G.Đ.P.T Huyền Quang Phật Pháp · Tam Tạng Kinh Điển Tăng Chi Bộ · AN 7.63
Bảy Hạng Vợ · Và Một Nàng Dâu Tự Chọn

Kinh Các Người Vợ

Bhariyā Sutta — AN 7.63 · Pāli · Việt · Anh

Tam TạngTạng KinhTrung BộKinh Các Người Vợ

Một buổi sáng Đức Phật ghé nhà ông Cấp Cô Độc và nghe trong nhà ồn ào “như những người đánh cá đang giành giựt cá”. Nguyên do là nàng dâu mới Sujātā. Ngài gọi nàng ra, kể bảy hạng vợ, rồi hỏi thẳng: “Và con thuộc loại vợ nào?”

  • Bộ — Tăng Chi Bộ, Chương Bảy Pháp, kinh 63
  • Phẩm — Không Tuyên Bố (Abyākatavagga), bài thứ mười
  • Bài đi đôiKinh Thiện Sanh (Sigālovāda, DN 31), nói cả BỔN PHẬN CỦA CHỒNG
  • Bản Việt — Hoà thượng Thích Minh Châu, nhan đề Các Người Vợ

Kinh "Các Người Vợ" (Bhariyāsutta) ghi lại một buổi sáng Đức Phật đi khất thực và ghé nhà gia chủ Cấp Cô Độc (Anàthapindika). Nghe trong nhà ồn ào "như những người đánh cá đang giành giựt cá", Ngài hỏi nguyên do. Gia chủ thưa rằng nàng dâu mới tên Sujàtà, xuất thân giàu có, không vâng lời mẹ chồng, cha chồng, chồng, cũng không cung kính cúng dường Thế Tôn. Đức Phật cho gọi Sujàtà đến và dạy: có bảy loại vợ đối với người đàn ông — vợ như người sát nhân, vợ như người ăn trộm, vợ như người chủ nhân, vợ như người mẹ, vợ như người chị, vợ như người bạn, và vợ như người nữ tỳ. Rồi Ngài hỏi thẳng: "Và con thuộc loại vợ nào?" Sujàtà thưa chưa hiểu rõ nghĩa rộng, xin Thế Tôn giảng rộng. Bằng những bài kệ, Đức Phật mô tả từng hạng: vợ sát nhân là người tâm uế nhiễm, thích thú người khác, khinh rẻ chồng, hăng say hại chồng; vợ ăn trộm là người lấy trộm tài sản do chồng làm ra bằng công nghiệp, thương nghiệp, nông nghiệp; vợ chủ nhân là người biếng nhác, ăn nhiều, ác khẩu, đàn áp và chỉ huy chồng. Ngược lại, vợ như mẹ luôn từ mẫn, săn sóc chồng như mẹ chăm con và biết gìn giữ tài sản; vợ như chị biết cung kính, có tâm tàm quý; vợ như bạn thấy chồng thì hoan hỷ như gặp bạn lâu ngày xa về, sanh nhà hiền đức, giữ giới, trung thành; vợ như nữ tỳ không tức giận, nhẫn nhục, tùy thuận lời chồng dạy. Đức Phật kết luận theo nghiệp quả: ba hạng đầu — sát nhân, ăn trộm, chủ nhân — không giữ giới, ác khẩu, vô lễ, khi thân hoại mạng chung bị sanh vào địa ngục; bốn hạng sau — mẹ, chị, bạn, nữ tỳ — an trú trên giới đức, khéo phòng hộ lâu ngày, khi thân hoại mạng chung được sanh lên thiện thú. Ngài lại hỏi Sujàtà thuộc hạng nào. Nàng thưa: từ hôm nay xin Thế Tôn xem con là người vợ như người nữ tỳ đối với chồng. Bài kinh dạy rằng giá trị của một người không do gia thế giàu sang mà do giới đức và cách cư xử trong gia đình.

