mạnh gì mà vị ấy tự nhận "Các lậu hoặc đã được ta đoạn tận"? (an8.28:1.1–1.3)
  • Tôn giả Sāriputta đáp: có tám sức mạnh — Tôn giả trả lời có tám sức mạnh, rồi nêu câu hỏi "Thế nào là tám?" (an8.28:1.4–2.1)
  • Sức mạnh thứ nhất: thấy tất cả các hành là vô thường — Khéo thấy như thật với chánh trí tuệ rằng tất cả các hành là vô thường (an8.28:2.2–2.4)
  • Sức mạnh thứ hai: thấy các dục ví như hố than hừng — Khéo thấy như thật với chánh trí tuệ rằng các dục ví như hố than hừng (an8.28:3.1–3.3)
  • Sức mạnh thứ ba: tâm thuận xuôi về viễn ly — Tâm thuận xuôi, hướng về, thiên về, trú ở viễn ly, hoan hỷ về xuất ly, đoạn tận hoàn toàn tất cả pháp có thể làm trú xứ cho lậu hoặc (an8.28:4.1–4.3)
  • Sức mạnh thứ tư: Bốn niệm xứ được khéo tu tập — Bốn niệm xứ (cattāro satipaṭṭhānā) được tu tập, được khéo tu tập (an8.28:5.1–5.3)
  • Sức mạnh thứ năm đến thứ tám: Bốn như ý túc, Năm căn, Năm lực, Bảy giác chi, Thánh đạo tám ngành — Bản Việt của HT. Thích Minh Châu liệt kê: Bốn như ý túc, Năm căn, Năm lực, Bảy giác chi, Thánh đạo tám ngành đều được tu tập, được khéo tu tập (an8.28:6.1–6.6). Bản Pāli và bản Anh ở đoạn này lược bằng …pe… và nêu bốn mục: cattāro iddhipādā, pañcindriyāni, satta bojjhaṅgā, ariyo aṭṭhaṅgiko maggo.
  • Kết: tám sức mạnh ấy — Tôn giả kết luận đây là tám sức mạnh của Tỷ-kheo đã đoạn tận các lậu hoặc (an8.28:7.1–7.2)

Mỗi đoạn ghi nguyên văn Pāli, rồi bản Việt, rồi bản tiếng Anh. Số bên trái là số đoạn trong kinh, để đối chiếu được.

