G.Đ.P.T Huyền Quang Phật Pháp · Tam Tạng Kinh Điển Tăng Chi Bộ · AN 7.68
Biết Pháp · Biết Nghĩa · Biết Mình · Biết Thời

Kinh Pháp Trí

Dhammaññū Sutta — AN 7.68 · Pāli · Việt · Anh

Tam TạngTạng KinhTrung BộKinh Pháp Trí

Bảy cái BIẾT làm nên người “đáng được cung kính… là ruộng phước vô thượng ở đời”: biết PHÁP, biết NGHĨA, biết TỰ NGÃ (biết mình), biết ƯỚC LƯỢNG (vừa đủ), biết THỜI, biết HỘI CHÚNG, biết NGƯỜI. Con thấy bảy điều này gần với việc anh chị em Huynh Trưởng làm mỗi tuần hơn hầu hết mọi bài.

  • Bộ — Tăng Chi Bộ, Chương Bảy Pháp, kinh 68
  • Phẩm — Đại Phẩm (Mahāvagga)
  • Bản Việt — Hoà thượng Thích Minh Châu, nhan đề Pháp Trí
  • Khuôn giảng — mỗi pháp đều theo một khuôn: không có thì không được gọi; có thì được gọi

Kinh Pháp Trí (Dhammaññū) dạy bảy đức tính làm cho một vị Tỷ-kheo trở thành "đáng được cung kính, đáng được tôn trọng, đáng được cúng dường, đáng được chắp tay, là ruộng phước vô thượng ở đời". Bảy pháp đó là: biết pháp, biết nghĩa, biết tự ngã, biết ước lượng (vừa đủ), biết thời, biết hội chúng, và biết người thắng kẻ liệt. Sau khi nêu đủ bảy, Thế Tôn lần lượt giải thích từng pháp một, mỗi pháp theo cùng một khuôn: nếu không có thì không được gọi tên ấy, nếu có thì được gọi tên ấy. Biết pháp là biết chín thể loại kinh văn: Khế Kinh, Ứng tụng, Ký thuyết, Phúng tụng, Vô vấn tự thuyết, Như thị thuyết, Bổn sanh, Pháp chưa từng có, Phương quảng. Biết nghĩa là biết ý nghĩa của từng lời được nói ra. Biết tự ngã là tự lượng được mức lòng tin, giữ giới, nghe nhiều, bố thí, trí tuệ, biện tài của chính mình. Biết ước lượng là biết vừa đủ khi nhận y, đồ ăn khất thực, sàng tọa, dược phẩm. Biết thời là biết đây là thời tuyên thuyết, thời chất vấn, thời tu tập, thời Thiền tịnh. Biết hội chúng là biết đây là hội chúng Sát-đế-lỵ, Bà-la-môn, Gia chủ hay Sa-môn, và ở đó nên đi đến, đứng, ngồi, nói, im lặng như thế nào. Pháp thứ bảy được khai triển dài nhất: biết người thắng kẻ liệt, qua bảy cặp nối tiếp nhau như bậc thang — ưa thấy bậc Thánh hay không; ưa nghe diệu pháp hay không; lắng tai nghe hay không; nghe xong thọ trì hay không; thọ trì rồi quán sát ý nghĩa hay không; hiểu nghĩa hiểu pháp rồi thực hành pháp tùy pháp hay không; và cuối cùng, thực hành chỉ vì tự lợi, hay vì cả tự lợi và lợi tha. Bậc cao nhất là người thực hành với mục đích tự lợi và lợi tha. Với Huynh trưởng Gia Đình Phật Tử, bài kinh này rất gần với công việc hằng ngày: học hiểu giáo pháp, tự biết sức mình, biết đúng lúc, biết đối tượng mình đang nói chuyện, và tu học không chỉ cho riêng mình.

