G.Đ.P.T Huyền Quang Phật Pháp · Tam Tạng Kinh Điển Tăng Chi Bộ · AN 8.5
Tám Ngọn Gió Đời

Kinh Tùy Chuyển Thế Giới

Lokadhamma Sutta — AN 8.5 · Pāli · Việt · Anh

Tam TạngTạng KinhTrung BộKinh Tùy Chuyển Thế Giới

TÁM pháp thế gian tùy chuyển thế giới, và thế giới tùy chuyển theo tám pháp ấybốn cặp đối nhau: được và mất, vinh và nhục, khen và chê, sướng và khổ. Không ai thoát khỏi. Cái Thế Tôn dạy KHÔNG phải là tránh, mà là THẤY RÕ TÁNH BIẾN DIỆT của chúng.

  • Bộ — Tăng Chi Bộ, Chương Tám Pháp, kinh 5
  • Phẩm — Từ (Mettāvagga)
  • Nơi chốn — kinh không ghi; Thế Tôn dạy thẳng
  • Đọc kèmAN 8.6 (bản thứ hai, có thêm phần phân biệt kẻ vô văn và bậc Thánh đệ tử)

Đây là bài kinh rất ngắn nhưng được trích tụng nhiều bậc nhất trong Tăng Chi Bộ, thường gọi là kinh "Tám Pháp Thế Gian" (aṭṭha lokadhammā). Thế Tôn dạy rằng có tám pháp thế gian xoay chuyển thế giới, và thế giới cũng xoay chuyển theo tám pháp ấy. Tám pháp gồm bốn cặp đối nhau: lợi dưỡng và không lợi dưỡng, danh vọng và không danh vọng, tán thán và chỉ trích, lạc và khổ. Không ai sống trong đời mà thoát khỏi tám điều này; chúng đến rồi đi, không do ta muốn hay không muốn. Phần sau kinh là bài kệ. Bài kệ nêu rõ tám pháp ấy là vô thường, không thường hằng, chịu biến diệt. Người có chánh niệm và có trí thì quán thấy tánh biến diệt ấy, nên khi gặp pháp khả ái tâm không dao động, khi gặp pháp không khả ái tâm không sân hận. Nhờ vậy mà mọi sự thuận (ưa thích chạy theo) và nghịch (chống đối ghét bỏ) đều được tiêu tan, không còn. Vị ấy biết được con đường không trần cấu, không sầu, chơn chánh biết sanh hữu và đi đến bờ bên kia. Với Huynh trưởng Gia Đình Phật Tử, bài kinh này rất thiết thực trong sinh hoạt: khi được khen, được đông đoàn sinh, được tán thán thì đừng lên; khi bị chê, bị hiểu lầm, gặp khó khăn thì đừng xuống. Điểm mấu chốt Phật dạy không phải là tránh tám pháp thế gian (không thể tránh), mà là thấy rõ tánh vô thường của chúng để tâm không bị chúng lôi kéo. Đây là nền tảng của hạnh xả (upekkhā) trong đời sống hằng ngày, và cũng là bài kinh nên dạy cho các em ngành Thiếu, ngành Thanh khi bàn về nhẫn nhục và tinh thần phụng sự vô cầu.

Bố cục bài kinhTheo đúng thứ tự trong kinh văn

  • 1. Lời tuyên thuyết mở đầu — Thế Tôn tuyên bố tám pháp thế gian tùy chuyển thế giới, và thế giới tùy chuyển theo tám pháp thế gian ấy, rồi hỏi: Thế nào là tám?
  • 2. Liệt kê tám pháp thế gian — Bốn cặp: lợi dưỡng và không lợi dưỡng, danh vọng và không danh vọng, tán thán và chỉ trích, lạc và khổ. Sau đó lặp lại câu tuyên thuyết để kết phần văn xuôi.
  • 3. Bài kệ: tám pháp là vô thường — Kệ nhắc lại tám pháp và xác định chúng vô thường, không thường hằng, chịu biến diệt.
  • 4. Bài kệ: bậc trí chánh niệm quán biến diệt — Người có chánh niệm, có trí quán tánh biến diệt; pháp khả ái không làm tâm dao động, pháp không khả ái không khiến sân hận.
  • 5. Bài kệ: thuận nghịch tiêu tan, đến bờ bên kia — Thuận và nghịch đều tiêu tan không còn; sau khi biết con đường không trần cấu, không sầu, vị ấy chơn chánh biết sanh hữu và đi đến bờ bên kia.

Mỗi đoạn ghi nguyên văn Pāli, rồi bản Việt, rồi bản tiếng Anh. Số bên trái là số đoạn trong kinh, để đối chiếu được.

