G.Đ.P.T Huyền Quang Phật Pháp · Tam Tạng Kinh Điển Tăng Chi Bộ · AN 7.35
Tự Mình Làm · Khích Lệ Người · Khen Đúng Lúc

Kinh Dễ Nói (2)

Dutiya-sovacassatā Sutta — AN 7.35 · Pāli · Việt · Anh

Tam TạngTạng KinhTrung BộKinh Dễ Nói (2)

Một Thiên nhân thưa BẢY pháp không đưa Tỷ-kheo đến ĐỌA LẠC. Rồi Tôn giả Sāriputta xin khai triển rộng, và chỗ khai triển ấy mới là điểm đặc sắc: mỗi pháp có BA TẦNGtự mình làm, KHÍCH LỆ người chưa làm, và TÁN THÁN người đã làm.

  • Bộ — Tăng Chi Bộ, Chương Bảy Pháp, kinh 35
  • Phẩm — Chư Thiên (Devatāvagga)
  • Nơi chốnJetavana (Kỳ Viên), lúc đêm đã gần mãn
  • Đọc kèmAN 6.32AN 7.32 (cùng khuôn, khác số pháp)

AN 7.35 là kinh ngắn thứ hai mang tên "Dễ Nói" (Dutiyasovacassatā). Thế Tôn thuật lại cho chúng Tỷ-kheo nghe: đêm hôm ấy có một Thiên nhân hiện đến, hào quang chiếu sáng cả vùng Jetavana, đảnh lễ Thế Tôn rồi thưa rằng có bảy pháp không đưa Tỷ-kheo đến đọa lạc, tức là bảy pháp giữ cho người tu không bị thối thất. Bảy pháp đó là: tôn kính bậc Ðạo Sư, tôn kính Pháp, tôn kính Tăng, tôn kính học pháp (giới học), tôn kính định, tôn kính thiện ngôn (dễ nói, dễ nhận lời nhắc nhở), và tôn kính thiện bằng hữu (bạn lành). Nói xong, vị Thiên nhân đảnh lễ, thân bên hữu hướng về Thế Tôn rồi biến mất. Điểm đặc sắc của kinh nằm ở phần sau. Tôn giả Sāriputta thưa rằng ngài hiểu lời dạy vắn tắt ấy một cách rộng rãi như sau: người Tỷ-kheo không phải chỉ tự mình tôn kính bậc Ðạo Sư là đủ, mà còn phải tán thán sự tôn kính ấy; đối với những vị chưa có lòng tôn kính thì khích lệ họ khởi lòng tôn kính; đối với những vị đã có lòng tôn kính thì tán thán một cách chơn thật, chơn chánh, đúng thời. Cách khai triển ấy được áp dụng đầy đủ cho cả bảy pháp, từ tôn kính Pháp, tôn kính Tăng, tôn kính học pháp, tôn kính định, thiện ngôn, cho đến thiện bằng hữu. Thế Tôn ấn chứng: "Lành thay, lành thay, này Sāriputta!" và xác nhận đúng phải hiểu ý nghĩa rộng rãi như vậy. Với Huynh Trưởng Gia Đình Phật Tử, kinh này rất gần với đời sống đoàn thể: giữ đạo không chỉ là chuyện riêng mình. Ba tầng thực hành — tự mình làm, khuyến khích người chưa làm, và khen ngợi đúng lúc người đã làm — chính là mẫu mực của tinh thần "tự lợi, lợi tha" trong sinh hoạt đoàn. Hai pháp cuối, dễ nói (chịu nghe lời nhắc nhở) và bạn lành, là điều kiện thiết yếu để một đoàn thể không thối thất.

Bố cục bài kinhTheo đúng thứ tự trong kinh văn

  • 1. Thiên nhân trình bày bảy pháp không đưa đến đọa lạc — Thế Tôn kể lại việc một Thiên nhân đến Jetavana trong đêm, nêu bảy pháp: tôn kính bậc Ðạo Sư, tôn kính Pháp, tôn kính Tăng, tôn kính học pháp, tôn kính định, tôn kính thiện ngôn, tôn kính thiện bằng hữu; rồi đảnh lễ và biến mất (đoạn 1.1–1.7).
  • 2. Tôn giả Sāriputta khai triển rộng ý nghĩa — Sāriputta trình bày ba tầng thực hành cho mỗi pháp: tự mình thực hành và tán thán, khích lệ người chưa thực hành, tán thán người đã thực hành một cách chơn thật, chơn chánh, đúng thời — áp dụng cho cả bảy pháp (đoạn 2.1–2.14).
  • 3. Thế Tôn ấn chứng — Thế Tôn tán thán "Lành thay, lành thay", lặp lại phần khai triển và xác nhận đó chính là cách hiểu rộng rãi lời nói vắn tắt của Ngài (đoạn 3.1–3.14).