AN 8.28:1.1
Atha kho āyasmā sāriputto yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinnaṁ kho āyasmantaṁ sāriputtaṁ bhagavā etadavoca:
Rồi Tôn giả Sàriputta đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn, rồi ngồi xuống một bên. Thế Tôn nói với Tôn giả Sàriputta đang ngồi xuống một bên:
Then Venerable Sāriputta went up to the Buddha, bowed, and sat down to one side. The Buddha said to him:
AN 8.28:1.2–1.3
“kati nu kho, sāriputta, khīṇāsavassa bhikkhuno balāni, yehi balehi samannāgato khīṇāsavo bhikkhu āsavānaṁ khayaṁ paṭijānāti: ‘khīṇā me āsavā’”ti?
—Này Sàriputta, có bao nhiêu sức mạnh của Tỷ-kheo đã đoạn trừ các lậu hoặc? Thành tựu với những sức mạnh gì, Tỷ-kheo đã đoạn trừ các lậu hoặc, tự nhận mình đã đoạn diệt các lậu hoặc: “Các lậu hoặc đã được ta đoạn tận “?
“Sāriputta, how many powers does a mendicant who has ended the defilements have that qualify them to claim: ‘My defilements have ended’?”
AN 8.28:1.4–2.1
“Aṭṭha, bhante, khīṇāsavassa bhikkhuno balāni, yehi balehi samannāgato khīṇāsavo bhikkhu āsavānaṁ khayaṁ paṭijānāti: ‘khīṇā me āsavā’ti. Katamāni aṭṭha?
—Bạch Thế Tôn, có tám sức mạnh của Tỷ-kheo đã đoạn tận các lậu hoặc. Thành tựu với những sức mạnh gì, Tỷ-kheo đã đoạn trừ các lậu hoặc, tự nhận mình đã đoạn diệt các lậu hoặc: “Các lậu hoặc đã được ta đoạn tận “. Thế nào là tám?
“Sir, a mendicant who has ended the defilements has eight powers that qualify them to claim: ‘My defilements have ended.’ What eight?
AN 8.28:2.2–2.4
Idha, bhante, khīṇāsavassa bhikkhuno aniccato sabbe saṅkhārā yathābhūtaṁ sammappaññāya sudiṭṭhā honti. Yampi, bhante, khīṇāsavassa bhikkhuno aniccato sabbe saṅkhārā yathābhūtaṁ sammappaññāya sudiṭṭhā honti, idampi, bhante, khīṇāsavassa bhikkhuno balaṁ hoti, yaṁ balaṁ āgamma khīṇāsavo bhikkhu āsavānaṁ khayaṁ paṭijānāti: ‘khīṇā me āsavā’ti.
Ở đây, bạch Thế Tôn, Tỷ-kheo đã đoạn tận các lậu hoặc khéo thấy như thật với chánh trí tuệ rằng tất cả các hành là vô thường. Vì rằng, bạch Thế Tôn, Tỷ-kheo đã đoạn tận các lậu hoặc, khéo thấy như thật với chánh trí tuệ rằng tất cả các hành là vô thường. Bạch Thế Tôn, đây là sức mạnh của Tỷ-kheo đã đoạn tận các lậu hoặc. Do sức mạnh này, Tỷ-kheo đã đoạn tận các lậu hoặc, tự nhận mình đã đoạn diệt các lậu hoặc: “Các lậu hoặc đã được ta đoạn tận”.
Firstly, a mendicant with defilements ended has clearly seen with right wisdom all conditions as truly impermanent. This is a power that a mendicant who has ended the defilements relies on to claim: ‘My defilements have ended.’
AN 8.28:3.1–3.3
Puna caparaṁ, bhante, khīṇāsavassa bhikkhuno aṅgārakāsūpamā kāmā yathābhūtaṁ sammappaññāya sudiṭṭhā honti. Yampi, bhante, khīṇāsavassa bhikkhuno aṅgārakāsūpamā kāmā yathābhūtaṁ sammappaññāya sudiṭṭhā honti, idampi, bhante, khīṇāsavassa bhikkhuno balaṁ hoti, yaṁ balaṁ āgamma khīṇāsavo bhikkhu āsavānaṁ khayaṁ paṭijānāti: ‘khīṇā me āsavā’ti.
Lại nữa, bạch Thế Tôn, Tỷ-kheo đã đoạn tận các lậu hoặc khéo thấy như thật với chánh trí tuệ rằng các dục ví như hố than hừng. Vì rằng, bạch Thế Tôn, Tỷ-kheo đã đoạn tận các lậu hoặc khéo thấy như thật với chánh trí tuệ rằng các dục ví như hố than hừng. Bạch Thế Tôn, đây là sức mạnh của Tỷ-kheo đã đoạn tận các lậu hoặc. Do sức mạnh này, Tỷ-kheo đã đoạn tận các lậu hoặc, tự nhận mình đã đoạn diệt các lậu hoặc: “Các lậu hoặc đã được ta đoạn tận”.
Furthermore, a mendicant with defilements ended has clearly seen with right wisdom that sensual pleasures are truly like a pit of glowing coals. This is a power that a mendicant who has ended the defilements relies on to claim: ‘My defilements have ended.’
AN 8.28:4.1–4.3
Puna caparaṁ, bhante, khīṇāsavassa bhikkhuno vivekaninnaṁ cittaṁ hoti vivekapoṇaṁ vivekapabbhāraṁ vivekaṭṭhaṁ nekkhammābhirataṁ byantibhūtaṁ sabbaso āsavaṭṭhāniyehi dhammehi. Yampi, bhante, khīṇāsavassa bhikkhuno vivekaninnaṁ cittaṁ hoti vivekapoṇaṁ vivekapabbhāraṁ vivekaṭṭhaṁ nekkhammābhirataṁ byantibhūtaṁ sabbaso āsavaṭṭhāniyehi dhammehi, idampi, bhante, khīṇāsavassa bhikkhuno balaṁ hoti, yaṁ balaṁ āgamma khīṇāsavo bhikkhu āsavānaṁ khayaṁ paṭijānāti: ‘khīṇā me āsavā’ti.
