G.Đ.P.T Huyền Quang Phật Pháp · Tam Tạng Kinh Điển Tăng Chi Bộ · AN 7.70
Bảy Điều Phải Kính · Thiếu Một Đầu, Cả Chuỗi Đứt

Kinh Cung Kính

Sakkaccasutta — AN 7.70 · Pāli · Việt · Anh

Tam TạngTạng KinhTrung BộKinh Cung Kính

Tôn giả Sāriputta tự tìm ra câu trả lời — rồi vẫn đem trình lên Thế Tôn. Ngài ví mình như người có đồng tiền vàng ĐÃ trong sángvẫn đem cho thợ vàng xem, để nó trong sáng hơn nữa.

  • Bộ — Tăng Chi Bộ, Chương Bảy Pháp, Đại Phẩm (Mahāvagga), kinh 70
  • Nơi chốnkinh KHÔNG nêu
  • Duyên khởimột câu hỏi khởi lên trong tâm Tôn giả Sāriputta khi ngài đang Thiền tịnh một mình
  • Đọc kèmAN 7.32 (bảy sự tôn kính) và AN 6.32

Kinh Sakkacca (AN 7.70, Chương Bảy Pháp, Ðại Phẩm) ghi lại một suy tư của Tôn giả Sàriputta trong khi ngài sống một mình Thiền tịnh. Câu hỏi khởi lên trong tâm ngài rất giản dị mà rất căn bản cho người tu: một vị Tỷ-kheo phải cung kính, tôn trọng, sống nương tựa vào cái gì thì mới có thể từ bỏ bất thiện và tu tập thiện? Ngài tự trả lời bằng bảy điều: Ðạo Sư (bậc Thầy, tức Ðức Phật), Pháp, chúng Tăng, Học pháp, Ðịnh, không phóng dật, và tiếp đón thân tình (paṭisanthāra). Điểm rất đẹp của bài kinh là thái độ của ngài Sàriputta sau khi đã có câu trả lời: ngài không tự mãn, mà nghĩ rằng nên đem trình lên Thế Tôn để "các pháp này sẽ được thanh tịnh trong ta và được xem là trong sạch hơn nữa". Ngài ví như một người tìm được đồng tiền vàng lớn đã thanh tịnh trong sáng, người ấy vẫn đem đưa cho người thợ vàng xem để đồng vàng ấy trong sáng hơn nữa. Đó là bài học về khiêm cung và cầu học, nơi chính một vị đại đệ tử trí tuệ bậc nhất. Ðức Phật ấn khả: "Lành thay, lành thay, này Sàriputta!" và lặp lại đủ bảy điều. Tiếp đó, ngài Sàriputta triển khai rộng lời dạy vắn tắt ấy theo một chuỗi liên đới: không thể có chuyện một Tỷ-kheo không cung kính Ðạo Sư mà lại cung kính Pháp; không cung kính Ðạo Sư và Pháp mà lại cung kính chúng Tăng; và cứ thế qua Học pháp, Thiền định, không phóng dật, tiếp đón thân tình — "sự kiện này không xảy ra". Ngược lại, ai đã cung kính Ðạo Sư thì cũng cung kính Pháp, chúng Tăng, Học pháp, Thiền định, không phóng dật và tiếp đón thân tình. Ðức Phật một lần nữa khen ngợi và xác nhận ý nghĩa cần được thấy một cách rộng rãi đúng như vậy. Với Huynh Trưởng và đoàn sinh, bài kinh cho thấy bảy điều ấy là một chuỗi liền nhau: lòng kính Phật không rời lòng kính Pháp, kính Tăng, giữ giới, tu định, sống tinh cần không buông lung, và cư xử thân tình hoà ái với huynh đệ. Thiếu một đầu, cả chuỗi đứt.