Bố cục bài kinhTheo đúng thứ tự trong kinh văn

  • 1. Duyên khởi: tiếng ồn trong nhà gia chủ Cấp Cô Độc — Thế Tôn đến trú xứ gia chủ Anàthapindika, nghe nhiều người nói cao tiếng lớn tiếng; gia chủ thưa về nàng dâu Sujàtà không vâng lời và không cung kính Thế Tôn (đoạn 1-2).
  • 2. Thế Tôn cho gọi Sujàtà và nêu bảy loại vợ — Sujàtà đến đảnh lễ; Thế Tôn nêu bảy loại vợ và hỏi nàng thuộc loại nào; nàng xin giảng rộng (đoạn 3-4).
  • 3. Kệ giảng rộng bảy hạng vợ — Bảy bài kệ lần lượt mô tả vợ sát nhân, vợ ăn trộm, vợ chủ nhân, vợ như mẹ, vợ như chị, vợ như bạn, vợ như nữ tỳ (đoạn 5-11).
  • 4. Kệ kết: quả báo địa ngục và thiện thú — Ba hạng đầu bị sanh vào địa ngục; bốn hạng sau an trú giới đức, được sanh lên thiện thú (đoạn 12-13).
  • 5. Sujàtà phát nguyện — Thế Tôn hỏi lại; Sujàtà xin từ nay được xem là người vợ như người nữ tỳ đối với chồng (đoạn 14).

Mỗi đoạn ghi nguyên văn Pāli, rồi bản Việt, rồi bản tiếng Anh. Số bên trái là số đoạn trong kinh, để đối chiếu được.

