G.Đ.P.T Huyền Quang Phật Pháp · Tam Tạng Kinh Điển Tăng Chi Bộ · AN 8.25
Thế Nào Là Một Người Cư Sĩ

Kinh Thích Tử Mahānāma

Mahānāma Sutta — AN 8.25 · Pāli · Việt · Anh

Tam TạngTạng KinhTrung BộKinh Thích Tử Mahānāma

Thích tử Mahānāma — người trong hoàng tộc Thích-ca, bà con của Thế Tôn — hỏi BỐN câu nối tiếp nhau, mỗi câu sâu thêm một bậc: thế nào là cư sĩ? cư sĩ GIỮ GIỚI? cư sĩ chỉ lo cho MÌNH? và cư sĩ lo cho CẢ HAI? Đây là bản đầy đủ tiếng Việt của bài kinh mà AN 8.26 chỉ ghi tắt.

  • Bộ — Tăng Chi Bộ, Chương Tám Pháp, kinh 25
  • Phẩm — Gia Chủ
  • Nơi chốnKapilavatthu, khu vườn Nigrodha, giữa dân chúng Sakka
  • Đọc kèmAN 8.26 (Jīvaka), nội dung y hệt, chỉ khác người hỏi

Đây là một bài kinh ngắn nhưng rất quan trọng đối với người tại gia, vì chính Đức Phật định nghĩa thế nào là một người cư sĩ. Tại vườn Nigrodha ở Kapilavatthu, Thích tử Mahānāma đến hỏi Thế Tôn bốn câu, và mỗi câu trả lời là một bậc thang đi lên. Câu thứ nhất: "Cho đến như thế nào là người nam cư sĩ?" Thế Tôn dạy: khi nào quy y Phật, quy y Pháp, quy y chúng Tăng, cho đến như vậy là người nam cư sĩ. Nghĩa là Tam Quy chính là cửa vào, là điều làm nên tư cách người cư sĩ — đúng như lễ Quy Y mà đoàn sinh Gia Đình Phật Tử thọ nhận. Câu thứ hai: thế nào là cư sĩ giữ giới? Thế Tôn dạy: khi nào từ bỏ sát sanh, từ bỏ lấy của không cho, từ bỏ tà hạnh trong các dục, từ bỏ nói láo, từ bỏ đắm say rượu men rượu nấu. Đó là Năm Giới. Vậy quy y là điều kiện để thành cư sĩ, còn năm giới là điều làm cho người cư sĩ ấy có giới đức. Câu thứ ba và thứ tư là phần cốt lõi và cũng là phần thiết thực nhất cho một Huynh Trưởng. Thế Tôn nêu tám điều: thành tựu lòng tin, thành tựu giữ giới, thành tựu bố thí, muốn đi yết kiến các Tỷ-kheo, muốn nghe diệu pháp, thọ trì pháp đã nghe, suy nghĩ ý nghĩa các pháp đã thọ trì, và sau khi biết nghĩa biết pháp thì thực hiện tùy pháp đúng Chánh pháp. Người nào chỉ tự mình làm tám điều ấy mà không khích lệ người khác cùng làm, thì Thế Tôn gọi là "thực hành vì tự lợi, không phải vì lợi tha". Người nào tự mình làm tám điều ấy và đồng thời khích lệ người khác cùng làm, thì gọi là "thực hành vì tự lợi và lợi tha". Bài kinh vì vậy dựng lên rất rõ con đường của người áo lam: tự mình tu trước, rồi dắt người khác cùng đi — không bỏ bên nào.

