G.Đ.P.T Huyền Quang Phật Pháp · Tam Tạng Kinh Điển Tăng Chi Bộ · AN 7.61
Bảy Cách Trị Cơn Buồn Ngủ

Kinh Ngủ Gục

Pacalāyamāna Sutta — AN 7.61 · Pāli · Việt · Anh

Tam TạngTạng KinhTrung BộKinh Ngủ Gục

Tôn giả Mahāmoggallāna NGỦ GỤC khi ngồi thiền. Thế Tôn thấy bằng thiên nhãn, hiện đến ngay trước mặt và hỏi: “Này Moggallāna, có phải Thầy ngủ gục?” Rồi Ngài dạy BẢY cách trịtheo thứ lớp, bậc sau chỉ dùng khi bậc trước chưa xong.

  • Bộ — Tăng Chi Bộ, Chương Bảy Pháp, kinh 61
  • Phẩm — Không Tuyên Bố (Abyākatavagga)
  • Nơi chốn — Thế Tôn ở núi Suṁsumāra, rừng Bhesakalā, vườn Nai; Tôn giả ở làng Kallavāḷamutta
  • Đọc kèmAN 3.16 (chú tâm cảnh giác) và AN 5.51 (hôn trầm thụy miên)

Kinh Ngủ Gục thuộc Chương Bảy Pháp, Phẩm Không Tuyên Bố (Abyākatavagga), Tăng Chi Bộ. Bối cảnh: Thế Tôn đang trú giữa dân chúng Bhagga, tại núi Sumsumàra, rừng Bhesakalà, ở vườn Nai. Với thiên nhãn thanh tịnh siêu nhân, Ngài thấy Tôn giả Mahàmoggallàna đang ngồi ngủ gục tại làng Kallavàlamutta, giữa dân chúng Magadha. Ngài liền biến mất và hiện ra trước mặt Tôn giả, rồi hỏi: "Này Moggallàna, có phải Thầy ngủ gục?" Phần chính của kinh là bảy phương thuốc trị thụy miên (buồn ngủ) mà Thế Tôn dạy theo thứ lớp, mỗi bậc chỉ dùng khi bậc trước chưa có kết quả: (1) chớ tác ý, chớ tưởng nhiều đến cái tưởng đang khiến mình buồn ngủ; (2) tùy tâm tùy tứ, tùy quán pháp như đã được nghe, đã học thuộc lòng; (3) đọc tụng pháp một cách rộng rãi; (4) kéo hai lỗ tai và lấy tay xoa bóp tay chân; (5) đứng dậy lấy nước chùi mắt, nhìn về phía chân trời và nhìn lên các sao lấp lánh; (6) tác ý đến quang tưởng, an trú tưởng ban ngày — "như ban ngày, ban đêm cũng vậy; như ban đêm, ban ngày cũng vậy"; (7) đi kinh hành với tưởng trước mặt và sau lưng, căn hướng nội, ý không hướng ngoại. Nếu vẫn chưa hết, thì nằm dáng sư tử, hông phải, hai chân gác lên nhau, chánh niệm tỉnh giác, tác ý tưởng thức dậy — và khi thức thì phải dậy thật mau, không đắm trong lạc nằm ngủ. Tiếp đó Thế Tôn dạy hai điều học tập cho đời sống hằng ngày: không say sưa trong cao mạn khi đi đến thăm các gia đình, và không nói lời khiêu khích — vì cả hai đều dẫn tới dao động, mất phòng hộ, tâm rời xa Thiền định. Ngài phân biệt: không tán thán sự liên hệ giữa người xuất gia với các gia chủ, nhưng tán thán sự liên hệ với các trú xứ vắng lặng thích hợp cho Thiền tịnh. Cuối kinh, Tôn giả Mahàmoggallàna hỏi tóm tắt thế nào là Tỷ-kheo được giải thoát nhờ đoạn diệt khát ái. Thế Tôn đáp bằng câu then chốt: "Không nên thiên chấp tất cả pháp" (sabbe dhammā nālaṁ abhinivesāya) — thắng tri, liễu tri tất cả pháp, rồi tùy quán vô thường, ly tham, đoạn diệt, từ bỏ đối với mọi cảm thọ; do không chấp thủ nên không lo âu, tự mình nhập Niết-bàn.