AN 7.63.2
“Kiṁ nu te, gahapati, nivesane manussā uccāsaddā mahāsaddā kevaṭṭā maññe macchavilope”ti?
—Này Gia chủ, vì sao trong nhà của Ông lại có nhiều người nói cao tiếng, nói lớn tiếng như những người đánh cá đang giành giựt cá?
“Householder, what’s with the people making that colossal racket in your home? You’d think it was fishermen hauling in a catch!”
AN 7.63.4
“Satta kho imā, sujāte, purisassa bhariyāyo. Katamā satta? Vadhakasamā, corīsamā, ayyasamā, mātāsamā, bhaginīsamā, sakhīsamā, dāsīsamā. Imā kho, sujāte, satta purisassa bhariyāyo. Tāsaṁ tvaṁ katamā”ti?
—Này Sujàtà có bảy loại vợ này cho người đàn ông. Thế nào là bảy? Vợ như người sát nhân, vợ như người ăn trộm, vợ như người chủ nhân, vợ như người mẹ, vợ như người chị, vợ như người bạn, vợ như người nữ tỳ. Này Sujàtà, có bảy loại vợ cho người đàn ông. Và con thuộc loại vợ nào?
“Sujātā, a man can have seven kinds of wife. What seven? A wife like a killer, a wife like a thief, a wife like a lord, a wife like a mother, a wife like a sister, a wife like a comrade, and a wife like a bondservant. These are the kinds of wife that a man can have. Which one of these are you?”
AN 7.63.5 (kệ)
“Paduṭṭhacittā ahitānukampinī,
Aññesu rattā atimaññate patiṁ;
Dhanena kītassa vadhāya ussukā,
Yā evarūpā purisassa bhariyā;
‘Vadhā ca bhariyā’ti ca sā pavuccati.
Ai tâm bị uế nhiễm,
Không từ mẫn thương người,
Thích thú những người khác,
Khinh rẻ người chồng mình,
Bị mua chuộc bằng tiền,
Hăng say giết hại người,
Hạng người vợ như vậy,
Ðược gọi vợ sát nhân.
“With a mind full of hate and no kindness, lusting for others, looking down on her husband, she longs to murder him who paid the price for her. A man’s wife of this sort is called a wife and a killer.
AN 7.63.7 (kệ)
Akammakāmā alasā mahagghasā,
Pharusā ca caṇḍī duruttavādinī;
Uṭṭhāyakānaṁ abhibhuyya vattati,
Yā evarūpā purisassa bhariyā;
‘Ayyā ca bhariyā’ti ca sā pavuccati.
Không ưa thích làm việc,
Biếng nhác, nhưng ăn nhiều,
Ác khẩu và bạo ác,
Phát ngôn lời khó chịu,
Mọi cố gắng của chồng,
Ðàn áp và chỉ huy,
Hạng người vợ như vậy,
Ðược gọi là vợ chủ nhân.
She’s an idle glutton who doesn’t want to work. Her words are harsh, fierce, and rude. He works hard, but she lives as his master. A man’s wife of this sort is called a wife and a lord.
AN 7.63.8 (kệ)
Yā sabbadā hoti hitānukampinī,
Mātāva puttaṁ anurakkhate patiṁ;
Tato dhanaṁ sambhatamassa rakkhati,
Yā evarūpā purisassa bhariyā;
‘Mātā ca bhariyā’ti ca sā pavuccati.
Ai luôn luôn từ mẫn,
Có lòng thương xót người,
Săn sóc giúp đỡ chồng,
Như mẹ chăm sóc con,
Tài sản chồng cất chứa,
Biết hộ trì gìn giữ,
Hạng người vợ như vậy,
Ðược gọi vợ như mẹ,
She’s always caring and kind, looking after her husband like a mother her child. She keeps the wealth that he has earned secure. A man’s wife of this sort is called a wife and a mother.
AN 7.63.10 (kệ)
Yācīdha disvāna patiṁ pamodati,
Sakhī sakhāraṁva cirassamāgataṁ;
Koleyyakā sīlavatī patibbatā,
Yā evarūpā purisassa bhariyā;
‘Sakhī ca bhariyā’ti ca sā pavuccati.
Ai ở đời thấy chồng,
Tâm hoan hỷ vui vẻ,
Như người bạn tốt lành,
Ðã lâu từ xa về,
Sanh gia đình hiền đức,
Giữ giới, dạ trung thành,
Hạng người vợ như vậy,
Ðược gọi vợ như bạn.
She’s delighted to see him, like one reunited with a long-lost comrade. She’s of good pedigree, virtuous, and devoted. A man’s wife of this sort is called a wife and a comrade.
AN 7.63.12–13 (kệ kết)
Yācīdha bhariyā vadhakāti vuccati,
‘Corī ca ayyā’ti ca yā pavuccati;
Dussīlarūpā pharusā anādarā,
Kāyassa bhedā nirayaṁ vajanti tā.
Yācīdha mātā bhaginī sakhīti ca,
‘Dāsī ca bhariyā’ti ca sā pavuccati;
Sīle ṭhitattā cirarattasaṁvutā,
Kāyassa bhedā sugatiṁ vajanti tāti.
Ở đời các hạng vợ,
Ðược gọi vợ sát nhân,
Kể cả vợ ăn trộm,
Và cả vợ chủ nhân,
Vợ ấy không giữ giới,
Ác khẩu và vô lễ
Khi thân hoại mạng chung,
Bị sanh vào địa ngục.
Ở đời các hạng vợ,
Như mẹ, chị và bạn,
Và người vợ được gọi,
Là vợ như nữ tỳ,
An trú trên giới đức,
Khéo phòng hộ lâu ngày,
Khi thân hoại mạng chung,
Ðược sanh lên thiện thú.
The kinds of wives here called killer, thief, and lord; immoral, harsh, and lacking regard for others, when their body breaks up they set course for hell. But the kinds of wives here called mother, sister, comrade, and bondservant; steadfast in their own morality, restrained for a long time, when their body breaks up they set course for a good place.
AN 7.63.14
“Ajjatagge maṁ, bhante, bhagavā dāsīsamaṁ sāmikassa bhariyaṁ dhāretū”ti.
—Bạch Thế Tôn, bắt đầu từ hôm nay, Thế Tôn hãy xem con là người vợ đối với chồng như người vợ nữ tỳ.
“Sir, from this day forth may the Buddha remember me as a wife like a bondservant.”
Chữ PāliNghĩaGhi chú
bhariyāngười vợTên kinh Bhariyāsutta — kinh Các Người Vợ.
vadhakasamānhư người sát nhânvadhaka = kẻ giết; samā = ngang bằng, giống như.
corīsamānhư người ăn trộmcorī: nữ đạo tặc.
ayyasamānhư người chủ nhânayya: chủ, bậc trên.
mātāsamānhư người mẹ
bhaginīsamānhư người chị
sakhīsamānhư người bạn
dāsīsamānhư người nữ tỳ
hirītàm — hổ thẹn với điều ácTrong kệ: hirīmanā — tâm biết tàm quý.
sīlagiới, giới đứcSīle ṭhitattā: an trú trên giới đức.
dussīlaác giới, không giữ giới
nirayađịa ngục
sugatithiện thú, cõi lành
kāyassa bhedākhi thân hoại mạng chung
gharasuṇhānàng dâu
anukampā / hitānukampinīlòng từ mẫn, thương xót lợi ích cho người
titikkhatinhẫn nhục, kham nhẫn

