G.Đ.P.T Huyền Quang Phật Pháp · Tam Tạng Kinh Điển Tăng Chi Bộ · AN 8.9
Giữ Mắt · Giữ Miệng Ăn · Giữ Giờ · Giữ Tâm

Kinh Tôn Giả Nanda

Nanda Sutta — AN 8.9 · Pāli · Việt · Anh

Tam TạngTạng KinhTrung BộKinh Tôn Giả Nanda

Thế Tôn tán thán Tôn giả Nanda, rồi hỏi một câu rất khéo: nếu KHÔNG nhờ BỐN điềuchế ngự các căn, tiết độ ăn uống, chú tâm cảnh giác, chánh niệm tỉnh giácthì làm sao Nanda hành Phạm hạnh đầy đủ thanh tịnh được?

  • Bộ — Tăng Chi Bộ, Chương Tám Pháp, kinh 9
  • Phẩm — Từ (Mettāvagga)
  • Nơi chốn — kinh không ghi; Thế Tôn dạy thẳng cho các Tỷ-kheo
  • Đọc kèmAN 3.16 (con đường không lỗi lầm, cùng ba pháp đầu)

Đây là bài kinh ngắn Đức Phật nói với chúng Tỷ-kheo về Tôn giả Nanda — người em cùng cha khác mẹ của Ngài (chi tiết họ hàng này lấy từ Chú giải và các kinh khác — chính kinh AN 8.9 không nhắc tới). Mở đầu, Đức Phật nói rằng nói một cách chơn chánh về Nanda thì có thể gọi Nanda là "Thiện nam tử", "vị có sức mạnh", "vị có tịnh tín" và (theo bản Việt) "vị có chánh niệm sắc bén". Rồi Ngài đặt câu hỏi: nếu không nhờ bốn điều — chế ngự các căn, tiết độ trong ăn uống, chú tâm cảnh giác, chánh niệm tỉnh giác — thì làm sao Nanda có thể hành Phạm hạnh đầy đủ thanh tịnh? Phần còn lại của kinh giải thích từng điều một, rất cụ thể và dễ hình dung: 1. Chế ngự các căn (indriyesu guttadvāratā): khi Nanda cần nhìn về phương Đông, thầy tập trung tất cả tâm rồi mới nhìn, với ý thức rõ rằng khi nhìn như vậy thì tham, ưu, các ác bất thiện pháp sẽ không xâm nhập. Tương tự với phương Tây, Bắc, Nam, nhìn lên, cúi xuống và các hướng giữa. Có thể hiểu (lời diễn giải, không phải nguyên văn kinh): đây không phải là nhắm mắt trốn cảnh, mà là giữ tâm tỉnh giác ngay trong cái nhìn. 2. Tiết độ trong ăn uống (bhojane mattaññutā): thọ dụng món ăn với chánh tư duy, không phải để vui đùa, đam mê, trang sức hay làm đẹp thân, mà chỉ để thân được an trú, khỏi bị thương hại, để hỗ trợ Phạm hạnh. 3. Chú tâm cảnh giác (jāgariyānuyoga): ban ngày và canh đầu đêm thì đi kinh hành hoặc ngồi để tẩy sạch tâm khỏi các pháp chướng ngại; canh giữa nằm dáng nằm con sư tử, chánh niệm tỉnh giác, tâm nghĩ đến lúc thức dậy; canh cuối dậy tiếp tục kinh hành và ngồi. 4. Chánh niệm tỉnh giác (satisampajañña): rõ biết thọ, tưởng, tầm khi khởi lên, khi an trú và khi chấm dứt. Kinh kết lại bằng chính câu hỏi mở đầu, nhấn mạnh: chính bốn pháp này làm nên đời sống Phạm hạnh thanh tịnh. Đối với Huynh Trưởng và đoàn sinh, đây là một bài kinh rất thực tế về nếp sống hằng ngày — giữ mắt, giữ miệng ăn, giữ giờ giấc, giữ tâm.