Bố cục bài kinhTheo đúng thứ tự trong kinh văn

  • 1. Nêu bảy pháp và quả báo — Thành tựu bảy pháp, Tỷ-kheo đáng được cung kính, cúng dường, là ruộng phước vô thượng ở đời; liệt kê bảy: biết pháp, biết nghĩa, biết tự ngã, biết ước lượng, biết thời, biết hội chúng, biết người thắng kẻ liệt.
  • 2. Biết pháp (dhammaññū) — Biết chín thể loại giáo pháp: Khế Kinh, Ứng tụng, Ký thuyết, Phúng tụng, Vô vấn tự thuyết, Như thị thuyết, Bổn sanh, Pháp chưa từng có, Phương quảng.
  • 3. Biết nghĩa (atthaññū) — Biết ý nghĩa của lời thuyết này, của lời thuyết kia.
  • 4. Biết tự ngã (attaññū) — Tự biết mức lòng tin, giữ giới, nghe nhiều, bố thí, trí tuệ, biện tài của mình.
  • 5. Biết ước lượng (mattaññū) — Biết vừa đủ khi nhận y, đồ ăn khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh.
  • 6. Biết thời (kālaññū) — Biết thời tuyên thuyết, thời chất vấn, thời tu tập, thời Thiền tịnh.
  • 7. Biết hội chúng (parisaññū) — Biết hội chúng Sát-đế-lỵ, Bà-la-môn, Gia chủ, Sa-môn, và cách đi đến, đứng, ngồi, nói, im lặng ở đó.
  • 8. Biết người thắng kẻ liệt (puggalaparoparaññū) — Bảy cặp người nối tiếp nhau, từ ưa thấy bậc Thánh cho đến thực hành vì tự lợi và lợi tha; mỗi cặp một hạng đáng quở trách, một hạng đáng tán thán.
  • 9. Kết luận — Lặp lại: do thành tựu bảy pháp này, Tỷ-kheo là ruộng phước vô thượng ở đời.

Mỗi đoạn ghi nguyên văn Pāli, rồi bản Việt, rồi bản tiếng Anh. Số bên trái là số đoạn trong kinh, để đối chiếu được.

