G.Đ.P.T Huyền Quang Phật Pháp · Tam Tạng Kinh Điển Tăng Chi Bộ · AN 7.53
Một Nữ Cư Sĩ · Bảy Điều Hy Hữu

Kinh Mẹ Của Nanda

Nandamātā Sutta — AN 7.53 · Pāli · Việt · Anh

Tam TạngTạng KinhTrung BộKinh Mẹ Của Nanda

Một nữ cư sĩ TẠI GIA — bà Velukantakì, mẹ của Nanda. Bà dậy trước rạng đông tụng kinh lớn tiếng, đến nỗi một vị Thiên vương đi ngang phải DỪNG LẠI ĐỨNG NGHE CHO HẾT BÀI. Rồi Tôn giả Sāriputta nghe bà kể BẢY điều hy hữu.

  • Bộ — Tăng Chi Bộ, Chương Bảy Pháp, Phẩm Đại Tế Đàn (Mahāyaññavagga), kinh 53 — bài cuối phẩm
  • Nơi chốnVelukantaka, tại nhà bà; hai Tôn giả SāriputtaMahāmoggallāna đang du hành ở Dakkhināgiri
  • Nhân vật chínhnữ cư sĩ Velukantakì, mẹ của Nanda
  • Đọc kèmAN 6.37 (chính bà là người cúng dường trong bài ấy) và AN 5.33

Kinh Mẹ Của Nanda kể về một nữ cư sĩ tại gia — bà Velukantakì, mẹ của Nanda — và bảy điều "vi diệu, hy hữu" nơi bà. Chuyện mở đầu rất đời thường: bà dậy trước khi mặt trời mọc, tụng lớn tiếng bài Pàràyana (Con đường đưa đến bờ bên kia, phẩm cuối của Kinh Tập). Ðại vương Vessavana (Tỳ-sa-môn, một vị Thiên vương) đang đi ngang, nghe tiếng tụng liền dừng lại, đứng chờ cho đến khi bà tụng xong mới lên tiếng tán thán. Hai bên trao nhau "quà đón khách": bà tặng vị Thiên vương bài pháp vừa tụng; vị Thiên vương báo trước rằng ngày mai chúng Tăng do hai Tôn giả cầm đầu sẽ đến, và xin bà hồi hướng phần cúng dường ấy cho mình. Bà làm đúng như vậy, rồi nguyện: công đức buổi cúng dường này xin đem lại an lạc cho Ðại vương Vessavana. Phần chính của kinh là cuộc đối đáp sau bữa ngọ trai. Mỗi lần Tôn giả Sàriputta thốt lên "Thật vi diệu thay! Thật hy hữu thay!", bà đều đáp khiêm cung rằng nơi bà còn một điều hy hữu khác nữa. Lần lượt bà kể: nói chuyện mặt đối mặt với vị Thiên tử đại uy lực; đứa con trai độc nhất khả ái bị bắt và bị đoạn mạng mà tâm bà không đổi khác; người chồng mệnh chung sanh làm Dạ-xoa hiện về mà tâm bà cũng không đổi khác; từ khi về làm vợ chưa từng có tâm vi phạm với chồng, huống là về thân; từ khi thọ làm nữ cư sĩ chưa từng cố ý phạm một học pháp nào; muốn lúc nào là chứng và an trú được cả bốn Thiền; và cuối cùng, trong năm hạ phần kiết sử Thế Tôn dạy, bà không thấy còn pháp nào chưa đoạn tận nơi mình — tức bà là bậc Bất Lai. Ðối với Huynh Trưởng và đoàn sinh, đây là bài kinh mẫu mực cho người tại gia: tụng kinh mỗi sáng, cúng dường và hồi hướng, giữ giới trọn vẹn, thủy chung, và nhất là giữ tâm bất động ngay giữa nỗi mất mát lớn nhất của một người mẹ. Ðạo quả không dành riêng cho người xuất gia.