Bố cục bài kinhTheo đúng thứ tự trong kinh văn

  • 1. Duyên khởi (đoạn 1) — Thế Tôn ở vườn Nai rừng Bhesakalà, thấy Tôn giả Mahàmoggallàna ngồi ngủ gục ở làng Kallavàlamutta; Ngài hiện đến trước mặt Tôn giả.
  • 2. Câu hỏi mở đầu (đoạn 2) — "Này Moggallàna, có phải Thầy ngủ gục?" — Tôn giả xác nhận.
  • 3. Bảy phương pháp trị thụy miên theo thứ lớp (đoạn 2–8) — Chớ tác ý đến tưởng ấy; tùy quán pháp đã nghe đã học; đọc tụng pháp rộng rãi; kéo tai xoa bóp tay chân; lấy nước chùi mắt nhìn sao trời; tác ý quang tưởng, an trú tưởng ban ngày; đi kinh hành với căn hướng nội.
  • 4. Dáng nằm sư tử và tưởng thức dậy (đoạn 9) — Nếu vẫn không hết thì nằm dáng sư tử về hông phải, chánh niệm tỉnh giác, tác ý tưởng thức dậy, và khi thức phải dậy thật mau, không đắm lạc nằm ngủ.
  • 5. Không say sưa cao mạn khi đến thăm các gia đình (đoạn 10) — Tỷ-kheo cao mạn đi đến các gia đình, không được chú ý, sinh nản chí, giao động, không phòng hộ, tâm rời xa Thiền định.
  • 6. Không nói lời khiêu khích; sự liên hệ nào đáng tán thán (đoạn 11) — Lời khiêu khích dẫn tới nhiều lời qua tiếng lại, dao động, mất phòng hộ. Thế Tôn không tán thán sự liên hệ của người xuất gia với gia chủ, nhưng tán thán sự liên hệ với những trú xứ vắng lặng thích hợp cho Thiền tịnh.
  • 7. Câu hỏi của Tôn giả Mahàmoggallàna (đoạn 12) — Tóm tắt lại, thế nào là Tỷ-kheo được giải thoát nhờ đoạn diệt khát ái, đạt cứu cánh, tối thượng giữa chư Thiên và loài Người?
  • 8. Lời đáp: "Không nên thiên chấp tất cả pháp" (đoạn 13) — Thắng tri và liễu tri tất cả pháp; tùy quán vô thường, ly tham, đoạn diệt, từ bỏ đối với mọi cảm thọ; không chấp thủ, không lo âu, tự mình nhập Niết-bàn, biết rõ "Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành...".

Mỗi đoạn ghi nguyên văn Pāli, rồi bản Việt, rồi bản tiếng Anh. Số bên trái là số đoạn trong kinh, để đối chiếu được.