Lại nữa, bạch Thế Tôn, Tỷ-kheo đã đoạn tận các lậu hoặc, với tâm thuận xuôi về viễn ly, hướng về viễn ly, thiên về viễn ly, trú ở viễn ly, hoan hỷ về xuất ly, đoạn tận hoàn toàn tất cả pháp có thể làm trú xứ cho lậu hoặc. Bạch Thế Tôn, đây là sức mạnh của Tỷ-kheo đã đoạn tận các lậu hoặc. Do sức mạnh này, Tỷ-kheo đã đoạn tận các lậu hoặc, tự nhận mình đã đoạn diệt các lậu hoặc: “Các lậu hoặc đã được ta đoạn tận”.
Furthermore, the mind of a mendicant with defilements ended slants, slopes, and inclines to seclusion. They’re withdrawn, loving renunciation, and have totally eliminated defiling influences. This is a power that a mendicant who has ended the defilements relies on to claim: ‘My defilements have ended.’
AN 8.28:5.1–5.3
Puna caparaṁ, bhante, khīṇāsavassa bhikkhuno cattāro satipaṭṭhānā bhāvitā honti subhāvitā. Yampi, bhante, khīṇāsavassa bhikkhuno cattāro satipaṭṭhānā bhāvitā honti subhāvitā, idampi, bhante, khīṇāsavassa bhikkhuno balaṁ hoti, yaṁ balaṁ āgamma khīṇāsavo bhikkhu āsavānaṁ khayaṁ paṭijānāti: ‘khīṇā me āsavā’ti.
Lại nữa, bạch Thế Tôn, Tỷ-kheo đã đoạn tận các lậu hoặc, Bốn niệm xứ được tu tập, được khéo tu tập. Bạch Thế Tôn, vì rằng Tỷ-kheo đã đoạn tận các lậu hoặc, Bốn niệm xứ được tu tập, được khéo tu tập. Bạch Thế Tôn, đây là sức mạnh của vị Tỷ-kheo … “Các lậu hoặc đã được ta đoạn tận”.
Furthermore, a mendicant with defilements ended has well developed the four kinds of mindfulness meditation. This is a power that a mendicant who has ended the defilements relies on to claim: ‘My defilements have ended.’
AN 8.28:6.1–6.6
Puna caparaṁ, bhante, khīṇāsavassa bhikkhuno cattāro iddhipādā bhāvitā honti subhāvitā …pe… pañcindriyāni bhāvitāni honti subhāvitāni …pe… satta bojjhaṅgā bhāvitā honti subhāvitā …pe… ariyo aṭṭhaṅgiko maggo bhāvito hoti subhāvito. Yampi, bhante, khīṇāsavassa bhikkhuno ariyo aṭṭhaṅgiko maggo bhāvito hoti subhāvito, idampi, bhante, khīṇāsavassa bhikkhuno balaṁ hoti, yaṁ balaṁ āgamma khīṇāsavo bhikkhu āsavānaṁ khayaṁ paṭijānāti: ‘khīṇā me āsavā’ti.
Lại nữa, bạch Thế Tôn, Tỷ-kheo đã đoạn tận các lậu hoặc, Bốn như ý túc được tu tập, được khéo tu tập… Năm căn được tu tập, được khéo tu tập … Năm lực được tu tập, được khéo tu tập … Bảy giác chi được tu tập, được khéo tu tập …Thánh đạo tám ngành được tu tập, được khéo tu tập … Ðây là sức mạnh của vị Tỷ-kheo … “Các lậu hoặc đã được ta đoạn tận”.
Furthermore, a mendicant with defilements ended has well developed the four bases of psychic power … the five faculties … the seven awakening factors … the noble eightfold path. This is a power that a mendicant who has ended the defilements relies on to claim: ‘My defilements have ended.’
AN 8.28:7.1–7.2
Imāni kho, bhante, aṭṭha khīṇāsavassa bhikkhuno balāni, yehi balehi samannāgato khīṇāsavo bhikkhu āsavānaṁ khayaṁ paṭijānāti: ‘khīṇā me āsavā’”ti.
Bạch Thế Tôn, đây là tám sức mạnh của Tỷ-kheo đã đoạn tận các lậu hoặc, thành tựu với tám sức mạnh này, Tỷ-kheo đã đoạn tận các lậu hoặc. Do sức mạnh này, Tỷ-kheo đã đoạn tận các lậu hoặc, tự nhận mình đã đoạn diệt các lậu hoặc: “Các lậu hoặc đã được ta đoạn tận”.
A mendicant who has ended the defilements possesses these eight powers that qualify them to claim: ‘My defilements have ended.’”
Chữ PāliNghĩaGhi chú
balasức mạnh, lựcỞ đây là tám sức mạnh của vị đã đoạn tận lậu hoặc; nhan đề Dutiyabalasutta nghĩa là kinh Sức Mạnh thứ hai.
āsavalậu hoặcNhững dòng chảy ô nhiễm của tâm; đoạn tận āsava là quả vị A-la-hán.
khīṇāsavavị đã đoạn tận các lậu hoặckhīṇa (đã tận) + āsava (lậu hoặc).
saṅkhārācác hànhTất cả pháp hữu vi; trong kinh này được thấy như thật là vô thường.
aniccavô thường
sammappaññāchánh trí tuệ
yathābhūtaṁnhư thật, đúng như thực
kāmācác dục
aṅgārakāsūpamāví như hố than hừngẨn dụ nổi tiếng về nguy hiểm của dục lạc.
vivekaviễn ly, sự xa lìa
nekkhammaxuất ly
cattāro satipaṭṭhānāBốn niệm xứ
cattāro iddhipādāBốn như ý túc
pañcindriyāniNăm căn
satta bojjhaṅgāBảy giác chi
ariyo aṭṭhaṅgiko maggoThánh đạo tám ngành (Bát chánh đạo)
bhāvitā subhāvitāđược tu tập, được khéo tu tập
…pe…dấu lược trong văn bản PāliChỉ chỗ lặp lại đã được rút gọn; xuất hiện ở đoạn 6 của kinh này.