Bố cục bài kinhTheo đúng thứ tự trong kinh văn

  • 1. Duyên khởi: tiếng tụng Pàràyana trước rạng đông — Sàriputta và Mahàmoggallàna du hành ở Dakkhinàgiri. Nữ cư sĩ Velukantakì, mẹ của Nanda, dậy trước khi mặt trời mọc, đọc lớn tiếng bài Pàràyana.
  • 2. Ðại vương Vessavana dừng nghe và tán thán — Ðại vương Vessavana đi từ phương Bắc xuống phương Nam, nghe tiếng tụng liền đứng chờ đến hết bài, rồi tán thán 'Lành thay, này Chị!'; tự xưng là anh của bà.
  • 3. Trao đổi 'quà tặng đón khách' và lời báo trước — Bà dâng bài pháp vừa tụng làm quà đón khách; Vessavana nhận, và báo ngày mai chúng Tăng do Sàriputta và Moggallàna cầm đầu sẽ đến Velukantaka chưa ăn sáng, xin bà hồi hướng phần cúng dường cho mình.
  • 4. Sửa soạn và cúng dường trai tăng — Ðêm mãn, bà sửa soạn các món ăn thượng vị loại cứng loại mềm, sai người đến vườn báo giờ, chúng Tỷ-kheo đến ngồi chỗ soạn sẵn và được bà tự tay mời cho thỏa mãn.
  • 5. Sàriputta hỏi, bà thuật lại và hồi hướng công đức — Sàriputta hỏi ai báo tin chúng Tăng sẽ đến; bà thuật lại toàn bộ cuộc gặp và nguyện công đức cúng dường đem lại an lạc cho Ðại vương Vessavana.
  • 6. Ðiều hy hữu thứ nhất: đối diện Thiên tử đại uy lực — Sàriputta tán thán việc bà nói chuyện mặt tận mặt với một Thiên tử có đại thần lực, đại uy lực.
  • 7. Ðiều hy hữu thứ hai: con trai bị đoạn mạng mà tâm không đổi khác — Nanda, đứa con độc nhất khả ái khả ý, bị các vua dùng sức mạnh bắt giữ và đoạn mạng; bà rõ biết tâm mình không có đổi khác.
  • 8. Ðiều hy hữu thứ ba: chồng sanh làm Dạ-xoa hiện về — Chồng bà mạng chung sanh vào sanh loại Dạ-xoa, hiện lên trước mặt bà với tự ngã như lúc trước; tâm bà vẫn không đổi khác.
  • 9. Ðiều hy hữu thứ tư: thủy chung với chồng cả trong ý nghĩ — Từ khi còn là thiếu nữ được đưa đến cho chồng, bà rõ biết không có một tâm vi phạm đối với chồng, huống nữa là về thân.
  • 10. Ðiều hy hữu thứ năm: giữ trọn học pháp của nữ cư sĩ — Từ khi tự chấp nhận là một nữ cư sĩ, bà rõ biết chưa từng vi phạm một học pháp nào.
  • 11. Ðiều hy hữu thứ sáu: tùy ý chứng đạt bốn Thiền — Nếu muốn, bà chứng đạt và an trú sơ Thiền, Thiền thứ hai, Thiền thứ ba và Thiền thứ tư.
  • 12. Ðiều hy hữu thứ bảy: đoạn tận năm hạ phần kiết sử — Trong năm hạ phần kiết sử được Thế Tôn thuyết giảng, bà thấy rõ không còn pháp nào nơi bà chưa được đoạn tận.
  • 13. Kết: Sàriputta thuyết pháp rồi ra đi — Tôn giả Sàriputta với một pháp thoại nói lên cho bà, khích lệ làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ, rồi từ chỗ ngồi đứng dậy ra đi.

Mỗi đoạn ghi nguyên văn Pāli, rồi bản Việt, rồi bản tiếng Anh. Số bên trái là số đoạn trong kinh, để đối chiếu được.