Bố cục bài kinhTheo đúng thứ tự trong kinh văn

  • 1. Duyên khởi và câu hỏi: thế nào là người cư sĩ? — Thế Tôn trú tại Kapilavatthu, vườn Nigrodha. Thích tử Mahānāma đảnh lễ, ngồi xuống một bên và hỏi. Thế Tôn đáp: quy y Phật, quy y Pháp, quy y chúng Tăng — cho đến như vậy là người nam cư sĩ.
  • 2. Người cư sĩ giữ giới — Mahānāma hỏi thế nào là cư sĩ giữ giới. Thế Tôn kể năm điều từ bỏ: sát sanh, lấy của không cho, tà hạnh trong các dục, nói láo, đắm say rượu men rượu nấu.
  • 3. Người cư sĩ thực hành vì tự lợi, không vì lợi tha — Tám điều: thành tựu lòng tin, giữ giới, bố thí, muốn yết kiến các Tỷ-kheo, muốn nghe diệu pháp, thọ trì pháp đã nghe, suy nghĩ ý nghĩa pháp đã thọ trì, biết nghĩa biết pháp rồi thực hiện tùy pháp — nhưng chỉ làm cho riêng mình, không khích lệ người khác.
  • 4. Người cư sĩ thực hành vừa tự lợi vừa lợi tha — Cũng tám điều ấy, nhưng tự mình thành tựu và đồng thời khích lệ người khác cùng thành tựu. Đó là cư sĩ thực hành vì tự lợi và lợi tha. Kinh kết thúc tại đây.

Mỗi đoạn ghi nguyên văn Pāli, rồi bản Việt, rồi bản tiếng Anh. Số bên trái là số đoạn trong kinh, để đối chiếu được.

