G.Đ.P.T Huyền Quang Phật Pháp · Tam Tạng Kinh Điển Tăng Chi Bộ · AN 7.42
Không Đếm Số Năm · Bảy Sự Thù Diệu

Kinh Bảy Sự Thù Diệu (1)

Paṭhamaniddasa Sutta — AN 7.42 · Pāli · Việt · Anh

Tam TạngTạng KinhTrung BộKinh Bảy Sự Thù Diệu (1)

Các du sĩ ngoại đạo bàn rằng ai tu đủ MƯỜI HAI NĂM thì đáng được tán thán. Tôn giả Sāriputta nghe mà “không tùy hỷ, không chỉ trích” — ngài về hỏi Thế Tôn. Và Thế Tôn đáp: KHÔNG thể nêu rõ hoàn toàn do ĐẾM SỐ NĂM.

  • Bộ — Tăng Chi Bộ, Chương Bảy Pháp, Phẩm Chư Thiên (Devatāvagga), kinh 42
  • Nơi chốnSāvatthī, Jetavana, khu vườn ông Anāthapiṇḍika
  • Nhân vậtTôn giả Sāriputtacác du sĩ ngoại đạo
  • Đọc kèmAN 10.24 (thước đo không phải lời tuyên bố) và AN 4.22 (thế nào là trưởng lão)

Kinh này ghi lại một mẩu chuyện rất đời thường mà lại chạm đúng vào một hiểu lầm thường gặp: lấy thâm niên làm thước đo đạo hạnh. Một buổi sáng, Tôn giả Sāriputta đi khất thực ở Sāvatthī nhưng thấy còn quá sớm, nên ghé qua khu vườn của các du sĩ ngoại đạo. Ở đó, các du sĩ đang bàn với nhau rằng: ai sống mười hai năm hành trì Phạm hạnh viên mãn thanh tịnh thì đã đủ để được gọi là bậc đáng tán thán (Pali: niddaso). Nghĩa là họ lấy số năm tu làm tiêu chuẩn. Điều đáng học ở đây trước hết là thái độ của Tôn giả Sāriputta: ngài "không tùy hỷ, không chỉ trích" — không vội khen theo, cũng không vội bác bỏ, mà lặng lẽ đứng dậy ra đi với ý nghĩ sẽ về hỏi cho rõ nơi Thế Tôn. Đây là mẫu mực cho người Huynh trưởng khi gặp một chủ trương lạ: giữ im lặng cao quý, rồi tìm về nguồn giáo pháp mà kiểm chứng. Khi được hỏi, Thế Tôn trả lời dứt khoát: trong Pháp và Luật này, không thể nêu rõ một Tỷ-kheo đáng được tán thán hoàn toàn do đếm số năm. Thay vào đó, Thế Tôn nêu bảy "sự thù diệu" (niddasavatthūni) mà chính Ngài đã tự thân với thắng trí chứng ngộ: tha thiết hành trì học pháp; tha thiết quán pháp; tha thiết nhiếp phục lòng dục; tha thiết Thiền tịnh; tha thiết tinh cần tinh tấn; tha thiết niệm tuệ; tha thiết thể nhập tri kiến. Mỗi điều đều kèm một vế thứ hai rất quan trọng: "và trong tương lai khát vọng" điều ấy — nghĩa là lòng tha thiết ấy không phai nhạt về sau. Kết kinh, Thế Tôn dạy: vị Tỷ-kheo thành tựu bảy sự thù diệu này, dù hành trì Phạm hạnh mười hai năm, hai mươi bốn năm, ba mươi sáu năm hay bốn mươi tám năm, đều vừa đủ để nói là đáng được tán thán. Nói cách khác, phẩm chất bên trong mới là điều làm nên giá trị, còn số năm chỉ là con số.