Xin thưa điều đáng để ý TRƯỚC HẾT ở bài kinh này KHÔNG phải nội dung, mà là AI HỎI và AI ĐÁP.

THẾ TÔN HỎI, và TÔN GIẢ SĀRIPUTTA ĐÁP.

Xin thưa Thế Tôn không phải không biết. Ngài NHƯỜNG CHỖ cho vị đệ tử Trí tuệ đệ nhất thuyếtđó cũng là một lối dạy.

Câu hỏi rất cụ thể: nhờ những sức mạnh nào mà vị ấy DÁM TỰ NHẬN “Các lậu hoặc đã được ta đoạn tận”?

Tôn giả đáp: có TÁM. Và xin thưa tám sức mạnh ấy chia rất rõ thành BA NHÓM.

NHÓM MỘT — HAI CÁI THẤY.

(1) “Khéo thấy như thật với chánh trí tuệ rằng TẤT CẢ CÁC HÀNH LÀ VÔ THƯỜNG.”

(2) “Khéo thấy như thật với chánh trí tuệ rằng CÁC DỤC VÍ NHƯ HỐ THAN HỪNG.”

Xin thưa hình ảnh HỐ THAN HỪNG rất mạnh: than hừng thì KHÔNG có lửa ngọnnhìn không thấy nguy, tới gần mới biết.

NHÓM HAI — KHUYNH HƯỚNG CỦA TÂM.

(3) “Tâm THUẬN XUÔI về viễn ly, HƯỚNG VỀ viễn ly, THIÊN VỀ viễn ly, TRÚ Ở viễn ly, hoan hỷ về xuất ly.”

Xin để ý bốn chữ liền nhau: thuận xuôi — hướng về — thiên về — trú ở. Đó là tả một cái NGHIÊNG TỰ NHIÊN, không phải một cái ép.

Anh chị em nhớ AN 5.27 đã dạy đúng ý ấy: định thật là tâm TỰ LẮNG, không phải tâm BỊ ĐÈ.

NHÓM BA — NĂM NHÓM CÔNG PHU, tức các phần trong Ba mươi bảy phẩm trợ đạo.