Bố cục bài kinhTheo đúng thứ tự trong kinh văn

  • 1. Lời tán thán và câu hỏi mở đầu — Đức Phật nêu bốn cách gọi chơn chánh về Nanda, rồi hỏi: nếu không nhờ chế ngự các căn, tiết độ ăn uống, chú tâm cảnh giác, chánh niệm tỉnh giác thì làm sao Nanda hành Phạm hạnh đầy đủ thanh tịnh (an8.9:1.1–1.5).
  • 2. Nanda chế ngự các căn — Trước khi nhìn về mỗi phương (Đông, Tây, Bắc, Nam, trên, dưới, các hướng giữa), Nanda tập trung tất cả tâm, biết rõ tham ưu và các ác bất thiện pháp sẽ không xâm nhập (an8.9:1.6–2.9).
  • 3. Nanda tiết độ trong ăn uống — Thọ dụng món ăn với chánh tư duy, không để vui đùa, đam mê, trang sức, làm đẹp, mà chỉ để nuôi thân và hỗ trợ Phạm hạnh (an8.9:3.1–3.4).
  • 4. Nanda chú tâm cảnh giác — Ban ngày, canh một và canh cuối đi kinh hành hoặc ngồi tẩy sạch tâm khỏi các pháp chướng ngại; canh giữa nằm dáng nằm con sư tử, chánh niệm tỉnh giác (an8.9:4.1–4.6).
  • 5. Nanda chánh niệm tỉnh giác — Rõ biết các thọ, các tưởng, các tầm khi khởi lên, khi an trú, khi chấm dứt (an8.9:5.1–5.5).
  • 6. Kết luận lặp lại câu hỏi mở đầu — Đức Phật lặp lại câu hỏi về bốn pháp làm nên Phạm hạnh đầy đủ thanh tịnh của Nanda (an8.9:6.1).

Mỗi đoạn ghi nguyên văn Pāli, rồi bản Việt, rồi bản tiếng Anh. Số bên trái là số đoạn trong kinh, để đối chiếu được.