Bố cục bài kinhTheo đúng thứ tự trong kinh văn

  • 1. Tôn giả Sāriputta ghé khu vườn du sĩ ngoại đạo — Buổi sáng, Tôn giả Sāriputta đắp y cầm bát vào Sāvatthī khất thực, thấy còn quá sớm nên đi đến khu vườn các du sĩ ngoại đạo, chào hỏi thân hữu rồi ngồi xuống một bên.
  • 2. Chủ trương của ngoại đạo: đếm số năm — Các du sĩ đang tụ họp và khởi lên câu chuyện: ai sống mười hai năm hành trì Phạm hạnh viên mãn thanh tịnh thì vừa đủ để gọi là 'Vị Tỷ-kheo đáng được tán thán'.
  • 3. Thái độ không tùy hỷ, không chỉ trích — Tôn giả Sāriputta không tùy hỷ cũng không chỉ trích lời ấy, từ chỗ ngồi đứng dậy ra đi với ý nghĩ sẽ rõ biết ý nghĩa này từ Thế Tôn.
  • 4. Bạch hỏi Thế Tôn — Sau khi khất thực và ăn xong, Tôn giả đến đảnh lễ Thế Tôn, thuật lại đầu đuôi và hỏi: trong Pháp và Luật này, có thể nêu rõ một Tỷ-kheo đáng được tán thán hoàn toàn do đếm số năm chăng?
  • 5. Thế Tôn bác bỏ và nêu bảy sự thù diệu — Thế Tôn dạy không thể nêu rõ hoàn toàn do đếm số năm; rồi nêu bảy sự thù diệu (niddasavatthūni) mà Ngài tự mình với thắng trí chứng ngộ, chứng đạt, an trú và tuyên thuyết: học pháp, quán pháp, nhiếp phục lòng dục, Thiền tịnh, tinh cần tinh tấn, niệm tuệ, thể nhập tri kiến — mỗi điều đều tha thiết trong hiện tại và khát vọng trong tương lai.
  • 6. Kết luận: mười hai, hai mươi bốn, ba mươi sáu, bốn mươi tám năm — Vị Tỷ-kheo thành tựu bảy sự thù diệu này, dù hành trì Phạm hạnh viên mãn thanh tịnh mười hai, hai mươi bốn, ba mươi sáu hay bốn mươi tám năm, đều vừa đủ để nói là 'Vị Tỷ-kheo đáng được tán thán'.

Mỗi đoạn ghi nguyên văn Pāli, rồi bản Việt, rồi bản tiếng Anh. Số bên trái là số đoạn trong kinh, để đối chiếu được.