Bố cục bài kinhTheo đúng thứ tự trong kinh văn

  • 1. Suy tư của Tôn giả Sàriputta khi Thiền tịnh — Câu hỏi khởi lên: Tỷ-kheo cung kính tôn trọng, sống nương tựa ai để có thể từ bỏ bất thiện, tu tập thiện? Ngài tự trả lời bằng bảy điều: Ðạo Sư, Pháp, chúng Tăng, Học pháp, Ðịnh, không phóng dật, tiếp đón thân tình.
  • 2. Ví dụ đồng tiền vàng và ý định trình lên Thế Tôn — Ngài nghĩ những pháp này nơi mình đã thanh tịnh trong sáng, nhưng vẫn nên đem trình Thế Tôn, ví như người có đồng tiền vàng thanh tịnh vẫn đem cho người thợ vàng xem để trong sáng hơn nữa.
  • 3. Sàriputta đến bạch Thế Tôn — Buổi chiều, ngài từ Thiền tịnh đứng dậy, đến đảnh lễ Thế Tôn, ngồi xuống một bên và thuật lại toàn bộ suy nghĩ ấy.
  • 4. Thế Tôn ấn khả bảy điều — "Lành thay, lành thay, này Sàriputta!" — Thế Tôn xác nhận đủ bảy điều: Ðạo Sư, Pháp, chúng Tăng, Học pháp, Ðịnh, không phóng dật, tiếp đón thân tình.
  • 5. Sàriputta hiểu rộng lời dạy vắn tắt — chuỗi phủ định — Ai không cung kính Ðạo Sư mà cung kính Pháp — sự kiện này không xảy ra; nối tiếp qua chúng Tăng, Học pháp, Thiền định, không phóng dật, tiếp đón thân tình.
  • 6. Chuỗi khẳng định — Ai cung kính Ðạo Sư mà không cung kính Pháp — sự kiện này không xảy ra; ai cung kính Ðạo Sư thì cũng cung kính Pháp, chúng Tăng, Học pháp, Thiền định, không phóng dật, tiếp đón thân tình.
  • 7. Thế Tôn xác nhận lần cuối — Thế Tôn khen "Lành thay" lần nữa, lặp lại chuỗi phủ định và khẳng định, rồi kết: ý nghĩa lời nói vắn tắt ấy cần phải được thấy một cách rộng rãi như vậy.

Mỗi đoạn ghi nguyên văn Pāli, rồi bản Việt, rồi bản tiếng Anh. Số bên trái là số đoạn trong kinh, để đối chiếu được.