AN 7.61, đoạn 2.1–2.2
“Pacalāyasi no tvaṁ, moggallāna, pacalāyasi no tvaṁ, moggallānā”ti?
“Evaṁ, bhante”.
—Này Moggallàna, có phải Thầy ngủ gục? Này Moggallàna, có phải Thầy ngủ gục?
—Thưa phải, bạch Thế Tôn.
“Are you nodding off, Moggallāna? Are you nodding off?” “Yes, sir.”
AN 7.61, đoạn 2.3–2.4
“Tasmātiha, moggallāna, yathāsaññissa te viharato taṁ middhaṁ okkamati, taṁ saññaṁ mā manasākāsi, taṁ saññaṁ mā bahulamakāsi. Ṭhānaṁ kho panetaṁ, moggallāna, vijjati yaṁ te evaṁ viharato taṁ middhaṁ pahīyetha.
—Do vậy, này Moggallàna, khi nào Thầy trú có tưởng và thụy miên xâm nhập Thầy, chớ có tác ý đến nó, chớ có tưởng nhiều đến nó. Sự kiện này có xảy ra, do Thầy trú như vậy, thụy miên ấy được đoạn diệt.
“So, Moggallāna, don’t focus on or cultivate the perception that you were meditating on when you fell drowsy. It’s possible that you’ll give up drowsiness in this way.
AN 7.61, đoạn 5.1
No ce te evaṁ viharato taṁ middhaṁ pahīyetha, tato tvaṁ, moggallāna, ubho kaṇṇasotāni āviñcheyyāsi, pāṇinā gattāni anumajjeyyāsi.
Nếu Thầy trú như vậy, và thụy miên ấy không được đoạn diệt, thời này Moggallàna Thầy hãy kéo hai lỗ tai của Thầy, và lấy tay xoa bóp tay chân.
But what if that doesn’t work? Then pinch your ears and rub your limbs.
AN 7.61, đoạn 7.1–7.3
No ce te evaṁ viharato taṁ middhaṁ pahīyetha, tato tvaṁ, moggallāna, ālokasaññaṁ manasi kareyyāsi, divāsaññaṁ adhiṭṭhaheyyāsi—yathā divā tathā rattiṁ yathā rattiṁ tathā divā. Iti vivaṭena cetasā apariyonaddhena sappabhāsaṁ cittaṁ bhāveyyāsi.
Nếu Thầy trú như vậy, và thụy miên ấy không được đoạn diệt, thời này Moggallàna Thầy hãy tác ý đến quang tưởng và an trú vào tưởng ban ngày. Như ban ngày, ban đêm cũng vậy. Như ban đêm, ban ngày cũng vậy. Như vậy, với tâm rộng mở, không có hạn chế.
But what if that doesn’t work? Then apply your mind to the perception of light, focusing on the perception of day: as by day, so by night; as by night, so by day. And so, with an open and unenveloped heart, develop a mind that’s full of radiance.
AN 7.61, đoạn 9.1–9.4
No ce te evaṁ viharato taṁ middhaṁ pahīyetha, tato tvaṁ, moggallāna, dakkhiṇena passena sīhaseyyaṁ kappeyyāsi pāde pādaṁ accādhāya sato sampajāno uṭṭhānasaññaṁ manasi karitvā. Paṭibuddhena ca te, moggallāna, khippaññeva paccuṭṭhātabbaṁ: ‘na seyyasukhaṁ na passasukhaṁ na middhasukhaṁ anuyutto viharissāmī’ti. Evañhi te, moggallāna, sikkhitabbaṁ.
Nếu Thầy trú như vậy, và thụy miên ấy không được đoạn diệt, thời này Moggallàna Thầy hãy nằm như dáng nằm con sư tử, về phía hông bên phải, hai chân gác lên nhau, chánh niệm tỉnh giác, tác ý với tưởng thức dậy. Và khi thức dậy, này Moggallàna, Thầy hãy thức dậy thật mau, nghĩ rằng: “Ta sẽ trú, không có chú tâm đến lạc nằm ngủ, lạc nằm xuống một bên, lạc thụy miên”. Như vậy, này Moggallàna, Thầy cần phải học tập.
But what if that doesn’t work? Then lie down in the lion’s posture—on the right side, placing one foot on top of the other—mindful and aware, and focused on the time of getting up. When you wake, you should get up quickly, thinking: ‘I will not live indulging in the pleasures of sleeping, lying down, and drowsing.’ That’s how you should train.
AN 7.61, đoạn 11.5–11.8
Nāhaṁ, moggallāna, sabbeheva saṁsaggaṁ vaṇṇayāmi. Na panāhaṁ, moggallāna, sabbeheva saṁsaggaṁ na vaṇṇayāmi. Sagahaṭṭhapabbajitehi kho ahaṁ, moggallāna, saṁsaggaṁ na vaṇṇayāmi. Yāni ca kho tāni senāsanāni appasaddāni appanigghosāni vijanavātāni manussarāhasseyyakāni paṭisallānasāruppāni tathārūpehi senāsanehi saṁsaggaṁ vaṇṇayāmī”ti.