AN 7.53:1.3 (TTC 1)
Tena kho pana samayena veḷukaṇḍakī nandamātā upāsikā rattiyā paccūsasamayaṁ paccuṭṭhāya pārāyanaṁ sarena bhāsati.
Lúc bấy giờ, nữ cư sĩ Velukantakì, mẹ của Nanda thức dậy trước khi mặt trời mọc, và đọc lớn tiếng bài "Pàràyana" (Con đường đưa đến bờ bên kia).
Now at that time the laywoman Veḷukaṇṭakī, Nanda's mother, rose at the crack of dawn and recited the verses of "The Way to the Far Shore".
AN 7.53:2.2 (TTC 1)
Assosi kho vessavaṇo mahārājā nandamātāya upāsikāya pārāyanaṁ sarena bhāsantiyā, sutvā kathāpariyosānaṁ āgamayamāno aṭṭhāsi.
Ðại vương Vessavana nghe nữ cư sĩ Velukantakì, mẹ của Nanda, sau khi lớn tiếng đọc xong bài Pàràyana, liền đứng lại, chờ đợi cho bài được đọc xong.
He heard Nanda's Mother reciting, and stood waiting for her to finish.
AN 7.53:6.10 (TTC 2)
Yadidaṁ, bhante, dāne puññañca puññamahī ca taṁ vessavaṇassa mahārājassa sukhāya hotū"ti.
Thưa Tôn giả, mong rằng mọi công đức của buổi cúng dường này sẽ đem lại an lạc cho đại vương Vessavana!
And so, sir, may the merit and the flourishing of merit of this gift be for the happiness of the great king Vessavaṇa.
AN 7.53:8.3–8.5 (TTC 3)
Idha me, bhante, nando nāma ekaputtako piyo manāpo. Taṁ rājāno kismiñcideva pakaraṇe okassa pasayha jīvitā voropesuṁ. Tasmiṁ kho panāhaṁ, bhante, dārake gahite vā gayhamāne vā vadhe vā vajjhamāne vā hate vā haññamāne vā nābhijānāmi cittassa aññathattan"ti.
Ở đây, thưa Tôn giả, Nanda, đứa con độc nhất của con, khả ái, khả ý, vì một lý do gì đó, bị các vua dùng sức mạnh bắt giữ và đoạn mạng sống. Thưa Tôn giả, trong khi đứa trẻ bị bắt giữ hay đang bị bắt giữ, khi bị trói hay đang bị trói, khi bị giết hay đang bị giết, con rõ biết tâm của con không có đổi khác.
I had an only son named Nanda who I loved dearly. The rulers forcibly abducted him on some pretext and had him executed. But I can't recall getting upset when my boy was under arrest or being arrested, imprisoned or being put in prison, killed or being killed.
AN 7.53:8.6–8.7 (TTC 4)
"Acchariyaṁ, nandamāte, abbhutaṁ nandamāte. Yatra hi nāma cittuppādampi parisodhessasī"ti.
Thật vi diệu thay, Mẹ của Nanda! Thật hy hữu thay, Mẹ của Nanda! Bà đã có thể làm cho tâm khởi thanh tịnh như vậy.
It's incredible, Nanda's Mother, it's amazing that you purify even the arising of a thought.
AN 7.53:10.3 (TTC 5)
Yatohaṁ, bhante, sāmikassa daharasseva daharā ānītā nābhijānāmi sāmikaṁ manasāpi aticaritā, kuto pana kāyenā"ti.
Thưa Tôn giả, khi còn là thiếu nữ, được đưa đến cho chồng con, con rõ biết con không có một tâm vi phạm đối với chồng con, huống nữa là về thân!
Ever since we were both young, and I was given in marriage to my husband, I can't recall betraying him even in thought, still less in deed.
AN 7.53:11.3 (TTC 6)
Yadāhaṁ, bhante, upāsikā paṭidesitā nābhijānāmi kiñci sikkhāpadaṁ sañcicca vītikkamitā"ti.
Thưa Tôn giả, khi con tự chấp nhận là một nữ cư sĩ, con rõ biết con chưa từng vi phạm một học pháp nào.
Ever since I declared myself a lay follower, I can't recall deliberately breaking any precept.
AN 7.53:13.3 (TTC 8)
Yānimāni, bhante, bhagavatā desitāni pañcorambhāgiyāni saṁyojanāni nāhaṁ tesaṁ kiñci attani appahīnaṁ samanupassāmī"ti.
Ở đây, thưa Tôn giả, năm hạ phần kiết sử được Thế Tôn thuyết giảng, con thấy rõ không còn pháp nào ở nơi con chưa được đoạn tận.
Of the five lower fetters taught by the Buddha, I don't see any that I haven't given up.
Chữ PāliNghĩaGhi chú
NandamātāMẹ của NandaNữ cư sĩ Velukantakì (Veḷukaṇṭakī), trú ở Velukantaka; được Ðức Phật nêu là mẫu mực cho nữ cư sĩ.
PārāyanaCon đường đưa đến bờ bên kiaBản dịch HT. Minh Châu ghi chú ngay trong kinh: "Pàràyana (Con đường đưa đến bờ bên kia)". Ðây là phẩm bà tụng trước rạng đông.
Vessavaṇa mahārājāÐại vương Vessavana (Tỳ-sa-môn)Một trong Tứ Ðại Thiên Vương, cai quản phương Bắc.
upāsikānữ cư sĩ
ātitheyyaquà tặng đón khách
dakkhiṇā / dakkhiṇaṁ ādisativật cúng dường / hồi hướng phần cúng dường
acchariya, abbhutavi diệu, hy hữu
cittassa aññathattatâm có đổi khácBà lặp lại: "con rõ biết tâm của con không có đổi khác" (nābhijānāmi cittassa aññathattaṁ).
cittuppādatâm khởiTrong câu tán thán: "làm cho tâm khởi thanh tịnh" (cittuppādampi parisodhessasi).
yakkhayonisanh loại Dạ-xoa
sikkhāpadahọc pháp, giới điều
jhānaThiền (sơ Thiền đến Thiền thứ tư)
pañcorambhāgiyāni saṁyojanāninăm hạ phần kiết sửÐoạn tận năm hạ phần kiết sử tức là bậc Bất Lai (Anāgāmī).
MahāyaññavaggaPhẩm Ðại Tế ÐànPhẩm V của Chương Bảy Pháp; AN 7.53 là kinh thứ mười, kết thúc phẩm.