AN 8.25.1
Ekaṁ samayaṁ bhagavā sakkesu viharati kapilavatthusmiṁ nigrodhārāme. Atha kho mahānāmo sakko yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho mahānāmo sakko bhagavantaṁ etadavoca:
Một thời, Thế Tôn trú ở giữa dân chúng Sakka, tại Kapilavatthu, ở khu vườn Nigrodha. Rồi Thích tử Mahànàma đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Thích tử Mahànàma bạch Thế Tôn:
At one time the Buddha was staying in the land of the Sakyans, near Kapilavatthu in the Banyan Tree Monastery. Then Mahānāma the Sakyan went up to the Buddha, bowed, sat down to one side, and said to him:
AN 8.25.1
“kittāvatā nu kho, bhante, upāsako hotī”ti?
—Bạch Thế Tôn, cho đến như thế nào là người nam cư sĩ?
“Sir, how is a lay follower defined?”
AN 8.25.1
“Yato kho, mahānāma, buddhaṁ saraṇaṁ gato hoti, dhammaṁ saraṇaṁ gato hoti, saṅghaṁ saraṇaṁ gato hoti; ettāvatā kho, mahānāma, upāsako hotī”ti.
—Này Mahànàma, khi nào quy y Phật, quy y Pháp, quy y chúng Tăng, cho đến như vậy, này Mahànàma, là người nam cư sĩ.
“Mahānāma, when you’ve gone for refuge to the Buddha, the teaching, and the Saṅgha, you’re considered to be a lay follower.”
AN 8.25.2
“Kittāvatā pana, bhante, upāsako sīlavā hotī”ti?
—Cho đến như thế nào, bạch Thế Tôn, là người nam cư sĩ giữ giới?
“But how is an ethical lay follower defined?”
AN 8.25.2
“Yato kho, mahānāma, upāsako pāṇātipātā paṭivirato hoti, adinnādānā paṭivirato hoti, kāmesumicchācārā paṭivirato hoti, musāvādā paṭivirato hoti, surāmerayamajjapamādaṭṭhānā paṭivirato hoti; ettāvatā kho, mahānāma, upāsako sīlavā hotī”ti.
—Này, Mahànàma, khi nào người nam cư sĩ từ bỏ sát sanh, từ bỏ lấy của không cho, từ bỏ tà hạnh trong các dục, từ bỏ nói láo, từ bỏ đắm say rượu men, rượu nấu, cho đến như vậy, là người nam cư sĩ giữ giới.
“When a lay follower doesn’t kill living creatures, steal, commit sexual misconduct, lie, or consume intoxicants of beer, wine, and liquor, they’re considered to be an ethical lay follower.”
AN 8.25.3
“Kittāvatā pana, bhante, upāsako attahitāya paṭipanno hoti, no parahitāyā”ti?
—Cho đến như thế nào, bạch Thế Tôn, là người nam cư sĩ thực hành, vì tư lợi chứ không vì lợi tha?
“But how do we define a lay follower who is practicing to benefit themselves, not others?”
AN 8.25.3
“Yato kho, mahānāma, upāsako attanāva saddhāsampanno hoti, no paraṁ saddhāsampadāya samādapeti; attanāva sīlasampanno hoti, no paraṁ sīlasampadāya samādapeti; attanāva cāgasampanno hoti, no paraṁ cāgasampadāya samādapeti; attanāva bhikkhūnaṁ dassanakāmo hoti, no paraṁ bhikkhūnaṁ dassane samādapeti; attanāva saddhammaṁ sotukāmo hoti, no paraṁ saddhammassavane samādapeti; attanāva sutānaṁ dhammānaṁ dhāraṇajātiko hoti, no paraṁ dhammadhāraṇāya samādapeti; attanāva sutānaṁ dhammānaṁ atthūpaparikkhitā hoti, no paraṁ atthūpaparikkhāya samādapeti; attanāva atthamaññāya dhammamaññāya dhammānudhammappaṭipanno hoti, no paraṁ dhammānudhammappaṭipattiyā samādapeti. Ettāvatā kho, mahānāma, upāsako attahitāya paṭipanno hoti, no parahitāyā”ti.
—Này Mahànàma, khi nào nam cư sĩ thành tựu lòng tin cho mình, không có khích lệ người khác thành tựu lòng tin; thành tựu giữ giới cho mình, không có khích lệ người khác thành tựu giữ giới, thành tựu bố thí cho mình, không khích lệ người khác thành tựu bố thí; muốn tự mình đi đến yết kiến các Tỷ-kheo, không có khích lệ người khác đi đến yết kiến các Tỷ kheo; chỉ tự mình muốn nghe diệu pháp, không khích lệ người khác nghe diệu pháp; tự mình thọ trì những pháp đã được nghe, không khích lệ người khác thọ trì những pháp đã được nghe; tự mình suy nghĩ đến ý nghĩa các pháp đã thọ trì, không khích lệ người khác suy nghĩ đến ý nghĩa các pháp đã thọ trì; sau khi tự mình biết nghĩa, biết pháp, thực hiện tùy pháp, đúng Chánh pháp, không khích lệ người khác thực hiện tùy pháp, đúng Chánh pháp. Cho đến như vậy, này Mahànàma, là nam cư sĩ thực hành vì tự lợi, không phải vì lợi tha.