AN 8.5:1.1-1.2
“Aṭṭhime, bhikkhave, lokadhammā lokaṁ anuparivattanti, loko ca aṭṭha lokadhamme anuparivattati. Katame aṭṭha?
Tám pháp thế gian này, này các Tỷ-kheo, tùy chuyển thế giới. Thế giới tùy chuyển theo tám pháp thế gian này. Thế nào là tám?
“Mendicants, the eight worldly conditions revolve around the world, and the world revolves around the eight worldly conditions. What eight?
AN 8.5:1.3
Lābho ca, alābho ca, yaso ca, ayaso ca, nindā ca, pasaṁsā ca, sukhañca, dukkhañca.
Lợi dưỡng và không lợi dưỡng, danh vọng và không danh vọng, tán thán và chỉ trích, lạc và khổ.
Gain and loss, fame and disgrace, blame and praise, pleasure and pain.
AN 8.5:1.4
Ime kho, bhikkhave, aṭṭha lokadhammā lokaṁ anuparivattanti, loko ca ime aṭṭha lokadhamme anuparivattatīti.
Tám pháp thế gian này, này các Tỷ-kheo, tùy chuyển thế giới. Thế giới tùy chuyển theo tám pháp thế gian này.
These eight worldly conditions revolve around the world, and the world revolves around these eight worldly conditions.
AN 8.5:2.1-2.2 (kệ)
Lābho alābho ca yasāyaso ca,
Nindā pasaṁsā ca sukhaṁ dukhañca;
Lợi dưỡng, không lợi dưỡng,
Danh vọng, không danh vọng
Tán thán và chỉ trích
An lạc và đau khổ
Gain and loss, fame and disgrace, blame and praise, and pleasure and pain.
AN 8.5:2.3-2.4 (kệ)
Ete aniccā manujesu dhammā,
Asassatā vipariṇāmadhammā.
Những pháp này vô thường
Không thường hằng biến diệt
These qualities among mankind are impermanent, transient, and perishable.
AN 8.5:3.1-3.2 (kệ)
Ete ca ñatvā satimā sumedho,
Avekkhati vipariṇāmadhamme;
Biết chúng giữ chánh niệm
Bậc trí quán biến diệt
An intelligent and mindful person knows these things, seeing that they’re perishable.
AN 8.5:3.3-3.4 (kệ)
Iṭṭhassa dhammā na mathenti cittaṁ,
Aniṭṭhato no paṭighātameti.
Pháp khả ái, không động
Không khả ái, không sân
Desirable things don’t disturb their mind, nor are they repelled by the undesirable.
AN 8.5:4.1-4.4 (kệ)
Tassānurodhā atha vā virodhā,
Vidhūpitā atthaṅgatā na santi;
Padañca ñatvā virajaṁ asokaṁ,
Sammappajānāti bhavassa pāragū”ti.
Các pháp thuận hay nghịch
Ðược tiêu tan không còn
Sau khi biết con đường
Không trần cấu, không sầu
Chơn chánh biết sanh hữu
Ði đến bờ bên kia.
Both favoring and opposing are cleared and disappeared, they are no more. Knowing the stainless, sorrowless state, they who have gone beyond rebirth understand rightly.”
Chữ PāliNghĩaGhi chú
lokadhammapháp thế gianTám pháp thế gian (aṭṭha lokadhammā) là bốn cặp thuận nghịch không ai tránh khỏi khi còn sống trong đời.
anuparivattatitùy chuyển, xoay chuyển theoHT. Minh Châu dịch là 'tùy chuyển'; Sujato dịch 'revolve around'.
lābha / alābhalợi dưỡng / không lợi dưỡngĐược lợi và mất lợi.
yasa / ayasadanh vọng / không danh vọng
nindā / pasaṁsāchỉ trích / tán thánTrong Pali thứ tự là nindā (chê) trước, pasaṁsā (khen) sau; bản Việt ghi 'tán thán và chỉ trích'.
sukha / dukkhalạc / khổ
aniccavô thường
vipariṇāmadhammapháp chịu biến diệt, tánh biến hoại
satimācó chánh niệm
sumedhabậc trí, người có trí sáng
iṭṭha / aniṭṭhakhả ái / không khả áiĐiều vừa ý và điều trái ý.
anurodha / virodhathuận / nghịchƯa thích chạy theo và chống đối ghét bỏ.
viraja / asokakhông trần cấu / không sầu
pāragūngười đã đến bờ bên kia

Xin thưa bài kinh này ngắn, mà con nghĩ là một trong những bài được tụng và trích nhiều nhất của cả Tăng Chi Bộ.

Câu mở đầu đã hay: “TÁM PHÁP THẾ GIAN này TÙY CHUYỂN THẾ GIỚI. THẾ GIỚI TÙY CHUYỂN theo tám pháp thế gian này.”

Xin để ý câu ấy nói HAI CHIỀU: chúng xoay quanh thế giới, mà thế giới cũng xoay theo chúng. Nghĩa là không có chỗ nào ngoài vòng ấy.

Tám pháp ấy là BỐN CẶP ĐỐI NHAU:

(1) LỢI DƯỠNG và KHÔNG LỢI DƯỠNG (lābha / alābha) — được và mất.

(2) DANH VỌNG và KHÔNG DANH VỌNG (yasa / ayasa) — vinh và nhục.

(3) TÁN THÁN và CHỈ TRÍCH (pasaṁsā / nindā) — khen và chê.