AN 7.42, đoạn 1 (TTC 1) — an7.42:1.1–1.4
Atha kho āyasmā sāriputto pubbaṇhasamayaṁ nivāsetvā pattacīvaramādāya sāvatthiṁ piṇḍāya pāvisi. Atha kho āyasmato sāriputtassa etadahosi: “atippago kho tāva sāvatthiyaṁ piṇḍāya carituṁ. Yannūnāhaṁ yena aññatitthiyānaṁ paribbājakānaṁ ārāmo tenupasaṅkameyyan”ti.
Một thời, Thế Tôn trú ở Sàvatthì, tại Jetavana, trong khu vườn ông Anathapindika. Bấy giờ Tôn giả Sàriputta vào buổi sáng, đắp y, cầm y bát, đi vào Sàvatthì để khất thực. Tôn giả Sàriputta suy nghĩ như sau: “Thật là quá sớm để đi khất thực ở Sàvatthì, vậy ta hãy đi đến khu vườn của các du sĩ ngoại đạo”.
Then Venerable Sāriputta robed up in the morning and, taking his bowl and robe, entered Sāvatthī for alms. Then it occurred to him, “It’s too early to wander for alms in Sāvatthī. Why don’t I visit the monastery for the wanderers of other religions?”
AN 7.42, đoạn 2 (TTC 2) — an7.42:1.8
“yo hi koci, āvuso, dvādasavassāni paripuṇṇaṁ parisuddhaṁ brahmacariyaṁ carati, ‘niddaso bhikkhū’ti alaṁvacanāyā”ti.
“Này chư Hiền, ai sống mười hai năm hành trì Phạm hạnh viên mãn thanh tịnh, thật là vừa đủ để nói: 'Vị Tỷ-kheo đáng được tán thán'”.
“Reverends, anyone who lives the full and pure spiritual life for twelve years is qualified to be called a ‘graduate mendicant’.”
AN 7.42, đoạn 2 (TTC 2) — an7.42:2.1–2.3
Atha kho āyasmā sāriputto tesaṁ aññatitthiyānaṁ paribbājakānaṁ bhāsitaṁ neva abhinandi nappaṭikkosi. Anabhinanditvā appaṭikkositvā uṭṭhāyāsanā pakkāmi: “bhagavato santike etassa bhāsitassa atthaṁ ājānissāmī”ti.
Rồi Tôn giả Sàriputta không tùy hủy, không chỉ trích lời nói của các du sĩ ngoại đạo ấy; không tùy hỷ, không chỉ trích, từ chỗ ngồi đứng dậy và ra đi với ý nghĩ: “Ta sẽ rõ biết ý nghĩa này từ Thế Tôn”.
Sāriputta neither approved nor rejected that statement of the wanderers of other religions. He rose from his seat, thinking, “I will learn the meaning of this statement from the Buddha himself.”
AN 7.42, đoạn 3 (TTC 3) — an7.42:3.12
Sakkā nu kho, bhante, imasmiṁ dhammavinaye kevalaṁ vassagaṇanamattena niddaso bhikkhu paññāpetun”ti?
Bạch Thế Tôn, trong Pháp và Luật này, có thể nêu rõ một Tỷ-kheo đáng được tán thán, hoàn toàn do đếm số năm chăng?
“Sir, in this teaching and training can we describe a mendicant as a ‘graduate’ solely because they have completed a certain number of years?”
AN 7.42, đoạn 3–4 — an7.42:4.1–5.1
“Na kho, sāriputta, sakkā imasmiṁ dhammavinaye kevalaṁ vassagaṇanamattena niddaso bhikkhu paññāpetuṁ. Satta kho imāni, sāriputta, niddasavatthūni mayā sayaṁ abhiññā sacchikatvā paveditāni. Katamāni satta?
—Này Sàriputta, trong Pháp, và Luật này, không có thể nêu rõ một Tỷ-kheo đáng được tán thán, hoàn toàn do đếm số năm. Bảy sự thù diệu này, này Sàriputta, sau khi với thắng trí, Ta tự chứng ngộ, chứng đạt, an trú, và tuyên thuyết. Thế nào là bảy?
“No, Sāriputta, we cannot. I make known these seven qualifications for graduation after realizing them with my own insight. What seven?
AN 7.42, đoạn 4 (TTC 4) — an7.42:5.2
Idha, sāriputta, bhikkhu sikkhāsamādāne tibbacchando hoti āyatiñca sikkhāsamādāne avigatapemo, dhammanisantiyā tibbacchando hoti āyatiñca dhammanisantiyā avigatapemo, icchāvinaye tibbacchando hoti āyatiñca icchāvinaye avigatapemo, paṭisallāne tibbacchando hoti āyatiñca paṭisallāne avigatapemo, vīriyārambhe tibbacchando hoti āyatiñca vīriyārambhe avigatapemo, satinepakke tibbacchando hoti āyatiñca satinepakke avigatapemo, diṭṭhipaṭivedhe tibbacchando hoti āyatiñca diṭṭhipaṭivedhe avigatapemo.