“A lay follower is accomplished in faith, but doesn’t encourage others to do the same. They’re accomplished in ethical conduct, but don’t encourage others to do the same. They’re accomplished in generosity, but don’t encourage others to do the same. They like to see the mendicants, but don’t encourage others to do the same. They like to hear the true teaching, but don’t encourage others to do the same. They readily memorize the teachings they’ve heard, but don’t encourage others to do the same. They examine the meaning of the teachings they’ve memorized, but don’t encourage others to do the same. Understanding the meaning and the teaching, they practice in line with the teaching, but they don’t encourage others to do the same. That’s how we define a lay follower who is practicing to benefit themselves, not others.”
AN 8.25.4 (an8.25:4.1)
“Kittāvatā pana, bhante, upāsako attahitāya ca paṭipanno hoti parahitāya cā”ti?
—Cho đến như thế nào, bạch Thế Tôn, là nam cư sĩ thực hành vừa tự lợi, vừa lợi tha?
“But how do we define a lay follower who is practicing to benefit both themselves and others?”
AN 8.25.4
“Yato kho, mahānāma, upāsako attanā ca saddhāsampanno hoti, parañca saddhāsampadāya samādapeti; attanā ca sīlasampanno hoti, parañca sīlasampadāya samādapeti; attanā ca cāgasampanno hoti, parañca cāgasampadāya samādapeti; attanā ca bhikkhūnaṁ dassanakāmo hoti, parañca bhikkhūnaṁ dassane samādapeti; attanā ca saddhammaṁ sotukāmo hoti, parañca saddhammassavane samādapeti; attanā ca sutānaṁ dhammānaṁ dhāraṇajātiko hoti, parañca dhammadhāraṇāya samādapeti; attanā ca sutānaṁ dhammānaṁ atthūpaparikkhitā hoti, parañca atthūpaparikkhāya samādapeti, attanā ca atthamaññāya dhammamaññāya dhammānudhammappaṭipanno hoti, parañca dhammānudhammappaṭipattiyā samādapeti. Ettāvatā kho, mahānāma, upāsako attahitāya ca paṭipanno hoti parahitāya cā”ti.
—Này Mahànàma, khi nào nam cư sĩ tự mình thành tựu lòng tin và khích lệ người khác thành tựu lòng tin; khi nào tự mình giữ giới và khích lệ người khác giữ giới; khi nào tự mình bố thí và khích lệ người khác bố thí; khi nào tự mình muốn đi đến yết kiến các Tỷ-kheo và khích lệ người khác đi đến yết kiến các Tỷ-kheo; khi nào tự mình muốn nghe diệu pháp và khích lệ người khác nghe diệu pháp; khi nào tự mình thọ trì những pháp đã được nghe và khích lệ người khác thọ trì những pháp đã được nghe; khi nào tự mình suy nghĩ đến ý nghĩa các pháp đã thọ trì và khích lệ người khác suy nghĩ đến ý nghĩa các pháp đã thọ trì; sau khi tự mình biết nghĩa, biết pháp, thực hiện pháp đúng Chánh pháp, khích lệ người khác sau khi biết nghĩa biết pháp, thực hiện pháp đúng Chánh pháp. Cho đến như vậy, này Mahànàma, là nam cư sĩ thực hành vì tự lợi và lợi tha.
“A lay follower is accomplished in faith and encourages others to do the same. They’re accomplished in ethical conduct and encourage others to do the same. They’re accomplished in generosity and encourage others to do the same. They like to see the mendicants and encourage others to do the same. They like to hear the true teaching and encourage others to do the same. They readily memorize the teachings they’ve heard and encourage others to do the same. They examine the meaning of the teachings they’ve memorized and encourage others to do the same. Understanding the meaning and the teaching, they practice in line with the teaching and they encourage others to do the same. That’s how we define a lay follower who is practicing to benefit both themselves and others.”
Chữ PāliNghĩaGhi chú
upāsakanam cư sĩ (người tại gia thọ Tam Quy)Bản Minh Châu dịch là "người nam cư sĩ".
saraṇaṁ gatoquy y, đi đến nương tựaQuy y Phật, Pháp, Tăng.
sīlavācó giới, giữ giới
pāṇātipātā paṭiviratotừ bỏ sát sanh
adinnādānā paṭiviratotừ bỏ lấy của không cho
kāmesumicchācārā paṭiviratotừ bỏ tà hạnh trong các dục
musāvādā paṭiviratotừ bỏ nói láo
surāmerayamajjapamādaṭṭhānā paṭiviratotừ bỏ đắm say rượu men, rượu nấu
saddhāsampannothành tựu lòng tin
cāgasampannothành tựu bố thí (xả thí)
saddhammadiệu pháp, Chánh pháp
dhammānudhammappaṭipannothực hiện tùy pháp, đúng Chánh pháp
attahita / parahitatự lợi / lợi tha
samādapetikhích lệ, khuyến khích người khác cùng làm