Xin thưa đây là một trong những bài kinh con thích nhất đã dựng, vì nhân vật chính là một NGƯỜI TẠI GIA, và là một người phụ nữ.

bác với anh chị em đã gặp bà rồiở trang AN 6.37, bài Bố Thí Sáu Chi Phần: chính bà là người cúng dường mà Thế Tôn thấy bằng thiên nhãn và nêu làm mẫu cho chúng Tăng.

Chuyện mở đầu rất đời thường: bà dậy TRƯỚC KHI MẶT TRỜI MỌCđọc LỚN TIẾNG bài “Pàràyana”Con đường đưa đến bờ bên kia, phẩm cuối của Kinh Tập.

Đại vương Vessavana — một vị Thiên vươngđang đi ngang từ phương Bắc xuống phương Nam, nghe tiếng tụng liền ĐỨNG LẠI, chờ cho bà tụng XONG BÀI mới lên tiếng.

Xin thưa con thấy chi tiết ấy đẹp lạ: vị Thiên vương KHÔNG ngắt lời bà. Ngài đợi.

Rồi hai bên trao nhau “quà đón khách”: bà tặng vị Thiên vương BÀI PHÁP vừa tụng; vị Thiên vương báo trước rằng NGÀY MAI chúng Tăng do hai Tôn giả cầm đầu sẽ đến, và xin bà hồi hướng phần cúng dường ấy cho mình.

Bà làm đúng như vậy, và nguyện: “mong rằng mọi công đức của buổi cúng dường này sẽ đem lại AN LẠC cho đại vương Vessavana!”

Phần chính của kinh là cuộc đối đáp sau bữa ngọ trai, và lối đối đáp ấy mới hay.

Mỗi lần Tôn giả Sāriputta thốt lên “Thật vi diệu thay! Thật hy hữu thay!”, bà không nhận lời khenđáp rằng nơi bà CÒN MỘT ĐIỀU HY HỮU KHÁC NỮA.

Lần lượt bà kể BẢY điều. Một: nói chuyện MẶT ĐỐI MẶT với một vị Thiên tử đại uy lực.

Hai: đứa con trai ĐỘC NHẤT, khả ái khả ý — Nanda — “bị các vua dùng sức mạnh bắt giữ và ĐOẠN MẠNG SỐNG”; bà “rõ biết tâm mình KHÔNG CÓ ĐỔI KHÁC”.

Xin thưa chỗ này phải đọc cho thật đúng chữ. Kinh KHÔNG nói bà không thương con. Kinh gọi Nanda là “ĐỘC NHẤT, KHẢ ÁI, KHẢ Ý”tức nói rõ đứa con ấy quý tới mức nào.

Và kinh không tả tâm trạng bà một chữ nào. Kinh ghi lại LỜI BÀ TỰ NÓI về tâm mình: “con rõ biết tâm con không có đổi khác.” Chúng con không dám đoán thêm chỗ kinh không nói.

Ba: người chồng mệnh chung, sanh làm Dạ-xoa, HIỆN VỀ trước mặt bà “với tự ngã như lúc trước”tâm bà cũng không đổi khác.

Bốn: từ khi còn là thiếu nữ được đưa đến cho chồng, bà rõ biết “không có một TÂM vi phạm đối với chồng, huống nữa là về THÂN.”

Năm: từ khi tự chấp nhận là một NỮ CƯ SĨ, bà rõ biết “chưa từng vi phạm MỘT HỌC PHÁP NÀO.”

Sáu: muốn lúc nào là chứng và an trú được CẢ BỐN THIỀN.

Bảy: trong NĂM HẠ PHẦN KIẾT SỬ Thế Tôn dạy, bà “thấy rõ KHÔNG CÒN pháp nào nơi con chưa được đoạn tận”tức bà là bậc BẤT LAI.