Này Moggallàna, Ta không tán thán tất cả sự liên hệ, nhưng không phải Ta không tán thán tất cả sự liên hệ. Thật vậy, này Moggallàna, Ta không tán thán các vị xuất gia có sự liên hệ, với các gia chủ. Nhưng với các trú xứ ít tiếng ồn, ít tiếng động, thoát khỏi hơi thở của nhiều người, những chỗ ở cô độc xa vắng loài Người, thích hợp cho đời sống Thiền tịnh, Ta tán thán sự liên hệ với những trú xứ như vậy.
Moggallāna, I don’t praise all kinds of closeness. Nor do I criticize all kinds of closeness. I don’t praise closeness with laypeople and renunciates. I do praise closeness with those lodgings that are quiet and still, far from the madding crowd, remote from human settlements, and fit for retreat.”
AN 7.61, đoạn 13.1–13.2
“Idha, moggallāna, bhikkhuno sutaṁ hoti: ‘sabbe dhammā nālaṁ abhinivesāyā’ti;
—Này Moggallàna, ở đây, Tỷ-kheo được nghe như sau: “Không nên thiên chấp tất cả pháp”.
“Take a mendicant who has heard: ‘Nothing is worth insisting on.’
AN 7.61, đoạn 13.6–13.9
So tāsu vedanāsu aniccānupassī viharati, virāgānupassī viharati, nirodhānupassī viharati, paṭinissaggānupassī viharati. … na kiñci loke upādiyati, anupādiyaṁ na paritassati, aparitassaṁ paccattaṁyeva parinibbāyati. ‘Khīṇā jāti, vusitaṁ brahmacariyaṁ, kataṁ karaṇīyaṁ, nāparaṁ itthattāyā’ti pajānāti.
Vị ấy trú tùy quán vô thường đối với các cảm thọ ấy. Vị ấy trú tùy quán ly tham. Vị ấy trú tùy quán đoạn diệt. Vị ấy trú tùy quán từ bỏ. Do vị ấy trú tùy quán vô thường trong các cảm thọ, do vị ấy trú tùy quán ly tham, do vị ấy tùy quán đoạn diệt. Vị ấy trú tùy quán từ bỏ, nên không chấp thủ một cái gì ở đời; do không chấp thủ nên không lo âu; do không tham đắm nên tự mình nhập Niết-bàn. Vị ấy biết rõ: “Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, việc nên làm đã làm, không còn trở lui trong trạng thái này nữa”.
they meditate observing impermanence, dispassion, cessation, and letting go in those feelings. … they don’t grasp at anything in the world. Not grasping, they’re not anxious. Not being anxious, they personally become extinguished. They understand: ‘Rebirth is ended, the spiritual journey has been completed, what had to be done has been done, there is nothing further for this place.’
Chữ PāliNghĩaGhi chú
pacalāyamānangủ gục, gà gật (khi đang ngồi thiền)Tên kinh lấy từ chữ này; bản Sujato dịch "nodding off".
middhathụy miên, sự buồn ngủ dã dượi của tâmThường đi cặp với thīna (hôn trầm) thành triền cái thīnamiddha.
saññātưởngTrong kinh: "cái tưởng" đang khiến hành giả rơi vào thụy miên.
ālokasaññāquang tưởng, tưởng ánh sángPhương pháp thứ sáu: an trú tưởng ban ngày cả trong đêm.
sīhaseyyādáng nằm sư tử — nằm nghiêng hông phải, hai chân gác lên nhau
sato sampajānochánh niệm tỉnh giác
uṭṭhānasaññātưởng thức dậy — ghi nhớ giờ sẽ thức trước khi nằm
caṅkamakinh hành, đi thiền hành
uddhaccatrạo cử, dao động
saṁvaraphòng hộ (các căn)asaṁvara: không phòng hộ.
samādhiđịnh, Thiền định
saṁsaggasự liên hệ, sự thân cận, giao du
paṭisallānađộc cư Thiền tịnh
sabbe dhammā nālaṁ abhinivesāya"Không nên thiên chấp tất cả pháp"Câu then chốt tóm tắt toàn bộ pháp giải thoát trong kinh này.
abhijānāti / parijānātithắng tri / liễu tri
vedanācảm thọ (lạc, khổ, không khổ không lạc)
aniccānupassī, virāgānupassī, nirodhānupassī, paṭinissaggānupassītùy quán vô thường, tùy quán ly tham, tùy quán đoạn diệt, tùy quán từ bỏ
upādānachấp thủna upādiyati: không chấp thủ.
taṇhāsaṅkhayavimuttađược giải thoát nhờ sự đoạn diệt khát ái
parinibbāyatinhập Niết-bàn