(4) LẠC và KHỔ (sukha / dukkha) — sướng và khổ.

Xin thưa xin để ý cách xếp cặp: mỗi cặp gồm một cái ta MUỐN và một cái ta SỢ. Và chúng đi thành đôi — hễ có bên này thì có bên kia.

Con nghĩ chỗ ấy là chỗ an ủi nhất: không phải riêng mình mới gặp. Kinh nói tám điều này XOAY CHUYỂN CẢ THẾ GIỚI.

Rồi phần kệ nêu điều then chốt: tám pháp ấy là VÔ THƯỜNG, KHÔNG THƯỜNG HẰNG, CHỊU BIẾN DIỆT.

Và người có CHÁNH NIỆM, có TRÍ thì QUÁN THẤY TÁNH BIẾN DIỆT ấy.

Kết quả: “PHÁP KHẢ ÁI, KHÔNG ĐỘNG; KHÔNG KHẢ ÁI, KHÔNG SÂN.”

Xin thưa hai câu ấy con thấy gọn mà đủ, và rất nên dạy cho các em thuộc. Gặp điều mình thích thì tâm không dao động; gặp điều mình ghét thì tâm không sân hận.

Rồi kệ tiếp: “Các pháp THUẬN hay NGHỊCH được TIÊU TAN KHÔNG CÒN.”

Xin thưa hai chữ THUẬN (anurodha)NGHỊCH (virodha) đáng giải cho rõ. THUẬN là ưa thích rồi chạy theo; NGHỊCH là ghét bỏ rồi chống lại.

Và kinh nói CẢ HAI đều tiêu tan — chứ không phải bỏ cái nghịch mà giữ cái thuận.

Kệ kết: vị ấy biết được con đường KHÔNG TRẦN CẤU, KHÔNG SẦU, chơn chánh biết SANH HỮUĐI ĐẾN BỜ BÊN KIA.

Xin thưa lời cuối cho anh chị em, và con nghĩ bài này nói rất đúng đời sinh hoạt của mình.

Khi được khen, khi đoàn đông đoàn sinh, khi trại thành côngxin đừng LÊN.

Khi bị chê, khi bị hiểu lầm, khi gặp khó khănxin đừng XUỐNG.

cả tám điều ấy đều VÔ THƯỜNG như nhau, và chúng đi thành đôi: ai từng được khen thì rồi cũng có ngày bị chê.

Xin thưa Thế Tôn KHÔNG dạy TRÁNH tám pháp thế gian — không tránh được. Ngài dạy THẤY RÕ TÁNH VÔ THƯỜNG của chúng, để tâm không bị chúng lôi đi.

Con nghĩ đây chính là nền tảng của hạnh XẢ (upekkhā) trong đời sống hằng ngày — và là bài rất nên dạy khi bàn về NHẪN NHỤCtinh thần phụng sự VÔ CẦU.

  • “Tu là để khỏi gặp tám pháp thế gian.” Kinh nói chúng TÙY CHUYỂN CẢ THẾ GIỚIkhông ai tránh được. Cái được dạy là THẤY RÕ TÁNH BIẾN DIỆT.
  • “Bỏ cái khổ, giữ cái vui.” Kệ nói CẢ THUẬN LẪN NGHỊCH đều tiêu tancả hai bên, không phải một bên.
  • “Không động, không sân nghĩa là lạnh nhạt.” Kinh nói tâm ấy có CHÁNH NIỆMTRÍ, quán thấy tánh biến diệtlà thấy rõ, không phải chai đá.
  • “Được khen là dấu hiệu tu tốt.” Khen và chê nằm CÙNG MỘT CẶP, vô thường như nhau. Cả hai đều là gió đời.
  • Ngành Oanh. Chỉ hai cặp cuối cho dễ: được khen được chê, lúc vui lúc buồn — cái nào cũng qua.
  • Ngành Thiếu. Học thuộc hai câu kệ: “Pháp khả ái, không động / Không khả ái, không sân.”
  • Ngành Thanh và Huynh Trưởng. Đọc sau một kỳ trại — dù thành công hay trục trặc. Và bàn: phụng sự vô cầu nghĩa là gì khi soi qua tám pháp này?
  • Tám pháp thế gian là gì?
  • Vì sao chúng được xếp thành bốn cặp?
  • Bài kệ nói tám pháp ấy có tánh gì?
  • “Thuận” và “nghịch” nghĩa là gì?
  • Thế Tôn dạy tránh chúng hay thấy rõ chúng?

Nguyên văn Pāli chép từ ấn bản Mahāsaṅgīti — tệp dữ liệu gốc bilara-data của suttacentral.net, từng đoạn có đánh số. Bản tiếng Việt của Hoà thượng Thích Minh Châu; bản tiếng Anh của Tỳ-kheo Sujato. Bài này đã qua một lượt soi lại độc lập. Muốn đọc trọn bài kinh, xin xem nguyên văn ba thứ tiếng. Thấy chỗ nào khác ấn bản in, xin báo cho chúng tôi.