Ở đây, này Sàriputta, Tỷ-kheo tha thiết hành trì học pháp và trong tương lai khát vọng hành trì học pháp; tha thiết quán pháp và trong tương lai khát vọng quán pháp; tha thiết nhiếp phục lòng dục; và trong tương lai khát vọng nhiếp phục lòng dục, tha thiết Thiền tịnh, trong tương lai khát vọng Thiền tịnh; tha thiết tinh cần tinh tấn và trong tương lai khát vọng tinh cần tinh tấn; tha thiết niệm tuệ và trong tương lai khát vọng niệm tuệ; tha thiết thể nhập tri kiến và trong tương lai khát vọng thể nhập tri kiến.
It’s when a mendicant has a keen enthusiasm to undertake the training … to examine the teachings … to get rid of desires … for retreat … to rouse up energy … for mindfulness and alertness … to penetrate theoretically. And they don’t lose these desires in the future.
AN 7.42, đoạn 4 — an7.42:5.3
Imāni kho, sāriputta, satta niddasavatthūni mayā sayaṁ abhiññā sacchikatvā paveditāni.
Này Sàriputta, bảy thù diệu sự này được Ta tự mình với thắng trí chứng ngộ, chứng đạt, an trú và tuyên thuyết.
These are the seven qualifications for graduation that I make known after realizing them with my own insight.
AN 7.42, đoạn 5 (TTC 5) — an7.42:5.4–5.6
Imehi kho, sāriputta, sattahi niddasavatthūhi samannāgato bhikkhu dvādasa cepi vassāni paripuṇṇaṁ parisuddhaṁ brahmacariyaṁ carati, ‘niddaso bhikkhū’ti alaṁvacanāya; catubbīsati cepi vassāni paripuṇṇaṁ parisuddhaṁ brahmacariyaṁ carati, ‘niddaso bhikkhū’ti alaṁvacanāya; chattiṁsati cepi vassāni paripuṇṇaṁ parisuddhaṁ brahmacariyaṁ carati, ‘niddaso bhikkhū’ti alaṁvacanāya, aṭṭhacattārīsañcepi vassāni paripuṇṇaṁ parisuddhaṁ brahmacariyaṁ carati, ‘niddaso bhikkhū’ti alaṁvacanāyā”ti.
Thành tựu bảy thù diệu sự này, này Sàriputta, Tỷ-kheo, nếu trong mười hai năm hành trì Phạm hạnh viên mãn thanh tịnh, thật là vừa đủ để nói: “Vị Tỷ-kheo đáng được tán thán!”. Nếu trong hai mười bốn năm hành trì Phạm hạnh viên mãn thanh tịnh, thật là vừa đủ để nói: “Vị Tỷ-kheo đáng được tán thán!” Nếu trong ba mươi sáu năm hành trì Phạm hạnh viên mãn thanh tịnh, thật là vừa đủ để nói: “Vị Tỷ-kheo đáng được tán thán!”. Nếu trong bốn mươi tám năm hành trì Phạm hạnh viên mãn thanh tịnh, thật là vừa đủ để nói: “Vị Tỷ-kheo đáng được tán thán!”
A mendicant who has these seven qualifications for graduation is qualified to be called a ‘graduate mendicant’. This is so whether they have lived the full and pure spiritual life for twelve years, twenty-four years, thirty-six years, or forty-eight years.”
Chữ PāliNghĩaGhi chú
niddasaHT. Thích Minh Châu dịch là "đáng được tán thán" (trong cụm "Vị Tỷ-kheo đáng được tán thán"); Bhikkhu Sujato dịch là "graduate".Chữ này là trọng tâm của kinh, cũng là chữ mà ngoại đạo hiểu theo nghĩa đếm số năm.
niddasavatthūni"bảy sự thù diệu" / "bảy thù diệu sự" (bản Việt); "seven qualifications for graduation" (bản Anh).Cũng là tên kinh: Paṭhamaniddasasutta.
brahmacariyaPhạm hạnhTrong kinh: "paripuṇṇaṁ parisuddhaṁ brahmacariyaṁ" — "Phạm hạnh viên mãn thanh tịnh".
aññatitthiyā paribbājakācác du sĩ ngoại đạo
tibbacchanda"tha thiết" (lòng ước muốn mãnh liệt) — bản Anh: "keen enthusiasm"
avigatapemalòng ái mộ không phai nhạt; bản Việt diễn thành "trong tương lai khát vọng...", bản Anh: "they don’t lose these desires in the future"
sikkhāsamādānahành trì học pháp (thọ trì học giới)
dhammanisantiquán pháp
icchāvinayanhiếp phục lòng dục
paṭisallānaThiền tịnh (độc cư tĩnh mặc)
vīriyārambhatinh cần tinh tấn
satinepakkaniệm tuệ
diṭṭhipaṭivedhathể nhập tri kiến
abhiññāthắng trí
vassagaṇanamattachỉ hoàn toàn do đếm số năm (hạ lạp)