AN 7.70:1.1–1.2 (TTC 1)
Atha kho āyasmato sāriputtassa rahogatassa paṭisallīnassa evaṁ cetaso parivitakko udapādi: "kiṁ nu kho, bhikkhu, sakkatvā garuṁ katvā upanissāya viharanto akusalaṁ pajaheyya, kusalaṁ bhāveyyā"ti?
Rồi Tôn giả Sàriputta, trong khi sống một mình, Thiền tịnh, tâm tư suy nghĩ như sau khởi lên: "Vị Tỷ-kheo cung kính tôn trọng, sống nương tựa ai để có thể từ bỏ bất thiện, tu tập thiện?"
Then as Venerable Sāriputta was in private retreat this thought came to his mind, "What should a mendicant honor and respect and rely on, to give up the unskillful and develop the skillful?"
AN 7.70:1.4–1.10 (TTC 1)
satthāraṁ kho, bhikkhu, sakkatvā garuṁ katvā upanissāya viharanto akusalaṁ pajaheyya, kusalaṁ bhāveyya. Dhammaṁ kho, bhikkhu …pe… saṅghaṁ kho, bhikkhu …pe… sikkhaṁ kho, bhikkhu …pe… samādhiṁ kho, bhikkhu …pe… appamādaṁ kho, bhikkhu …pe… paṭisanthāraṁ kho, bhikkhu sakkatvā garuṁ katvā upanissāya viharanto akusalaṁ pajaheyya, kusalaṁ bhāveyyā"ti.
Tỷ-kheo cung kính tôn trọng, sống nương tựa Ðạo Sư để có thể từ bỏ bất thiện, tu tập thiện. Tỷ-kheo cung kính tôn trọng, sống nương tựa Pháp… chúng Tăng… Học pháp… Ðịnh… không phóng dật… Tỷ-kheo cung kính, tôn trọng, sống nương tựa tiếp đón thân tình để có thể từ bỏ bất thiện, tu tập thiện
"A mendicant should honor and respect and rely on the Teacher … the teaching … the Saṅgha … the training … immersion … diligence … A mendicant should honor and respect and rely on hospitality, to give up the unskillful and develop the skillful."
AN 7.70:2.4–2.7 (TTC 1)
Seyyathāpi nāma puriso suvaṇṇanikkhaṁ adhigaccheyya parisuddhaṁ pariyodātaṁ. Tassa evamassa: 'ayaṁ kho me suvaṇṇanikkho parisuddho pariyodāto, yannūnāhaṁ imaṁ suvaṇṇanikkhaṁ gantvā kammārānaṁ dasseyyaṁ. Evaṁ me ayaṁ suvaṇṇanikkho sakammāragato parisuddho ceva bhavissati parisuddhasaṅkhātataro ca.
Ví như một người tìm được một đồng tiền vàng lớn, thanh tịnh trong sáng. Người ấy suy nghĩ như sau: "Ta hãy đi đến người thợ vàng và đưa xem đồng tiền vàng này. Ðồng tiền vàng này được ta đưa cho người thợ vàng như vậy sẽ được thanh tịnh và trong sáng hơn nữa".
Suppose a man were to acquire a gold ingot, pure and bright. They'd think, 'My gold ingot is pure and bright. Why don't I take it to show the smiths? Then it will not only be purified, but will be better known as purified.'
AN 7.70:3.1 (TTC 1)
Atha kho āyasmā sāriputto sāyanhasamayaṁ paṭisallānā vuṭṭhito yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi.
Rồi Tôn giả Sàriputta, vào buổi chiều, từ Thiền tịnh đứng dậy đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.
Then in the late afternoon, Sāriputta came out of retreat and went to the Buddha. He bowed, sat down to one side, and told the Buddha of his thoughts while on retreat.
AN 7.70:5.1–5.8
"Sādhu sādhu, sāriputta. Satthāraṁ kho, sāriputta, bhikkhu sakkatvā garuṁ katvā upanissāya viharanto akusalaṁ pajaheyya, kusalaṁ bhāveyya. Dhammaṁ kho, sāriputta, bhikkhu sakkatvā garuṁ katvā upanissāya viharanto akusalaṁ pajaheyya, kusalaṁ bhāveyya. Saṅghaṁ kho …pe… sikkhaṁ kho … samādhiṁ kho … appamādaṁ kho … paṭisanthāraṁ kho, sāriputta, bhikkhu sakkatvā garuṁ katvā upanissāya viharanto akusalaṁ pajaheyya, kusalaṁ bhāveyyā"ti.
—Lành thay, lành thay, này Sàriputta! Này Sàriputta, Tỷ-kheo cung kính tôn trọng, sống nương tựa Ðạo Sư, có thể từ bỏ bất thiện, tu tập thiện. Này Sàriputta, Tỷ-kheo cung kính, tôn trọng, sống nương tựa Pháp… chúng Tăng… Học pháp… Ðịnh… không phóng dật…Này Sariputta, Tỷ-kheo cung kính, tôn trọng, sống nương tựa tiếp đón thân tình để có thể từ bỏ bất thiện, tu tập thiện.
"Good, good, Sāriputta! A mendicant should honor and respect and rely on the Teacher, to give up the unskillful and develop the skillful. A mendicant should honor and respect and rely on the teaching … the Saṅgha … the training … immersion … diligence … A mendicant should honor and respect and rely on hospitality, to give up the unskillful and develop the skillful."
AN 7.70:6.3–6.4 (TTC 3)
So vata, bhante, bhikkhu satthari agāravo dhamme sagāravo bhavissatīti netaṁ ṭhānaṁ vijjati. Yo so, bhante, bhikkhu satthari agāravo dhammepi so agāravo.
Bạch Thế Tôn, chắc chắn Tỷ-kheo nào không cung kính Ðạo Sư, sẽ cung kính Pháp, sự kiện này không xảy ra. Bạch Thế Tôn, Tỷ-kheo nào không cung kính Ðạo Sư, vị ấy cũng không cung kính Pháp.
It is quite impossible for a mendicant who doesn't respect the Teacher to respect the teaching. A mendicant who disrespects the Teacher disrespects the teaching.
AN 7.70:15.2 (TTC 3)
Yo so, bhante, bhikkhu satthari sagāravo dhamme sagāravo saṅghe sagāravo sikkhāya sagāravo samādhismiṁ sagāravo appamāde sagāravo paṭisanthārepi so sagāravoti.
Bạch Thế Tôn, Tỷ-kheo nào cung kính Ðạo Sư, cung kính Pháp, cung kính chúng Tăng, cung kính Học pháp, cung kính Thiền định, cung kính không phóng dật, vị ấy cũng cung kính tiếp đón thân tình.
A mendicant who respects the Teacher, the teaching, the Saṅgha, the training, immersion, and diligence respects hospitality.
AN 7.70:23.1 (TTC 4)
Imassa kho, sāriputta, mayā saṅkhittena bhāsitassa evaṁ vitthārena attho daṭṭhabbo"ti.
Này Sàriputta, lời nói vắn tắt này của Ta, ý nghĩa cần phải được thấy một cách rộng rãi như vậy.
This is how to see the detailed meaning of what I said in brief.
Chữ PāliNghĩaGhi chú
sakkaccacung kính, cẩn trọng, chu đáoTên kinh Sakkaccasutta; Sujato dịch nhan đề là "Honor"
garu / sagārava / agāravatôn trọng / có lòng cung kính / không cung kínhChuỗi sagāravo–agāravo là bộ khung của phần triển khai rộng
upanissāya viharatisống nương tựa
satthar (satthā)Ðạo Sư, bậc ThầyChỉ Ðức Phật
dhammaPháp
saṅghachúng Tăng
sikkhāHọc pháp (điều học, giới học)
samādhiÐịnh, Thiền định
appamādakhông phóng dật, tinh cần không buông lung
paṭisanthāratiếp đón thân tìnhBản Sujato: hospitality — sự đón tiếp, cư xử thân thiện
akusala / kusalabất thiện / thiện
paṭisallānaThiền tịnh, độc cư tĩnh lặng
parisuddha, pariyodātathanh tịnh, trong sáng
suvaṇṇanikkhađồng tiền vàng (khối vàng)Bản Sujato: gold ingot
netaṁ ṭhānaṁ vijjatisự kiện này không xảy ra
saṅkhittena bhāsita – vitthārena atthalời nói vắn tắt – ý nghĩa rộng rãi