Xin thưa đôi lời về người hỏi. THÍCH TỬ MAHĀNĀMA là người trong hoàng tộc Thích-ca, bà con của chính Đức Thế Tôn, và là một cư sĩ tại gia — không phải người xuất gia.

Xin thưa chi tiết ấy làm câu hỏi đầu của ông thành ra cảm động. Một người bà con của Phật, sống ngay bên cạnh Phật — mà vẫn hỏi: “cho đến như thế nào là NGƯỜI NAM CƯ SĨ?”

Con nghĩ điều ấy dạy ta một chuyện: GẦN không có nghĩa là BIẾT. Phải hỏi thì mới rõ.

Và câu đáp của Thế Tôn ngắn tới mức bất ngờ: “khi nào QUY Y PHẬT, QUY Y PHÁP, QUY Y CHÚNG TĂNG — cho đến như vậy, này Mahànàma, là người nam cư sĩ.”

Xin thưa: KHÔNG có điều kiện nào khác. Không cần cúng dường nhiều. Không cần đi chùa lâu năm. Không cần thuộc kinh. Chỉ TAM QUY.

Và điều ấy rất đáng nói với các em: cửa vào rất rộng. Ai quy y Tam Bảo thì đã là cư sĩ rồi, không ai được phép nói khác.

Câu thứ hai ông hỏi: thế nào là CƯ SĨ GIỮ GIỚI (upāsako sīlavā)?

Đáp: khi nào từ bỏ SÁT SANH, LẤY CỦA KHÔNG CHO, TÀ HẠNH TRONG CÁC DỤC, NÓI LÁO, và ĐẮM SAY RƯỢU MEN RƯỢU NẤU — tức NĂM GIỚI, đúng năm giới các em thọ trong lễ quy y.

Xin để ý cách kinh XẾP BẬC ở đây, và con thấy chỗ này rất tinh tế. Người quy y mà CHƯA giữ giới thì VẪN LÀ CƯ SĨ — chỉ là chưa phải “cư sĩ có giới”. Kinh KHÔNG đuổi ai ra khỏi hàng cư sĩ vì chưa giữ đủ giới.

Con nghĩ cách xếp bậc ấy rất từ bi, và rất nên dạy cho các em. Nó cho người ta một chỗ ĐỨNG trước, rồi mới chỉ chỗ ĐI TỚI.

Câu thứ ba: thế nào là cư sĩ THỰC HÀNH VÌ TỰ LỢI mà KHÔNG vì lợi tha?

Thế Tôn kể TÁM điều — và xin bác để ý tám điều ấy làm thành một CHUỖI rất tự nhiên: (1) tự mình thành tựu LÒNG TIN; (2) GIỮ GIỚI; (3) BỐ THÍ; (4) MUỐN YẾT KIẾN các Tỷ-kheo; (5) MUỐN NGHE diệu pháp; (6) THỌ TRÌ pháp đã nghe; (7) SUY XÉT Ý NGHĨA các pháp đã thọ trì; (8) sau khi biết nghĩa biết pháp thì THỰC HÀNH đúng Chánh pháp.

Xin thưa chuỗi ấy đi rất tự nhiên: có TIN thì mới GIỮ; có giữ thì mới CHO được; cho rồi thì MUỐN GẶP người tu; gặp thì MUỐN NGHE; nghe thì NHỚ; nhớ thì NGHĨ; nghĩ ra rồi thì LÀM.

“Nhưng KHÔNG KHÍCH LỆ NGƯỜI KHÁC làm như vậy.” Và chừng ấy thì kinh gọi là cư sĩ CHỈ LO CHO MÌNH.

Câu thứ tư: thế nào là cư sĩ vừa TỰ LỢI vừa LỢI THA?

Cũng TÁM điều ấy — không thêm điều nào cả — nhưng mỗi điều tự mình làm được rồi CÒN KHÍCH LỆ NGƯỜI KHÁC CÙNG LÀM.

Xin thưa chỗ này con thấy rất khéo, và cũng rất nghiêm. Kinh KHÔNG thêm một hạnh mới nào cho hạng thứ tư. Nghĩa là: muốn dắt người khác thì phải TỰ MÌNH LÀM ĐƯỢC ĐIỀU ẤY TRƯỚC ĐÃ.

Và cũng nghĩa là: tự mình làm được mà GIỮ CHO RIÊNG MÌNH thì kinh xếp vào hạng thấp hơn.

Xin thưa một điều về trang này, và con phải nói rõ chứ không sửa thầm. Bản đầu chúng con dựng đã chép đủ câu trả lời của Thế Tôn ở tiết 4, nhưng BỎ SÓT câu hỏi của Thích tử Mahānāma mở đầu tiết ấy — làm gãy thế đối đáp và khiến người đọc tưởng Thế Tôn tự nói tiếp.