Xin thưa bài kinh này con nghĩ là bài dễ thương nhất trong cả Tăng Chi Bộ, và cũng thiết thực bậc nhất.

Người ngủ gục ở đây là TÔN GIẢ MAHĀMOGGALLĀNAvị đệ tử THẦN THÔNG bậc nhất của Thế Tôn.

Xin thưa chi tiết ấy đã đủ an ủi cho tất cả chúng ta: ngay bậc đại đệ tử cũng có lúc ngồi thiền mà GÀ GẬT.

Thế Tôn thấy bằng thiên nhãn, liền biến mất và hiện ra ngay trước mặt Tôn giả, rồi hỏi HAI LẦN: “Này Moggallāna, có phải Thầy NGỦ GỤC? Này Moggallāna, có phải Thầy ngủ gục?”“Thưa PHẢI, bạch Thế Tôn.”

Xin thưa Tôn giả nhận ngay, không chối. Và Thế Tôn cũng không quở một câu nào — Ngài đi thẳng vào THUỐC.

Bảy cách ấy theo THỨ LỚP, và xin bác để ý: mỗi bậc chỉ dùng khi bậc trước CHƯA có kết quả.

(1) CHỚ TÁC Ý, CHỚ TƯỞNG NHIỀU đến cái tưởng đang khiến mình buồn ngủ.

(2) TÙY TẦM TÙY TỨ, TÙY QUÁN PHÁP như đã được nghe, đã học thuộc lòng.

(3) ĐỌC TỤNG PHÁP một cách rộng rãi.

(4) KÉO HAI LỖ TAIlấy tay XOA BÓP TAY CHÂN.

(5) ĐỨNG DẬY LẤY NƯỚC CHÙI MẮT, nhìn về phía chân trờinhìn lên các sao lấp lánh.

(6) TÁC Ý ĐẾN QUANG TƯỞNG, an trú TƯỞNG BAN NGÀY“như ban ngày, ban đêm cũng vậy; như ban đêm, ban ngày cũng vậy”.

(7) ĐI KINH HÀNH, với tưởng trước mặt và sau lưng, các căn hướng NỘI, ý KHÔNG hướng ngoại.

Xin thưa con thấy thứ tự ấy rất khéo, và khéo ở chỗ nó đi từ TRONG TÂM ra tới THÂN: hai cách đầu là việc của TÂM; cách ba là MIỆNG; cách bốn và năm là THÂN; cách sáu trở lại TÂM; cách bảy là CẢ THÂN LẪN TÂM cùng đi.

Và điều con thấy quý nhất: kinh KHÔNG bảo “ráng lên, đừng ngủ”. Kinh cho THUỐC RẤT CỤ THỂ — cụ thể tới mức kéo tai, xoa tay chân, rửa mặt.

Nếu bảy cách ấy vẫn chưa hết, thì Thế Tôn dạy: NẰM DÁNG SƯ TỬ, hông phải, hai chân gác lên nhau, chánh niệm tỉnh giác, TÁC Ý TƯỞNG THỨC DẬY.

“khi thức dậy, hãy thức dậy THẬT MAU”KHÔNG đắm trong lạc nằm ngủ.

Xin thưa con thấy chỗ này rất người và rất từ bi: đến một mức thì Thế Tôn CHO PHÉP NGỦ. Không có chuyện ép xác thức trắng. Chỉ dặn: ngủ có CHÁNH NIỆM, và dậy cho MAU.

Phần sau kinh chuyển sang hai điều học tập cho đời sống hằng ngày, và con thấy phần này ít người biết.

Thứ nhất: KHÔNG SAY SƯA TRONG CAO MẠN khi đi đến thăm các gia đình. Vì nếu đi với lòng cao mạn mà không được chú ý thì sinh nản chí, dao động, mất phòng hộ, TÂM RỜI XA THIỀN ĐỊNH.

Thứ hai: KHÔNG NÓI LỜI KHIÊU KHÍCH — vì lời ấy dẫn tới nhiều lời qua tiếng lại, dao động, mất phòng hộ.

Rồi Thế Tôn phân biệt rất rõ: “Ta KHÔNG tán thán TẤT CẢ sự liên hệ, NHƯNG KHÔNG PHẢI Ta không tán thán tất cả sự liên hệ.”

Cụ thể: không tán thán sự liên hệ của người xuất gia với các gia chủ; tán thán sự liên hệ với những trú xứ ít tiếng ồn, ít tiếng động, thích hợp cho Thiền tịnh.

Cuối kinh, Tôn giả Moggallāna hỏi một câu tóm tắt, và Thế Tôn đáp bằng một câu mà con nghĩ là một trong những câu ngắn gọn nhất của cả Tam Tạng:

“KHÔNG NÊN THIÊN CHẤP TẤT CẢ PHÁP”sabbe dhammā nālaṁ abhinivesāya.