Xin thưa, bài kinh này có hai phần, và con nghĩ phần đáng học nhất KHÔNG phải là danh sách bảy điều.

Mở đầu: Tôn giả Sāriputta đang sống một mình, Thiền tịnh, thì một câu hỏi khởi lên trong tâm: “Vị Tỷ-kheo cung kính tôn trọng, sống nương tựa AI để có thể từ bỏ bất thiện, tu tập thiện?”

ngài TỰ trả lời đượcbảy điều: Đạo Sư, Pháp, chúng Tăng, Học pháp, Định, không phóng dật, và TIẾP ĐÓN THÂN TÌNH (paṭisanthāra).

Xin để ý điều thứ bảy, vì nó khác hẳn sáu điều kia. Sáu điều đầu là Tam Bảo và việc tu; điều thứ bảy là CÁCH CƯ XỬ với người trước mặt.

“Tiếp đón thân tình” được xếp NGANG HÀNG với kính Phật, kính Pháp, kính Tăng. Con thấy đó là chỗ rất đáng nghĩ cho người làm Huynh Trưởng.

Nhưng chỗ đẹp nhất của bài kinh là điều ngài Sāriputta làm SAU KHI đã có câu trả lời.

Ngài KHÔNG dừng lại ở đó. Ngài nghĩ: “Những pháp này trong ta đã được thanh tịnh trong sáng. Vậy ta hãy đi đến Thế Tôn và báo cho Thế Tôn rõ.”

ví dụ ngài dùng thì rất hay: như một người tìm được ĐỒNG TIỀN VÀNG lớn, THANH TỊNH TRONG SÁNGđã trong sáng rồi — mà vẫn đem đưa cho người thợ vàng xem, để nó “trong sáng HƠN NỮA”.

Xin thưa đây là bậc trí tuệ đệ nhất trong hàng đệ tử, đã trả lời đúng, và vẫn đi hỏi lại. Không phải vì nghi ngờ mình — mà vì cái đúng còn có thể được ấn chứng cho vững hơn.

Thế Tôn ấn khả: “Lành thay, lành thay, này Sāriputta!”lặp lại đủ bảy điều.

Phần hai, ngài Sāriputta triển khai lời dạy vắn tắt ấy — và đây là chỗ bảy điều lộ ra là MỘT CHUỖI, không phải bảy món rời.