Xin thưa ngay một lời với anh chị em Huynh Trưởng trước khi vào bài, vì bài kinh này phải dạy cho cẩn thận. Đây là một bài kinh nói tới xã hội Ấn Độ cách nay hai ngàn năm trăm năm, với những hình ảnh như “vợ như người nữ tỳ” mà tai người thời nay nghe rất chướng. Con xin trình bày trọn vẹn, không lược, không làm nhẹ đi — nhưng cũng xin thưa rõ mấy điều để anh chị em khỏi dạy lệch.

Trước hết là bối cảnh, và bối cảnh rất sống động. Một buổi sáng, Đức Phật đắp y, cầm y bát, đi tới nhà gia chủ Cấp Cô Độc. Trong nhà đang ồn ào. Ngài hỏi: “Vì sao trong nhà của Ông lại có nhiều người nói cao tiếng, nói lớn tiếng NHƯ NHỮNG NGƯỜI ĐÁNH CÁ ĐANG GIÀNH GIỰT CÁ?”

Xin để ý ví dụ ấy. Đức Phật dùng một hình ảnh chợ búa, rất đờivà Ngài dùng nó cho nhà một vị đại thí chủ. Kinh không giấu chuyện lục đục trong nhà người hộ pháp lớn nhất của mình.

Gia chủ thưa: nàng dâu mới tên SUJĀTĀ, xuất thân nhà giàu, không vâng lời mẹ chồng, cha chồng, chồng, và cũng không cung kính Thế Tôn.

Xin để ý chi tiết “XUẤT THÂN NHÀ GIÀU”, vì cả bài kinh xoay quanh đó. Cái làm nàng khinh người là GIA THẾ. Và câu trả lời của bài kinh, tới cuối, chính là: gia thế không phải thước đo.

Đức Phật cho gọi nàng ra, và kể BẢY HẠNG VỢ. Vợ như người SÁT NHÂN, vợ như người ĂN TRỘM, vợ như người CHỦ NHÂN, vợ như người MẸ, vợ như người CHỊ, vợ như người BẠN, vợ như người NỮ TỲ. Rồi Ngài hỏi thẳng: “Và con thuộc loại vợ nào?”

Xin thưa cách hỏi ấy rất đáng học, và con nghĩ đó là chỗ hay nhất về mặt sư phạm của bài kinh. Đức Phật KHÔNG nói “con hư lắm”. Ngài KHÔNG kể tội nàng. Ngài đưa ra bảy cái tên, rồi để NÀNG TỰ SOI.

Và nàng thưa chưa hiểu rõ nghĩa rộng, xin Ngài giảng rộng. Nghĩa là nàng đã chịu nghe. Cách hỏi ấy mở được cửa mà lời quở trách không mở được.

Rồi Ngài giảng bằng KỆ. Ba hạng đầu là ba hạng nặng.

VỢ SÁT NHÂN: “Ai tâm bị uế nhiễm, không từ mẫn thương người, thích thú những người khác, khinh rẻ người chồng mình, bị mua chuộc bằng tiền, hăng say giết hại người.”

VỢ ĂN TRỘM: người lấy trộm tài sản do chồng làm ra bằng công nghiệp, thương nghiệp, nông nghiệp.

VỢ CHỦ NHÂN: “Không ưa thích làm việc, biếng nhác, nhưng ăn nhiều, ác khẩu và bạo ác, phát ngôn lời khó chịu, mọi cố gắng của chồng, ĐÀN ÁP và CHỈ HUY.”