Chúng con đã TẢI LẠI cả ba nguồn — bản Pāli Mahāsaṅgīti, bản Anh của Tỳ-kheo Sujato, và bản Việt của Hoà thượng Thích Minh Châu — đọc tận nơi đoạn an8.25:4.1, rồi chép nguyên văn câu hỏi ấy trả lại vào trang. Nay bốn tiết đều đủ cặp hỏi–đáp.

Xin thưa một điều nhỏ về chính tả. Bản Minh Châu dùng lối viết dấu cũ “Mahànàma” (dấu huyền) thay vì “Mahānāma” (dấu ngang) như bản Pāli. Trong các ô trích chúng con GIỮ NGUYÊN như bản in của Hoà thượng, không sửa một chữ nào.

Xin thưa lời cuối cho anh chị em, và con nghĩ bài này nói đúng chỗ đứng của người Huynh Trưởng. Hạng thứ ba và hạng thứ tư KHÁC NHAU ĐÚNG MỘT VIỆC: có KHÍCH LỆ NGƯỜI KHÁC hay không.

Và cái khích lệ ấy KHÔNG phải giảng cho hay. Là tám điều rất cụ thể: rủ nhau giữ giới, rủ nhau bố thí, rủ nhau đi nghe pháp, rủ nhau nhớ lấy, rủ nhau nghĩ cho ra, rủ nhau làm. Đó đúng là việc anh chị em làm mỗi tuần ở đoàn quán.

  • “Phải giữ giới mới được gọi là cư sĩ.” Kinh xếp bậc rất rõ: quy y Tam Bảo là ĐÃ LÀ cư sĩ; giữ năm giới thì thành “cư sĩ CÓ GIỚI”. Không ai bị đuổi ra khỏi hàng cư sĩ vì chưa giữ đủ giới.
  • “Muốn làm lợi cho người thì phải học thêm hạnh khác.” Hạng thứ tư KHÔNG có hạnh mới nào — vẫn tám điều ấy, chỉ thêm khích lệ người khác cùng làm.
  • “Tự tu cho xong đã, rồi mới lo cho người.” Kinh xếp người tự mình làm được mà KHÔNG khích lệ ai vào hạng THẤP HƠN.
  • “Khích lệ người khác nghĩa là đi giảng đạo.” Tám điều trong kinh đều rất cụ thể và rất đời thường — rủ nhau giữ giới, rủ nhau bố thí, rủ nhau đi nghe pháp. Không phải lên toà thuyết pháp.
  • Ngành Oanh. Dạy câu đáp thứ nhất: quy y Phật, Pháp, Tăng — thế là đã là người cư sĩ rồi.
  • Ngành Thiếu. Học chuỗi tám điều, rồi hỏi: em đang ở bước nào?
  • Ngành Thanh và Huynh Trưởng. Soi chỗ khác nhau đúng một việc giữa hạng ba và hạng tư: mình có RỦ ai cùng làm không?
  • Điều kiện để gọi là người cư sĩ là gì?
  • Cư sĩ có giới khác cư sĩ ở chỗ nào?
  • Tám điều của người tự lợi là gì?
  • Hạng thứ ba và thứ tư khác nhau chỗ nào?

Nguyên văn Pāli chép từ ấn bản Mahāsaṅgīti — tệp dữ liệu gốc bilara-data của suttacentral.net, từng đoạn có đánh số. Bản tiếng Việt của Hoà thượng Thích Minh Châu; bản tiếng Anh của Tỳ-kheo Sujato. Bài này đã qua một lượt soi lại độc lập. Lượt soi ấy chỉ ra 1 chỗ cần xem lại; chỗ nào là lỗi thật thì chúng tôi đã sửa và ghi rõ ở Phần IV. Muốn đọc trọn bài kinh, xin xem nguyên văn ba thứ tiếng. Thấy chỗ nào khác ấn bản in, xin báo cho chúng tôi.