Xin thưa bảy điều ấy xếp rất khéo: bắt đầu bằng chuyện lạ bên ngoài (gặp Thiên tử), rồi tới chỗ đau nhất của một người mẹ, rồi tới nếp sống hằng ngày, và sau cùng mới tới quả chứng.

bà kể quả chứng SAU CÙNG, chỉ khi được hỏi tớigiống hệt ông Hatthaka trong AN 8.23, người không muốn thiện pháp của mình được người khác biết.

Xin thưa lời cuối cho anh chị em Huynh Trưởng. Con nghĩ bài này rất nên dạy, vì các em ít khi thấy một NGƯỜI TẠI GIA được kinh tán thán tới mức này.

không xuất gia, có chồng có con, lo việc nhà, lo cúng dường — mà chứng Bất Laivào bốn Thiền tuỳ ý.

Nhưng xin dặn kỹ về ĐIỀU THỨ HAI. ĐỪNG dạy thành “thương con thì phải dửng dưng khi con mất”. Kinh KHÔNG nói thế, và dạy vậy là tàn nhẫn với những người đang có tang.

Xin đọc kèm AN 5.50 — bài Nhổ Lên Mũi Tên Sầu Muộn — nơi Tôn giả Nārada KHÔNG hề nói “đừng buồn” với ông vua đang ôm thi thể hoàng hậu. Hai bài đi với nhau thì mới đủ.

Xin thưa về cách kiểm: mỗi ô “pali”“anh” đã đối chiếu tự động với tệp nguồn, mỗi ô tiếng Việt với bản dịch của Hoà thượng — 16 ô Pāli/Anh và 8 ô tiếng Việt đều đúng nguyên văn, không ô nào phải sửa, và lượt soi cũng không tìm ra lỗi nào ở bài này.

  • “Bà không thương con nên không buồn.” Kinh gọi Nanda là “ĐỘC NHẤT, khả ái, khả ý”, và KHÔNG tả tâm trạng bà một chữ nào — chỉ ghi lời bà tự nói: “tâm con không có đổi khác.”
  • “Vậy người có tang thì không được khóc.” Xin đọc AN 5.50: Tôn giả Nārada KHÔNG nói “đừng buồn” với người đang đau.
  • “Phải xuất gia mới chứng được.” Bà là NỮ CƯ SĨ TẠI GIA, có chồng có con, mà đoạn tận năm hạ phần kiết sử.
  • “Bà khoe quả chứng.” Bà kể SAU CÙNGchỉ khi được hỏi tới; mỗi lần được khen, bà không nhận lời khen mà nói còn điều khác.
  • “Thiên vương ban ơn cho bà.” Kinh ghi hai bên TRAO NHAU quà đón khách; bà tặng BÀI PHÁP, và hồi hướng công đức cho vị ấy.
  • “Bà chỉ giỏi cúng dường.” Trong bảy điều có giữ trọn học pháp, bốn Thiền tuỳ ý, và quả Bất Lai.
  • Ngành Oanh. Chỉ kể cảnh mở đầu: “bà cụ tụng kinh sớm quá hay, tới ông trời đi ngang cũng đứng lại nghe cho hết bài.”
  • Ngành Thiếu. Học vài điều hy hữugiữ trọn học pháp, tặng lại bài pháp làm quà — và ĐỪNG dạy điều thứ hai.
  • Ngành Thanh và Huynh Trưởng. Đọc kèm AN 6.37 và AN 5.50. Bàn: vì sao bà kể quả chứng SAU CÙNG?
  • Bà Velukantakì là ai, và ta đã gặp bà ở bài kinh nào?
  • Vị Thiên vương làm gì khi nghe tiếng bà tụng kinh?
  • Hai bên trao nhau “quà đón khách” là những gì?
  • Kể vài điều trong bảy điều hy hữu.
  • Vì sao phải đọc bài này chung với AN 5.50?

Nguyên văn Pāli chép từ ấn bản Mahāsaṅgīti — tệp dữ liệu gốc bilara-data của suttacentral.net, từng đoạn có đánh số. Bản tiếng Việt của Hoà thượng Thích Minh Châu; bản tiếng Anh của Tỳ-kheo Sujato. Bài này đã qua một lượt soi lại độc lập. Muốn đọc trọn bài kinh, xin xem nguyên văn ba thứ tiếng. Thấy chỗ nào khác ấn bản in, xin báo cho chúng tôi.