AN 7.68, đoạn 1 (TTC 1) — an7.68:1.1
Sattahi, bhikkhave, dhammehi samannāgato bhikkhu āhuneyyo hoti …pe… anuttaraṁ puññakkhettaṁ lokassa. Katamehi sattahi?
Thành tựu bảy pháp, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đáng được cung kính, đáng được tôn trọng, đáng được cúng dường, đáng được chắp tay, là ruộng phước vô thượng ở đời. Thế nào là bảy?
A mendicant with seven qualities is worthy of offerings dedicated to the gods, worthy of hospitality, worthy of a religious donation, worthy of veneration with cupped palms, and is the supreme field of merit for the world. What seven?
AN 7.68, đoạn 2 (TTC 2) — an7.68:1.3
Idha, bhikkhave, bhikkhu dhammaññū ca hoti atthaññū ca attaññū ca mattaññū ca kālaññū ca parisaññū ca puggalaparoparaññū ca.
Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo là vị biết pháp, biết nghĩa, biết tự ngã, biết ước lượng, biết thời, biết hội chúng, biết người thắng kẻ liệt.
It's when a mendicant knows the teachings, knows the meaning, has self-knowledge, knows moderation, knows the right time, knows assemblies, and knows individuals high and low.
AN 7.68, đoạn 3 (TTC 3) — an7.68:2.2-2.3
Idha, bhikkhave, bhikkhu dhammaṁ jānāti—suttaṁ geyyaṁ veyyākaraṇaṁ gāthaṁ udānaṁ itivuttakaṁ jātakaṁ abbhutadhammaṁ vedallaṁ.
Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo biết pháp: Khế Kinh, Ứng tụng, Ký thuyết, Phúng tụng, Vô vấn tự thuyết, Như thị thuyết, Bổn sanh, Pháp chưa từng có, Phương quảng.
It's when a mendicant knows the teachings: statements, mixed prose & verse, discussions, verses, inspired exclamations, legends, stories of past lives, amazing stories, and elaborations.
AN 7.68, đoạn 5 (TTC 5) — an7.68:4.2-4.3
Idha, bhikkhave, bhikkhu attānaṁ jānāti: 'ettakomhi saddhāya sīlena sutena cāgena paññāya paṭibhānenā'ti.
Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tự biết; "Cho đến như vậy, tôi có lòng tin, giữ giới, nghe nhiều, bố thí, trí tuệ, biện tài".
It's when a mendicant has self-knowledge: 'This is the extent of my faith, ethics, learning, generosity, wisdom, and eloquence.'
AN 7.68, đoạn 6 (TTC 6) — an7.68:5.2
Idha, bhikkhave, bhikkhu mattaṁ jānāti cīvarapiṇḍapātasenāsanagilānappaccayabhesajjaparikkhārānaṁ paṭiggahaṇāya.
Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo biết ước lượng (vừa đủ) trong khi nhận các vật dụng như y, đồ ăn khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh.
It's when a mendicant knows moderation when receiving robes, almsfood, lodgings, and medicines and supplies for the sick.
AN 7.68, đoạn 7 (TTC 7) — an7.68:6.2-6.3
Idha, bhikkhave, bhikkhu kālaṁ jānāti: 'ayaṁ kālo uddesassa, ayaṁ kālo paripucchāya, ayaṁ kālo yogassa, ayaṁ kālo paṭisallānassā'ti.
Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo biết thời: "Ðây là thời để tuyên thuyết, đây là thời chất vấn, đây là thời tu tập, đây là thời Thiền tịnh".
It's when a mendicant knows the right time: 'This is the time for recitation; this is the time for questioning; this is the time for meditation; this is the time for retreat.'
AN 7.68, đoạn 8 (TTC 8) — an7.68:7.2-7.4
Idha, bhikkhave, bhikkhu parisaṁ jānāti: 'ayaṁ khattiyaparisā, ayaṁ brāhmaṇaparisā, ayaṁ gahapatiparisā, ayaṁ samaṇaparisā. Tattha evaṁ upasaṅkamitabbaṁ, evaṁ ṭhātabbaṁ, evaṁ kattabbaṁ, evaṁ nisīditabbaṁ, evaṁ bhāsitabbaṁ, evaṁ tuṇhī bhavitabban'ti.
Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo biết hội chúng: "Ðây là hội chúng Sát-đế-lỵ, đây là hội chúng Bà-la-môn, đây là hội chúng Gia chủ, đây là hội chúng Sa-môn. Ở đây, nên đi đến như vậy, nên đứng như vậy, nên ngồi như vậy, nên nói như vậy, nên im lặng như vậy".
It's when a mendicant knows assemblies: 'This is an assembly of aristocrats, of brahmins, of householders, or of ascetics. This one should be approached in this way. This is how to stand, to act, to sit, to speak, or to stay silent when there.'
AN 7.68, đoạn 9 (TTC 9) — an7.68:14.2-14.5
Dve puggalā atthamaññāya dhammamaññāya dhammānudhammappaṭipannā—eko attahitāya paṭipanno no parahitāya, eko attahitāya ca paṭipanno parahitāya ca. Yvāyaṁ puggalo attahitāya paṭipanno no parahitāya, evaṁ so tenaṅgena gārayho. Yvāyaṁ puggalo attahitāya ca paṭipanno parahitāya ca, evaṁ so tenaṅgena pāsaṁso.
Có hai hạng người sau khi hiểu nghĩa, sau khi hiểu pháp đã thực hành pháp; tùy pháp: một hạng người thực hành với mục đích tự lợi, không có lợi tha; một hạng người thực hành với mục đích tự lợi và lợi tha. Hạng người này thực hành với mục đích tự lợi, không có lợi tha, do sự việc ấy, đáng bị quở trách. Hạng người này thực hành với mục đích tự lợi và lợi tha, do sự việc ấy, đáng được tán thán.
Two individuals understand the meaning and the teaching and practice in line with the teaching: one practices to benefit themselves but not others, and one practices to benefit both themselves and others. The individual who practices to benefit themselves but not others is reprehensible in that respect. The individual who practices to benefit both themselves and others is praiseworthy in that respect.
Chữ PāliNghĩaGhi chú
dhammaññūbiết phápBản Minh Châu: "vị biết pháp"; Sujato: "one who knows the teachings".
atthaññūbiết nghĩa
attaññūbiết tự ngã (tự biết mình)
mattaññūbiết ước lượng, biết vừa đủ
kālaññūbiết thời
parisaññūbiết hội chúng
puggalaparoparaññūbiết người thắng kẻ liệt (biết cao thấp nơi từng người)
āhuneyyo … anuttaraṁ puññakkhettaṁ lokassađáng được cung kính … là ruộng phước vô thượng ở đời
dhammānudhammappaṭipannothực hành pháp, tùy pháp
attahitāya … parahitāyavì tự lợi … vì lợi tha
saddhammadiệu pháp
paṭisallānaThiền tịnh, độc cư tĩnh mặc
paṭibhānabiện tài

Xin thưa bài kinh này con thấy hợp với anh chị em Huynh Trưởng hơn hầu hết mọi bài, vì bảy điều nó dạy đúng là bảy việc anh chị em phải làm mỗi tuần.