Rồi: thắng tri, liễu tri tất cả pháp; đối với mọi cảm thọ thì tùy quán VÔ THƯỜNG, tùy quán LY THAM, tùy quán ĐOẠN DIỆT, tùy quán TỪ BỎdo KHÔNG CHẤP THỦ nên KHÔNG LO ÂU, tự mình nhập Niết-bàn.

Xin thưa lời cuối cho anh chị em. Bài kinh này rất nên đọc cho các em nghe trước giờ tọa thiềnđể em nào gà gật cũng đừng xấu hổ.

Ngay Tôn giả Moggallāna cũng ngủ gục, và Thế Tôn không quở một lời — Ngài chỉ đưa bảy phương thuốc.

Xin thưa hai ghi nhận về bản văn, cả hai chúng con đều đã tự tải lại nguồn và đọc tận nơi.

Thứ nhất, ở đoạn 7.3 bản Pāli có thêm vế “sappabhāsaṁ cittaṁ bhāveyyāsi” (bản Anh: “develop a mind that’s full of radiance”), còn bản Việt kết câu ngay ở “với tâm rộng mở, không có hạn chế”. Ô trích tiếng Việt chép ĐỦ đúng như bản in, KHÔNG hề bị cắt giữa câu — đây chỉ là ghi nhận đối chiếu.

Thứ hai, bản dựng đầu của trang có đặt một dấu “[…]” vào giữa một ô trích tiếng Việt để lược bớt một câu lặp. Theo lệ của trang, ô trích CHỈ được chứa chữ của nguồn, không được chứa dấu của người biên tập. Chúng con đã chép ĐỦ nguyên văn trở lại và bỏ hẳn dấu ấy.

  • “Ngồi thiền mà buồn ngủ là kém tu.” Người ngủ gục trong kinh là Tôn giả Mahāmoggallāna, đệ tử thần thông bậc nhất. Và Thế Tôn không quở một lời.
  • “Phải ráng thức cho bằng được.” Sau bảy cách, Thế Tôn dạy NẰM dáng sư tử với tưởng thức dậy. Kinh CHO PHÉP ngủ — chỉ dặn dậy cho mau.
  • “Bảy cách ấy dùng cách nào cũng được.” Kinh dạy THEO THỨ LỚP: bậc sau chỉ dùng khi bậc trước chưa có kết quả.
  • “Người tu thì phải xa lánh mọi liên hệ.” Thế Tôn nói rõ: “Ta KHÔNG tán thán tất cả sự liên hệ, NHƯNG KHÔNG PHẢI Ta không tán thán tất cả.” Ngài tán thán sự liên hệ với trú xứ vắng lặng.
  • Ngành Oanh. Kể chuyện Ngài Mục-Kiền-Liên ngủ gật, rồi dạy vài cách dễ: rửa mặt, nhìn trời sao, đi vài vòng.
  • Ngành Thiếu. Học đủ bảy cách theo thứ tự, rồi thử ngay trong giờ tọa thiền.
  • Ngành Thanh và Huynh Trưởng. Soi phần sau: cao mạn khi đi thăm nhàlời khiêu khích — hai điều làm tâm rời xa Thiền định. Và bàn câu “không nên thiên chấp tất cả pháp”.
  • Ai là người ngủ gục trong kinh này?
  • Bảy cách trị buồn ngủ là gì?
  • Nếu bảy cách đều không xong thì làm sao?
  • Hai điều học tập ở phần sau là gì?
  • “Không nên thiên chấp tất cả pháp” nghĩa là gì?

Nguyên văn Pāli chép từ ấn bản Mahāsaṅgīti — tệp dữ liệu gốc bilara-data của suttacentral.net, từng đoạn có đánh số. Bản tiếng Việt của Hoà thượng Thích Minh Châu; bản tiếng Anh của Tỳ-kheo Sujato. Bài này đã qua một lượt soi lại độc lập. Lượt soi ấy chỉ ra 1 chỗ cần xem lại; chỗ nào là lỗi thật thì chúng tôi đã sửa và ghi rõ ở Phần IV. Muốn đọc trọn bài kinh, xin xem nguyên văn ba thứ tiếng. Thấy chỗ nào khác ấn bản in, xin báo cho chúng tôi.