AN 8.9, đoạn 1 (an8.9:1.1)
“‘kulaputto’ti, bhikkhave, nandaṁ sammā vadamāno vadeyya.
Này các Tỷ-kheo, nói một cách chơn chánh về Nanda, có thể nói như sau: “Là Thiện nam tử”.
“Mendicants, you could rightly call Nanda ‘Gentleman’,
AN 8.9, đoạn 1 (an8.9:1.5)
Kimaññatra, bhikkhave, nando indriyesu guttadvāro, bhojane mattaññū, jāgariyaṁ anuyutto, satisampajaññena samannāgato, yehi nando sakkoti paripuṇṇaṁ parisuddhaṁ brahmacariyaṁ carituṁ.
Ai khác ngoài Nanda, này các Tỷ-kheo, thành tựu chế ngự các căn, biết tiết độ trong ăn uống, chú tâm cảnh giác, chánh niệm tỉnh giác? Nhờ vậy, Nanda có thể hành Phạm hạnh đầy đủ thanh tịnh.
How could he live the full and pure spiritual life unless he guards the sense doors, eats in moderation, is dedicated to wakefulness, and has mindfulness and situational awareness?
AN 8.9, đoạn 2 (an8.9:1.7–1.9)
Sace, bhikkhave, nandassa puratthimā disā āloketabbā hoti, sabbaṁ cetasā samannāharitvā nando puratthimaṁ disaṁ āloketi: ‘evaṁ me puratthimaṁ disaṁ ālokayato nābhijjhādomanassā pāpakā akusalā dhammā anvāssavissantī’ti. Itiha tattha sampajāno hoti.
Này các Tỷ-kheo, nếu Nanda phải nhìn về phương Ðông, tập trung tất cả tâm, Nanda nhìn về hướng Ðông và suy nghĩ: “Như vậy, khi Ta đang nhìn về hướng Ðông, thời tham, ưu, các ác bất thiện pháp sẽ không có xâm nhập”. Như vậy, ở đây vị ấy tỉnh giác.
If he has to look to the east, he wholeheartedly concentrates before looking, thinking: ‘When I look to the east, bad, unskillful qualities of covetousness and displeasure will not overwhelm me.’ In this way he’s aware of the situation.
AN 8.9, đoạn 3 (an8.9:3.2–3.3)
Idha, bhikkhave, nando paṭisaṅkhā yoniso āhāraṁ āhāreti: ‘neva davāya na madāya na maṇḍanāya na vibhūsanāya, yāvadeva imassa kāyassa ṭhitiyā yāpanāya vihiṁsūparatiyā brahmacariyānuggahāya iti purāṇañca vedanaṁ paṭihaṅkhāmi, navañca vedanaṁ na uppādessāmi, yātrā ca me bhavissati anavajjatā ca phāsuvihāro cā’ti.
Ở đây, này các Tỷ-kheo, Nanda với chánh tư duy thọ dụng các món ăn, không phải để vui đùa, không phải để đam mê, không phải để trang sức, không phải để tự làm đẹp mình, mà chỉ để thân này được an trú và được bảo dưỡng, để thân này khỏi bị thương hại, để hỗ trợ Phạm hạnh, nghĩ rằng: “Như vậy chúng ta diệt trừ các cảm thọ cũ và không cho khởi lên các cảm thọ mới, và chúng ta sẽ không có lỗi lầm, sống được an ổn”.
Nanda reflects rationally on the food he eats: ‘Not for fun, indulgence, adornment, or decoration, but only to sustain this body, to avoid harm, and to support spiritual practice. In this way, I shall put an end to old discomfort and not give rise to new discomfort, and I will have the means to keep going, blamelessness, and a comfortable abiding.’
AN 8.9, đoạn 4 (an8.9:4.2–4.5)
Idha, bhikkhave, nando divasaṁ caṅkamena nisajjāya āvaraṇīyehi dhammehi cittaṁ parisodheti; rattiyā paṭhamaṁ yāmaṁ caṅkamena nisajjāya āvaraṇīyehi dhammehi cittaṁ parisodheti; rattiyā majjhimaṁ yāmaṁ dakkhiṇena passena sīhaseyyaṁ kappeti pāde pādaṁ accādhāya sato sampajāno uṭṭhānasaññaṁ manasi karitvā; rattiyā pacchimaṁ yāmaṁ paccuṭṭhāya caṅkamena nisajjāya āvaraṇīyehi dhammehi cittaṁ parisodheti.
Ở đây, này các Tỷ-kheo, Nanda ban ngày đi kinh hành hay trong khi ngồi, Nanda tẩy sạch tâm tư khỏi các pháp chướng ngại. Ban đêm canh một đi kinh hành, hay trong khi ngồi, Nanda tẩy sạch tâm tư khỏi các pháp chướng ngại. Ban đêm, canh giữa, Nanda nằm dáng nằm con sư tử, bên hông tay phải, một chân đặt trên chân kia, chánh niệm tỉnh giác, tâm nghĩ đến thức dậy lại. Ban đêm, canh cuối thức dậy, đi kinh hành hay trong khi ngồi, Nanda tẩy sạch tâm tư khỏi các pháp chướng ngại.
Nanda practices walking and sitting meditation by day, purifying his mind from obstacles. In the first watch of the night, he continues to practice walking and sitting meditation. In the middle watch, he lies down in the lion’s posture—on the right side, placing one foot on top of the other—mindful and aware, and focused on the time of getting up. In the last watch, he gets up and continues to practice walking and sitting meditation, purifying his mind from obstacles.
AN 8.9, đoạn 5 (an8.9:5.2–5.4)
Idha, bhikkhave, nandassa viditā vedanā uppajjanti, viditā upaṭṭhahanti, viditā abbhatthaṁ gacchanti; viditā saññā …pe… viditā vitakkā …pe… abbhatthaṁ gacchanti.
Ở đây, này các Tỷ-kheo, Nanda rõ biết khi các thọ khởi lên, rõ biết khi các thọ an trú, rõ biết khi các thọ chấm dứt … rõ biết khi các tưởng … rõ biết khi các tầm khởi lên, rõ biết khi các tầm an trú, rõ biết khi các tầm chấm dứt.
Nanda knows feelings as they arise, as they remain, and as they go away. He knows perceptions as they arise, as they remain, and as they go away. He knows thoughts as they arise, as they remain, and as they go away.
AN 8.9, đoạn 2 cuối (an8.9:2.9)
Idaṁ kho, bhikkhave, nandassa indriyesu guttadvāratāya hoti.
Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Nanda chế ngự các căn.
This is how Nanda guards the sense doors.
AN 8.9, kết (an8.9:6.1)
Kimaññatra, bhikkhave, nando indriyesu guttadvāro, bhojane mattaññū, jāgariyaṁ anuyutto, satisampajaññena samannāgato, yehi nando sakkoti paripuṇṇaṁ parisuddhaṁ brahmacariyaṁ caritun”ti.
Này các Tỷ-kheo, ai khác ngoài Nanda, thành tựu chế ngự các căn, biết tiết độ trong ăn uống, chú tâm cảnh giác, chánh niệm tỉnh giác? Nhờ vậy, Nanda có thể hành Phạm hạnh đầy đủ thanh tịnh.
How could Nanda live the full and pure spiritual life unless he guards the sense doors, eats in moderation, is dedicated to wakefulness, and has mindfulness and situational awareness?”
Chữ PāliNghĩaGhi chú
kulaputtaThiện nam tửBản Việt: “Là Thiện nam tử”; Sujato: “Gentleman”.
indriyesu guttadvāra / guttadvāratāChế ngự các căn (giữ gìn các căn môn)
bhojane mattaññutāTiết độ trong ăn uống
jāgariyānuyogaChú tâm cảnh giác (chuyên tâm tỉnh thức)
satisampajaññaChánh niệm tỉnh giác
brahmacariyaPhạm hạnh
abhijjhādomanassaTham, ưu
pāpakā akusalā dhammāCác ác bất thiện pháp
sīhaseyyaDáng nằm con sư tử
caṅkamaKinh hành
āvaraṇīyā dhammāCác pháp chướng ngại (triền cái)
vedanā / saññā / vitakkaThọ / tưởng / tầm
paṭisaṅkhā yonisoChánh tư duy (như lý giác sát) khi thọ dụng
pāsādikaBản Việt: “vị có tịnh tín”; Sujato: “lovely” (khả ái, dễ mến)Nghĩa đen: khả ái, làm khởi lòng tịnh tín (pasāda) nơi người khác — nói về vẻ ngoài đoan chính dễ mến.