Mở đầu, Thế Tôn nêu quả trước: thành tựu bảy pháp thì “đáng được CUNG KÍNH, đáng được TÔN TRỌNG, đáng được CÚNG DƯỜNG, đáng được CHẮP TAY, là RUỘNG PHƯỚC VÔ THƯỢNG ở đời”.

Bảy pháp ấy: BIẾT PHÁP, BIẾT NGHĨA, BIẾT TỰ NGÃ, BIẾT ƯỚC LƯỢNG, BIẾT THỜI, BIẾT HỘI CHÚNG, BIẾT NGƯỜI THẮNG KẺ LIỆT.

Xin để ý: cả bảy đều bắt đầu bằng chữ BIẾT. Không có điều nào là “làm”, “giữ”, “bỏ”. Bảy điều này đều là chuyện THẤY CHO ĐÚNG trước đã.

BIẾT PHÁP (dhammaññū): biết CHÍN THỂ LOẠI giáo phápKhế Kinh, Ứng tụng, Ký thuyết, Phúng tụng, Vô vấn tự thuyết, Như thị thuyết, Bổn sanh, Pháp chưa từng có, Phương quảng.

BIẾT NGHĨA (atthaññū): “biết Ý NGHĨA của lời thuyết này, của lời thuyết kia”.

Xin dừng ở cặp thứ nhất và thứ hai, vì cặp này rất sắc. BIẾT PHÁP là biết LỜI. BIẾT NGHĨA là biết Ý. Kinh tách hai điều ấy ra làm hai pháp riêng — nghĩa là thuộc lòng lời mà không hiểu ý thì mới được một nửa.

BIẾT TỰ NGÃ (attaññū) — tức BIẾT MÌNH: “Tỷ-kheo TỰ BIẾT: cho đến như vậy, tôi có LÒNG TIN, GIỮ GIỚI, NGHE NHIỀU, BỐ THÍ, TRÍ TUỆ, BIỆN TÀI.”

Xin thưa mấy chữ “CHO ĐẾN NHƯ VẬY” là chỗ hay nhất của pháp thứ ba. Biết mình KHÔNG phải là khiêm nhường nói mình dở, cũng không phải tự khen. Là ĐO ĐÚNG MỨC — mình tới đâu thì biết tới đó.

Và xin để ý kinh kể ra SÁU thứ để tự đo, trong đó có BIỆN TÀI — khả năng nói cho người khác hiểu. Đó là điều rất đáng để anh chị em tự đo trước khi nhận giảng một đề tài.

BIẾT ƯỚC LƯỢNG (mattaññū) — BIẾT VỪA ĐỦ: “biết ước lượng trong khi NHẬN các vật dụng như y, đồ ăn khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh”.

Xin để ý điều này nói về việc NHẬN, không phải việc cho. Biết vừa đủ là biết DỪNG KHI NGƯỜI TA CÒN MUỐN CHO. Đó là chỗ khó.

BIẾT THỜI (kālaññū): “Đây là THỜI ĐỂ TUYÊN THUYẾT, đây là THỜI CHẤT VẤN, đây là THỜI TU TẬP, đây là THỜI THIỀN TỊNH.”

Xin thưa bốn thời ấy rất đáng nhớ cho người dạy. Có lúc phải nói; có lúc phải để người ta hỏi; có lúc phải bắt tay làm; có lúc phải im mà ngồi. Nói đúng điều mà sai thời thì cũng hỏng.

BIẾT HỘI CHÚNG (parisaññū): biết “đây là hội chúng Sát-đế-lỵ, Bà-la-môn, Gia chủ, Sa-môn” — và ở đó “nên ĐI ĐẾN như vậy, nên ĐỨNG như vậy, nên NGỒI như vậy, nên NÓI như vậy, nên IM LẶNG như vậy”.

Xin thưa chi tiết ấy rất người: kinh kể cả cách ĐỨNG và cách NGỒI, và kể cả cách IM LẶNG. Nghĩa là im lặng cũng có nhiều kiểu, và phải im cho đúng kiểu.

BIẾT NGƯỜI THẮNG KẺ LIỆT (puggalaparoparaññū) — pháp thứ bảy, và được khai triển dài nhất. Kinh nêu BẢY CẶP nối tiếp nhau NHƯ BẬC THANG, mỗi cặp một hạng đáng quở, một hạng đáng khen.