(4) BỐN NIỆM XỨ. (5) BỐN NHƯ Ý TÚC. (6) NĂM CĂN. (7) NĂM LỰC. (8) BẢY GIÁC CHI và THÁNH ĐẠO TÁM NGÀNH.

Và mỗi nhóm đều kèm ĐÚNG MỘT CỤM CHỮ: “được tu tập, được KHÉO tu tập”.

Xin thưa chữ “KHÉO” ấy đáng để ý: KHÔNG PHẢI CÓ TU LÀ ĐỦphải tu cho KHÉO, cho đều, không nửa vời.

Xin thưa lời cuối cho anh chị em Huynh Trưởng. Bài kinh này trả lời một câu rất khó: làm sao biết một lời tuyên bố về chứng đắc là THẬT?

Câu đáp của Tôn giả cho thấy: giải thoát KHÔNG phải một lời tuyên bố suôngnó đứng trên TÁM CHỖ CÓ THỂ KIỂM.

Và với đoàn sinh, bài này còn tiện một việc rất thực tế: nó là BẢNG TÓM TẮT GỌN các nhóm pháp hành căn bản mà người con Phật cần thuộcbốn niệm xứ, bốn như ý túc, năm căn, năm lực, bảy giác chi, tám ngành.

Xin thưa một ghi nhận về việc kiểm: có ý kiến cho rằng ô trích cuối nên ghi biên số là “7.1–7.3”. Chúng con đã đọc lại tệp nguồn: đoạn 7.3 chỉ là chữ “Aṭṭhamaṁ”dấu đánh số bài thứ tám trong phẩm, KHÔNG phải lời kinh. Theo lệ của trang, biên số giữ nguyên là 7.1–7.2.

  • “Thế Tôn hỏi vì Ngài chưa rõ.” Ngài NHƯỜNG CHỖ cho vị Trí tuệ đệ nhất thuyếtđó cũng là một lối dạy.
  • “Tám sức mạnh là tám phép lạ.” Chúng là hai cái THẤY, một KHUYNH HƯỚNG của tâm, và năm nhóm CÔNG PHUkhông có gì huyền bí.
  • “Tâm hướng về viễn ly là ép mình xa lánh.” Kinh dùng bốn chữ tả một cái NGHIÊNG TỰ NHIÊN: thuận xuôi, hướng về, thiên về, trú ở.
  • “Có tu là được rồi.” Kinh nói “được tu tập, được KHÉO tu tập”chữ “khéo” đứng riêng ra một vế.
  • “Các dục nguy hiểm thì ai cũng thấy.” Ví dụ là HỐ THAN HỪNGthan hừng không có lửa ngọn, nhìn không thấy nguy.
  • Ngành Oanh. Chỉ dạy ví dụ HỐ THAN HỪNG: than không có lửa ngọn, nhìn tưởng nguội, sờ vào mới biết.
  • Ngành Thiếu. Học năm nhóm công phu — bốn niệm xứ, bốn như ý túc, năm căn, năm lực, bảy giác chi, tám ngành.
  • Ngành Thanh và Huynh Trưởng. Bàn: vì sao Thế Tôn hỏi mà Tôn giả Sāriputta đáp?chữ “KHÉO tu tập” khác “có tu tập” ở chỗ nào?
  • Ai hỏi và ai đáp trong bài kinh này?
  • Tám sức mạnh chia làm mấy nhóm?
  • Hai cái thấy là gì?
  • Bốn chữ tả khuynh hướng của tâm là gì?
  • “Được khéo tu tập” thêm nghĩa gì?

Nguyên văn Pāli chép từ ấn bản Mahāsaṅgīti — tệp dữ liệu gốc bilara-data của suttacentral.net, từng đoạn có đánh số. Bản tiếng Việt của Hoà thượng Thích Minh Châu; bản tiếng Anh của Tỳ-kheo Sujato. Bài này đã qua một lượt soi lại độc lập. Lượt soi ấy chỉ ra 1 chỗ cần xem lại; chỗ nào là lỗi thật thì chúng tôi đã sửa và ghi rõ ở Phần IV. Muốn đọc trọn bài kinh, xin xem nguyên văn ba thứ tiếng. Thấy chỗ nào khác ấn bản in, xin báo cho chúng tôi.