Xin thưa một chỗ dễ hiểu lầm ở hạng thứ ba, vì tên gọi của nó nghe như chê người vợ có tiếng nói. Kinh KHÔNG chê người vợ mạnh mẽ hay có chủ kiến. Xin đọc kỹ những gì kinh thật sự kể ra: BIẾNG NHÁC, ĂN NHIỀU, ÁC KHẨU, BẠO ÁC, ĐÀN ÁP. Đó là những nết xấu cụ thể — nết nào cũng đúng cho cả nam lẫn nữ.

Rồi bốn hạng sau, là bốn hạng lành. VỢ NHƯ MẸ: “Ai luôn luôn từ mẫn, có lòng thương xót người, săn sóc giúp đỡ chồng, NHƯ MẸ CHĂM SÓC CON, tài sản chồng cất chứa, biết hộ trì gìn giữ.”

VỢ NHƯ CHỊ: người biết cung kính, có tâm TÀM QUÝbiết hổ thẹn với điều ác.

VỢ NHƯ BẠN: “Ai ở đời thấy chồng, tâm hoan hỷ vui vẻ, NHƯ NGƯỜI BẠN TỐT LÀNH ĐÃ LÂU TỪ XA VỀ, sanh gia đình hiền đức, giữ giới, dạ trung thành.”

Xin dừng ở hình ảnh ấy, vì con thấy đó là câu đẹp nhất trong cả bài kinh. “Như người bạn tốt lành đã lâu từ xa về.” Hai người ở chung một nhà bao nhiêu năm — mà mỗi lần thấy nhau vẫn mừng như thế.

VỢ NHƯ NỮ TỲ: người không tức giận, nhẫn nhục, tuỳ thuận lời chồng dạy.

Xin thưa thẳng: hạng thứ bảy này là chỗ người thời nay khó nghe nhất, và con không định nói tránh. Xin thưa mấy điều để bác và anh chị em cân nhắc.

Thứ nhất, về nghĩa của hình ảnh. Bảy hạng đều lấy tên từ QUAN HỆ TRONG XÃ HỘI ẤN ĐỘ ĐƯƠNG THỜIsát nhân, ăn trộm, chủ nhân, mẹ, chị, bạn, nữ tỳ. Đó là bảy hình ảnh có sẵn trong đầu người nghe thời ấy, Đức Phật mượn để nói cho dễ hiểu.

Thứ hai, và đây là điều quan trọng nhất: kinh CHẤM ĐIỂM bằng cái gì. Ở bài kệ kết, Đức Phật KHÔNG xếp hạng theo mức phục tùng. Ngài nói: ba hạng đầu “KHÔNG GIỮ GIỚI, ÁC KHẨU và VÔ LỄ” nên đoạ; bốn hạng sau “AN TRÚ TRÊN GIỚI ĐỨC, khéo phòng hộ lâu ngày” nên sanh thiện thú.

Xin đọc lại cho kỹ: thước đo là GIỚI ĐỨC. Không phải nghe lời nhiều hay ít. Và “vợ như MẸ” — hạng biết GÌN GIỮ TÀI SẢN, tức có quyền và có trách nhiệm trong nhà — được xếp cùng hàng lành với hạng thứ bảy.

Thứ ba, xin đừng đọc bài này một mình. Phải đọc kèm KINH THIỆN SANH (Sigālovāda, DN 31), nơi Đức Phật nói BỔN PHẬN CỦA NGƯỜI CHỒNG đối với vợ: kính trọng, không bất kính, trung thành, giao quyền hành, và sắm đồ trang sức cho vợ. Đạo Phật nói cả hai chiều; ai chỉ trích một chiều là đọc thiếu.

Và xin thưa điều thứ tư, là chỗ con thấy cảm động nhất. Đức Phật hỏi lại lần nữa: con thuộc hạng nào.Sujātā TỰ THƯA: “Bạch Thế Tôn, bắt đầu từ hôm nay, Thế Tôn hãy xem con là người vợ đối với chồng như người vợ nữ tỳ.”