Bậc thang ấy đi thế này: ưa thấy bậc Thánh hay khôngưa nghe diệu pháp hay khônglắng tai nghe hay khôngnghe xong THỌ TRÌ hay khôngthọ trì rồi QUÁN SÁT Ý NGHĨA hay khônghiểu nghĩa hiểu pháp rồi THỰC HÀNH pháp tùy pháp hay không.

Xin thưa cái thang ấy rất đáng dạy, vì nó cho thấy mỗi bậc là MỘT CHỖ ĐỨT KHÁC NHAU. Có người không chịu tới nghe. Có người tới mà không lắng tai. Có người nghe kỹ mà nghe xong quên. Có người nhớ mà không nghĩ tới nghĩa. Có người hiểu mà không làm.

Và bậc CUỐI CÙNG là chỗ con muốn anh chị em để ý nhất: hai hạng người ĐỀU đã hiểu nghĩa, hiểu pháp, VÀ ĐỀU ĐANG THỰC HÀNH. Khác nhau ở chỗ: một hạng thực hành “với mục đích TỰ LỢI, KHÔNG có lợi tha”; một hạng thực hành “với mục đích TỰ LỢI VÀ LỢI THA”.

Và hạng thực hành VÌ CẢ HAI được kinh xếp CAO NHẤT.

Xin thưa: bậc thang này KHÔNG dừng ở chỗ “tu cho xong việc mình”. Nó còn một bậc nữa ở trên. Và bậc ấy chính là chỗ đứng của người Huynh Trưởng.

Xin thưa lời cuối cho anh chị em. Con xin đề nghị lấy bảy cái biết này làm bảng tự soi trước mỗi buổi sinh hoạt: mình có BIẾT PHÁP mình sắp nói không? Có BIẾT NGHĨA hay chỉ thuộc lời? Có BIẾT MÌNH tới đâu? Có BIẾT THỜI — hôm nay các em cần nghe giảng hay cần được hỏi? Có BIẾT HỘI CHÚNG — trước mặt mình là ngành Oanh hay ngành Thanh? Có BIẾT NGƯỜI — em nào đang ở bậc thang nào?

  • “Biết pháp là thuộc lòng kinh.” Kinh tách BIẾT PHÁP (biết lời) và BIẾT NGHĨA (biết ý) thành HAI pháp riêng — thuộc lời mà không hiểu ý thì mới được một nửa.
  • “Biết mình là khiêm nhường nói mình dở.” Kinh nói “CHO ĐẾN NHƯ VẬY, tôi có lòng tin, giữ giới, nghe nhiều, bố thí, trí tuệ, biện tài” — là ĐO ĐÚNG MỨC, không phải tự chê hay tự khen.
  • “Biết vừa đủ là cho vừa phải.” Kinh nói về việc NHẬN: biết vừa đủ khi nhận y, đồ ăn, sàng tọa, dược phẩm.
  • “Tu là lo cho mình xong đã.” Bậc cuối cùng của thang có hai hạng ĐỀU đang thực hành; hạng được xếp CAO NHẤT là hạng làm vì TỰ LỢI VÀ LỢI THA.
  • Ngành Oanh. Dạy BIẾT THỜI bằng lời giản dị: có lúc nói, có lúc nghe, có lúc im.
  • Ngành Thiếu. Học bậc thang bảy cặp: em đang đứng ở bậc nào?
  • Ngành Thanh và Huynh Trưởng. Lấy bảy cái biết làm bảng tự soi trước mỗi buổi sinh hoạt.
  • Bảy pháp là bảy cái biết nào?
  • Biết pháp khác biết nghĩa ra sao?
  • Bốn “thời” trong biết thời là gì?
  • Bậc cao nhất của thang bảy cặp là hạng nào?

Nguyên văn Pāli chép từ ấn bản Mahāsaṅgīti — tệp dữ liệu gốc bilara-data của suttacentral.net, từng đoạn có đánh số. Bản tiếng Việt của Hoà thượng Thích Minh Châu; bản tiếng Anh của Tỳ-kheo Sujato. Bài này đã qua một lượt soi lại độc lập. Lượt soi ấy chỉ ra 1 chỗ cần xem lại; chỗ nào là lỗi thật thì chúng tôi đã sửa và ghi rõ ở Phần IV. Muốn đọc trọn bài kinh, xin xem nguyên văn ba thứ tiếng. Thấy chỗ nào khác ấn bản in, xin báo cho chúng tôi.