Chuỗi PHỦ ĐỊNH: “Tỷ-kheo nào KHÔNG cung kính Đạo Sư, sẽ cung kính Pháp — SỰ KIỆN NÀY KHÔNG XẢY RA.” Rồi nối tiếp qua chúng Tăng, Học pháp, Thiền định, không phóng dật, tiếp đón thân tình.

Chuỗi KHẲNG ĐỊNH thì ngược lại: ai cung kính Đạo Sư thì cũng cung kính Pháp, chúng Tăng, Học pháp, Thiền định, không phóng dật, và tiếp đón thân tình.

Xin thưa ý ấy rất thẳng và rất dùng được: bảy điều ấy KHÔNG rời nhau. Thiếu một đầu thì cả chuỗi đứt.

vì điều thứ bảy nằm TRONG chuỗi ấy, nên bài kinh nói một điều khá nặng: người cư xử lạnh nhạt, không tiếp đón thân tình với huynh đệ, thì cái “kính Phật” của người ấy cũng có chỗ hở.

Xin thưa lời cuối cho anh chị em Huynh Trưởng. Con nghĩ bài này cho hai điều rất thực tế.

Một: ví dụ đồng tiền vàngbiết rồi vẫn nên đem hỏi lại bậc thầy. Đến ngài Sāriputta còn làm vậy.

Hai: “tiếp đón thân tình” là một PHÁP TU, chứ không phải phép lịch sự. Nó đứng chung hàng với kính Tam Bảo.

Xin thưa hai việc về trang. Một, về DẤU BA CHẤM: ô trích có chỗ chép “sống nương tựa Pháp… chúng Tăng… Học pháp… Ðịnh… không phóng dật…”đó là dấu RÚT GỌN CỦA CHÍNH BẢN IN (ứng với chữ …pe… trong bản Pāli), chứ KHÔNG phải chúng con lược bớt.

Hai: mười sáu ô Pāli/Anh đều đúng nguyên văn; một ô tiếng Việt bị người tra cứu đổi dấu ngoặc kép đóng cuối câu thành dấu CHẤM, đã chép lại đúng nguyên văn. Lượt soi không tìm ra lỗi nào ở bài này.

  • “Bảy điều là bảy việc riêng, làm được cái nào hay cái ấy.” Kinh nói rõ đó là MỘT CHUỖI: thiếu điều trước thì “sự kiện này không xảy ra” cho điều sau.
  • “Tiếp đón thân tình chỉ là phép lịch sự.” Kinh xếp nó ngang hàng với kính Đạo Sư, Pháp và chúng Tăng.
  • “Ngài Sāriputta đi hỏi vì chưa chắc.” Ngài nói rõ các pháp ấy “trong ta ĐÃ được thanh tịnh trong sáng”; ngài đi hỏi để trong sáng HƠN NỮA.
  • “Chỗ ba chấm là trang chép sót.” Đó là dấu rút gọn của bản in, ứng với …pe… trong bản Pāli.
  • Kể ví dụ đồng tiền vàng rồi hỏi các em: làm đúng rồi có nên đi hỏi lại anh chị trưởng không?
  • Lấy điều thứ bảy làm việc của tuần: đón một em mới vào đoàn cho thật thân tình.
  • Vẽ bảy điều thành một sợi xích, rồi tháo một mắt ra cho các em thấy chuỗi đứt.
  • Hỏi các em: trong bảy điều, điều nào đoàn mình đang yếu nhất?
  • Vì sao “tiếp đón thân tình” lại được xếp chung với kính Tam Bảo?
  • Vì sao không thể kính Pháp mà không kính Đạo Sư?
  • Ví dụ đồng tiền vàng dạy gì về việc học?
  • Mình có bao giờ kính Phật mà lạnh nhạt với huynh đệ không?

Nguyên văn Pāli chép từ ấn bản Mahāsaṅgīti — tệp dữ liệu gốc bilara-data của suttacentral.net, từng đoạn có đánh số. Bản tiếng Việt của Hoà thượng Thích Minh Châu; bản tiếng Anh của Tỳ-kheo Sujato. Bài này đã qua một lượt soi lại độc lập. Muốn đọc trọn bài kinh, xin xem nguyên văn ba thứ tiếng. Thấy chỗ nào khác ấn bản in, xin báo cho chúng tôi.