Xin thưa bài kinh này gần như là bản “người thật việc thật” của kinh AN 3.16 mà anh chị em đã đọc — cùng những pháp ấy, nhưng chỉ vào MỘT NGƯỜI CỤ THỂ.

Thế Tôn mở đầu bằng lời tán thán: nói một cách chơn chánh về Nanda thì có thể gọi là “THIỆN NAM TỬ”, “vị có SỨC MẠNH”, “vị có TỊNH TÍN”, và “vị có CHÁNH NIỆM SẮC BÉN”.

Rồi Ngài đặt câu hỏi — và con thấy cách hỏi này rất khéo: “AI KHÁC ngoài Nanda, thành tựu chế ngự các căn, biết tiết độ trong ăn uống, chú tâm cảnh giác, chánh niệm tỉnh giác? NHỜ VẬY, Nanda có thể hành Phạm hạnh đầy đủ thanh tịnh.

Nghĩa là: cái làm nên Nanda KHÔNG phải tài năng gì đặc biệtlà BỐN việc rất đời thường.

Và phần còn lại của kinh giải từng điều một, rất cụ thể và dễ hình dung:

MỘT — CHẾ NGỰ CÁC CĂN. Và chỗ này con thấy hay lạ thường, xin bác đọc kỹ:

“Nếu Nanda phải NHÌN VỀ PHƯƠNG ĐÔNG, TẬP TRUNG TẤT CẢ TÂM, Nanda nhìn về hướng Đông và suy nghĩ: ‘Như vậy, khi Ta đang nhìn về hướng Đông, thời THAM, ƯU, các ác bất thiện pháp SẼ KHÔNG CÓ XÂM NHẬP’. Như vậy, ở đây vị ấy TỈNH GIÁC.”

Rồi y hệt như vậy với phương Tây, phương Bắc, phương Nam, nhìn lên, cúi xuống, và các hướng giữa.

Xin thưa có thể hiểu — và đây là lời diễn giải của chúng con, KHÔNG phải nguyên văn kinh — rằng: đây KHÔNG phải là nhắm mắt trốn cảnh, mà là GIỮ TÂM TỈNH GIÁC NGAY TRONG CÁI NHÌN.

Con nghĩ chi tiết “tập trung tất cả tâm RỒI MỚI NHÌN” rất đáng học: cái nhìn có chuẩn bị khác hẳn cái nhìn buột ra.

HAI — TIẾT ĐỘ TRONG ĂN UỐNG: thọ dụng món ăn với CHÁNH TƯ DUY, “không phải để vui đùa, không phải để đam mê, không phải để trang sức, không phải để tự làm đẹp mình”, mà chỉ để thân được an trú, khỏi bị thương hại, để HỖ TRỢ PHẠM HẠNH.

BA — CHÚ TÂM CẢNH GIÁC: ban ngàycanh đầu đêm thì đi kinh hành hoặc ngồi để TẨY SẠCH TÂM khỏi các pháp chướng ngại; canh giữa nằm dáng nằm con sư tử, chánh niệm tỉnh giác, tâm nghĩ đến lúc thức dậy; canh cuối dậy tiếp tục.