Xin thưa bài kinh này có một mẩu chuyện rất đời, và chỗ đáng học đầu tiên KHÔNG phải là giáo lý — mà là THÁI ĐỘ.

Buổi sáng, Tôn giả Sāriputta đắp y cầm bát vào Sāvatthī khất thực, thấy CÒN QUÁ SỚM, nên ghé qua khu vườn các du sĩ ngoại đạo.

Ở đó, các du sĩ đang bàn với nhau: ai sống MƯỜI HAI NĂM hành trì Phạm hạnh viên mãn thanh tịnh thì “vừa đủ để nói: Vị Tỷ-kheo đáng được tán thán.”

Tức là họ lấy SỐ NĂM làm thước đo.

Và đây là chỗ con muốn thưa kỹ: Tôn giả Sāriputta “KHÔNG TÙY HỶ, KHÔNG CHỈ TRÍCH”.

Ngài không vội khen theo, cũng không vội bác bỏ — ngài lặng lẽ từ chỗ ngồi đứng dậy ra đi, với ý nghĩ sẽ về hỏi cho rõ nơi Thế Tôn.

Xin thưa con thấy đó là mẫu mực cho anh chị em Huynh Trưởng khi gặp một chủ trương lạ: giữ im lặng cao quý, rồi tìm về nguồn giáo pháp mà kiểm chứng.

xin để ý ngài KHÔNG cãi ngay tại chỗdù ngài là bậc trí tuệ đệ nhất, dù chuyện ấy rõ ràng là sai.

Khi được hỏi, Thế Tôn trả lời dứt khoát: trong Pháp và Luật này, KHÔNG thể nêu rõ một Tỷ-kheo đáng được tán thán HOÀN TOÀN DO ĐẾM SỐ NĂM.

Thay vào đó, Ngài nêu BẢY SỰ THÙ DIỆU (niddasavatthūni) mà chính Ngài đã tự thân với thắng trí chứng ngộ:

tha thiết HÀNH TRÌ HỌC PHÁP; tha thiết QUÁN PHÁP; tha thiết NHIẾP PHỤC LÒNG DỤC; tha thiết THIỀN TỊNH; tha thiết TINH CẦN TINH TẤN; tha thiết NIỆM TUỆ; tha thiết THỂ NHẬP TRI KIẾN.

mỗi điều đều kèm MỘT VẾ THỨ HAI rất quan trọng: “và TRONG TƯƠNG LAI KHÁT VỌNG” điều ấy — nguyên văn là lòng ái mộ KHÔNG PHAI NHẠT (avigatapema).

Xin thưa vế thứ hai ấy mới là chỗ thay thế cho SỐ NĂM. Ngoại đạo đo bằng thời gian ĐÃ QUA; Thế Tôn đo bằng lòng tha thiết CÒN GIỮ ĐƯỢC QUA THỜI GIAN.

Rồi Ngài kết bằng một câu đưa chính con số của ngoại đạo trở lại: vị thành tựu bảy sự thù diệu này, dù hành trì Phạm hạnh MƯỜI HAI năm, HAI MƯƠI BỐN năm, BA MƯƠI SÁU năm hay BỐN MƯƠI TÁM năm, đều vừa đủ để nói là đáng được tán thán.

Con thấy câu kết ấy rất khéo: Ngài KHÔNG bỏ con số đi — Ngài làm cho con số thôi quyết định. Mười hai năm cũng được, bốn mươi tám năm cũng được — CÁI QUYẾT ĐỊNH nằm ở chỗ khác.

Xin thưa lời cuối cho anh chị em Huynh Trưởng. Con nghĩ bài này rất gần với đời sống đoàn, vì trong đoàn thể nào người ta cũng dễ lấy THÂM NIÊN làm thước.

Kinh không chê người lâu năm — kinh chỉ nói số năm KHÔNG PHẢI là thước.thước thật thì bảy điều, mà điều nào cũng có chữ “THA THIẾT”.

bài này nên đọc kèm AN 10.24: một bài nói thước đo không phải LỜI TUYÊN BỐ, một bài nói thước đo không phải SỐ NĂM. Hai thứ mà người ta hay dùng nhất để đo nhau.

Xin thưa BA việc về trang, và hai trong ba là chỗ chúng con KHÔNG SỬA.