Xin để ý: KHÔNG AI XẾP NÀNG VÀO HẠNG NÀO CẢ. Đức Phật không phán nàng là vợ sát nhân hay vợ chủ nhân. Ngài chỉ hỏi hai lần, và NÀNG TỰ CHỌN. Cả bài kinh là một cuộc tự soi, không phải một bản án.

Xin thưa lời cuối cho anh chị em. Nếu dạy bài này cho ngành Thanh hay các anh chị đã lập gia đình, con xin đề nghị đừng dừng ở bảy cái tên — vì bảy cái tên ấy dễ gây tranh cãi và dễ bị dùng sai. Hãy nhấn vào ba chỗ: thước đo là GIỚI ĐỨC chứ không phải gia thế; hình ảnh “như người bạn lâu ngày từ xa về”; và cách Đức Phật dạy một người đang sai — bằng cách đưa gương cho họ tự soi, không bằng cách kể tội.

Và xin thưa một chi tiết về bản văn. Câu mở “Thế Tôn trú ở Sāvatthī, tại Jetavana, khu vườn ông Anāthapiṇḍika” CHỈ có trong bản Việt của Hoà thượng; bản Pāli Mahāsaṅgīti và bản Anh mở thẳng bằng “Atha kho bhagavā pubbaṇhasamayaṁ…”. Trang này ghi lại đúng hiện trạng của cả hai bản, không suy đoán nguyên do, và không sửa chữ nào của Hoà thượng.

  • “Kinh dạy vợ phải làm nô lệ cho chồng.” Bài kệ kết chấm điểm bằng GIỚI ĐỨC, không bằng mức phục tùng: ba hạng đầu bị chê vì “không giữ giới, ác khẩu và vô lễ”. Và “vợ như MẸ” — người GÌN GIỮ TÀI SẢN trong nhà — được xếp cùng hàng lành.
  • “Đạo Phật chỉ đòi hỏi người vợ.” Kinh Thiện Sanh (DN 31) nêu bổn phận của chồng: kính trọng, không bất kính, trung thành, GIAO QUYỀN HÀNH, và sắm đồ trang sức cho vợ.
  • “Đức Phật quở trách nàng Sujātā.” Ngài không kể một tội nào của nàng. Ngài nêu bảy cái tên rồi hỏi “con thuộc loại nào?”và chính NÀNG tự chọn.
  • “Vợ chủ nhân nghĩa là vợ có chủ kiến.” Bài kệ kể ra: biếng nhác, ăn nhiều, ác khẩu, bạo ác, đàn áplà những nết xấu cụ thể, đúng cho cả nam lẫn nữ.
  • Ngành Oanh. Xin đừng dạy bảy hạng vợ. Chỉ kể chuyện Đức Phật nghe nhà ồn rồi ghé vào, và dạy nói năng hoà nhã trong nhà.
  • Ngành Thiếu. Nhấn vào cách Đức Phật dạy người đang sai: đưa gương cho tự soi, không kể tội.
  • Ngành Thanh và Huynh Trưởng. Đọc kèm Kinh Thiện Sanh (DN 31) để có đủ hai chiều, rồi bàn về hình ảnh “như người bạn lâu ngày từ xa về”.
  • Vì sao Đức Phật ghé nhà ông Cấp Cô Độc sáng hôm ấy?
  • Bảy hạng vợ là bảy hạng nào?
  • Bài kệ kết chấm điểm bằng thước đo gì?
  • Ai đã xếp nàng Sujātā vào hạng vợ nữ tỳ?

Nguyên văn Pāli chép từ ấn bản Mahāsaṅgīti — tệp dữ liệu gốc bilara-data của suttacentral.net, từng đoạn có đánh số. Bản tiếng Việt của Hoà thượng Thích Minh Châu; bản tiếng Anh của Tỳ-kheo Sujato. Bài này đã qua một lượt soi lại độc lập. Lượt soi ấy chỉ ra 1 chỗ cần xem lại; chỗ nào là lỗi thật thì chúng tôi đã sửa và ghi rõ ở Phần IV. Muốn đọc trọn bài kinh, xin xem nguyên văn ba thứ tiếng. Thấy chỗ nào khác ấn bản in, xin báo cho chúng tôi.