BỐN — CHÁNH NIỆM TỈNH GIÁC: rõ biết các THỌ, các TƯỞNG, các TẦM — khi KHỞI LÊN, khi AN TRÚ, và khi CHẤM DỨT.

Xin thưa chỗ này rất gọn mà rất đủ: ba thứ (thọ, tưởng, tầm) × ba thì (khởi, trú, diệt).

Kinh kết lại bằng ĐÚNG CÂU HỎI MỞ ĐẦU, nhấn mạnh: chính BỐN PHÁP NÀY làm nên đời sống Phạm hạnh thanh tịnh.

Xin thưa lời cuối cho anh chị em, và con nghĩ bài này rất tiện làm bảng tự soi.

Bốn pháp ấy gói lại thành bốn việc rất đời thường: GIỮ MẮT, GIỮ MIỆNG ĂN, GIỮ GIỜ GIẤC, và GIỮ TÂM.

Và xin nhớ: Thế Tôn tán thán Tôn giả Nanda KHÔNG vì Ngài chứng đắc gì cao siêu — mà vì bốn việc rất giản dị ấy Ngài làm được ĐỀU ĐẶN.

Xin thưa hai ghi nhận về trang, để anh chị em đọc cho đúng ranh giới.

Thứ nhất: chi tiết Tôn giả Nanda là em cùng cha khác mẹ của Thế Tônđúng theo truyền thống, nhưng lấy từ Chú giải và các kinh khácchính kinh AN 8.9 KHÔNG nhắc tới. Trang đã ghi rõ như vậy.

Thứ hai: câu “đây không phải là nhắm mắt trốn cảnh…”LỜI DIỄN GIẢI của trang, không phải nguyên văn kinh — kinh chỉ nói “tập trung tất cả tâm rồi mới nhìn”. Trang đã đánh dấu rõ.

  • “Chế ngự các căn là đừng nhìn.” Kinh tả Tôn giả Nanda VẪN NHÌN đủ mọi hướng — chỉ là “TẬP TRUNG TẤT CẢ TÂM rồi mới nhìn”.
  • “Thế Tôn khen Nanda vì Ngài chứng đắc cao.” Kinh khen vì BỐN việc rất đời thường: giữ mắt, giữ miệng ăn, giữ giờ giấc, giữ tâm.
  • “Chú tâm cảnh giác là thức trắng.” Kinh dành CANH GIỮA để ngủ, nằm dáng con sư tử, chánh niệm tỉnh giác.
  • “Kinh này nói Nanda là em Đức Phật.” Chi tiết ấy lấy từ Chú giải và các kinh khác; chính kinh AN 8.9 KHÔNG nhắc tới quan hệ họ hàng.
  • Ngành Oanh. Dạy điều thứ hai trong bữa cơm, và điều thứ ba trong giờ ngủ: ăn vừa đủ, ngủ đúng giờ.
  • Ngành Thiếu. Học chi tiết “tập trung tất cả tâm rồi mới nhìn” — rồi thử áp vào lúc mở điện thoại.
  • Ngành Thanh và Huynh Trưởng. Lấy bốn pháp làm bảng tự soi mỗi ngày: mắt, miệng ăn, giờ giấc, tâm.
  • Thế Tôn gọi Tôn giả Nanda bằng những danh xưng nào?
  • Bốn pháp làm nên Phạm hạnh thanh tịnh là gì?
  • Nanda chế ngự các căn bằng cách nào?
  • Chánh niệm tỉnh giác gồm những gì?
  • Vì sao nói bốn pháp ấy rất đời thường?

Nguyên văn Pāli chép từ ấn bản Mahāsaṅgīti — tệp dữ liệu gốc bilara-data của suttacentral.net, từng đoạn có đánh số. Bản tiếng Việt của Hoà thượng Thích Minh Châu; bản tiếng Anh của Tỳ-kheo Sujato. Bài này đã qua một lượt soi lại độc lập. Lượt soi ấy chỉ ra 3 chỗ cần xem lại; chỗ nào là lỗi thật thì chúng tôi đã sửa và ghi rõ ở Phần IV. Muốn đọc trọn bài kinh, xin xem nguyên văn ba thứ tiếng. Thấy chỗ nào khác ấn bản in, xin báo cho chúng tôi.