Lượt soi bảo ô Pāli đầu ghi “pāvisi” là sai, phải là “pāvesi”. Chúng con đếm trên chính tệp gốc Mahāsaṅgīti đã tải: “pāvisi” có 2 lần, “pāvesi” 0 lần. Trang chép ĐÚNG nguồn — giữ nguyên.

Lượt soi cũng bảo bản Việt đọc là “hai mươi bốn năm”, còn trang ghi “hai mười bốn năm” là sai. Chúng con tải bản dịch của Hoà thượng đếm lại: bản in ghi “hai mười bốn”, không có chỗ nào ghi “hai mươi bốn”.

Đây là LỖI IN CÓ SẴN trong bản điện tử, và luật của trang là GIỮ NGUYÊN lời Hoà thượng rồi chú thích, KHÔNG tự sửa. Nên chúng con giữ nguyên, và thưa rõ ở đây để bác đọc khỏi thắc mắc: chỗ ấy nghĩa là HAI MƯƠI BỐN năm.

Việc thứ ba: một ô trích được ghi lại biên số thành an7.42:4.1–5.1 cho phủ đúng phần chép — không sửa một chữ nào trong ô.mọi ô Pāli/Anh đều đã được đối chiếu TỰ ĐỘNG với tệp nguồn: 16 ô đều đúng nguyên văn.

  • “Tu lâu năm thì đạo cao.” Thế Tôn nói KHÔNG thể nêu rõ HOÀN TOÀN DO ĐẾM SỐ NĂM. Thước là bảy sự thù diệu.
  • “Vậy số năm là vô nghĩa.” Câu kết đưa chính các con số trở lại — mười hai, hai mươi bốn, ba mươi sáu, bốn mươi tám — Ngài làm cho con số thôi QUYẾT ĐỊNH, chứ không bỏ đi.
  • “Tôn giả Sāriputta đồng ý với ngoại đạo vì không phản đối.” Kinh ghi rõ: “KHÔNG TÙY HỶ, KHÔNG CHỈ TRÍCH”rồi về hỏi Thế Tôn.
  • “Bảy sự thù diệu là bảy quả chứng.” Mỗi điều đều mở bằng chữ THA THIẾT (tibbacchanda) và kèm vế “trong tương lai khát vọng”nói về LÒNG, và lòng ấy KHÔNG PHAI.
  • “Trang ghi ‘hai mười bốn năm’ là gõ sai.” Bản in của Hoà thượng ghi đúng như vậy; trang giữ nguyên và chú thíchnghĩa là HAI MƯƠI BỐN năm.
  • “Ghé khu vườn ngoại đạo là không nên.” Kinh chỉ tả: Tôn giả thấy còn quá sớm nên ghé, chào hỏi thân hữu rồi ngồi xuống một bênkhông một lời chê.
  • Ngành Oanh. Chỉ kể thái độ của Tôn giả: “ngài không khen theo, cũng không cãi — ngài đi hỏi Thầy.”
  • Ngành Thiếu. Học câu “không thể đếm số năm”vài điều trong bảy sự thù diệu.
  • Ngành Thanh và Huynh Trưởng. Đọc kèm AN 10.24. Bàn: vì sao vế “trong tương lai khát vọng” lại thay được cho số năm?
  • Các du sĩ ngoại đạo lấy gì làm thước đo?
  • Tôn giả Sāriputta phản ứng ra sao?
  • Thế Tôn trả lời thế nào?
  • Bảy sự thù diệu — kể vài điều.
  • Vế thứ hai của mỗi điều nói gì, và vì sao quan trọng?

Nguyên văn Pāli chép từ ấn bản Mahāsaṅgīti — tệp dữ liệu gốc bilara-data của suttacentral.net, từng đoạn có đánh số. Bản tiếng Việt của Hoà thượng Thích Minh Châu; bản tiếng Anh của Tỳ-kheo Sujato. Bài này đã qua một lượt soi lại độc lập. Lượt soi ấy chỉ ra 2 chỗ cần xem lại; chỗ nào là lỗi thật thì chúng tôi đã sửa và ghi rõ ở Phần IV. Muốn đọc trọn bài kinh, xin xem nguyên văn ba thứ tiếng. Thấy chỗ nào khác ấn bản in, xin báo cho chúng tôi.