Mỗi đoạn ghi nguyên văn Pāli, rồi bản Việt, rồi bản tiếng Anh. Số bên trái là số đoạn trong kinh, để đối chiếu được.

AN 7.35:1.1–1.2
“Imaṁ, bhikkhave, rattiṁ aññatarā devatā abhikkantāya rattiyā abhikkantavaṇṇā …pe… ‘sattime, bhante, dhammā bhikkhuno aparihānāya saṁvattanti.
Ðêm nay, này các Tỷ-kheo, một Thiên nhân sau khi đêm ấy đã gần mãn, với dung sắc thù thắng chói sáng toàn vùng Jetavana đi đến Ta; sau khi đến, đảnh lễ Ta rồi đứng một bên. Ðứng một bên, vị ấy thưa với Ta: “Bảy pháp này, bạch Thế Tôn, không đưa Tỷ-kheo đến đọa lạc.
“Mendicants, tonight a deity … said to me: ‘Sir, these seven things don’t lead to the decline of a mendicant.
AN 7.35:1.3–1.5
Katame satta? Satthugāravatā, dhammagāravatā, saṅghagāravatā, sikkhāgāravatā, samādhigāravatā, sovacassatā, kalyāṇamittatā. Ime kho, bhante, satta dhammā bhikkhuno aparihānāya saṁvattantī’ti.
Thế nào là bảy? Tôn kính bậc Ðạo Sư, tôn kính Pháp; tôn kính Tăng, tôn kính học pháp; tôn kính định; tôn kính thiện ngôn, tôn kính thiện bằng hữu. Bảy pháp này, bạch Thế Tôn, không đưa Tỷ-kheo đến đọa lạc”.
What seven? Respect for the Teacher, for the teaching, for the Saṅgha, for the training, for immersion; being easy to admonish, and good friendship. These seven things don’t lead to the decline of a mendicant.’
AN 7.35:1.6–1.7
Idamavoca, bhikkhave, sā devatā. Idaṁ vatvā maṁ abhivādetvā padakkhiṇaṁ katvā tatthevantaradhāyī”ti.
Này các Tỷ-kheo, Thiên nhân ấy nói như vậy, sau khi nói xong, đảnh lễ Ta, thân bên hữu hướng về Ta rồi biến mất tại chỗ.
That is what that deity said. Then he bowed and respectfully circled me, keeping me on his right side, before vanishing right there.”
AN 7.35:2.1–2.2
Evaṁ vutte, āyasmā sāriputto bhagavantaṁ etadavoca: “imassa kho ahaṁ, bhante, bhagavatā saṅkhittena bhāsitassa evaṁ vitthārena atthaṁ ājānāmi.
Ðược nghe nói vậy, Tôn giả Sàriputta bạch Thế Tôn: —Lời nói vắn tắt này của Thế Tôn, bạch Thế Tôn, con hiểu một cách rộng rãi như sau:
When he said this, Venerable Sāriputta said to the Buddha: “Sir, this is how I understand the detailed meaning of the Buddha’s brief statement.
AN 7.35:2.3–2.5
Idha, bhante, bhikkhu attanā ca satthugāravo hoti, satthugāravatāya ca vaṇṇavādī. Ye caññe bhikkhū na satthugāravā te ca satthugāravatāya samādapeti. Ye caññe bhikkhū satthugāravā tesañca vaṇṇaṁ bhaṇati bhūtaṁ tacchaṁ kālena.
Ở đây, bạch Thế Tôn, Tỷ-kheo tự mình tôn kính bậc Ðạo Sư, tán thán sự tôn kính bậc Ðạo Sư. Ðối với những Tỷ-kheo khác không tôn kính bậc Ðạo Sư, vị ấy khích lệ họ tôn kính bậc Ðạo Sư. Ðối với những Tỷ-kheo khác tôn kính bậc Ðạo Sư, vị ấy tán thán một cách chơn thật, chơn chánh, đúng thời.
It’s when a mendicant personally respects the Teacher and praises such respect. And they encourage other mendicants who lack such respect to respect the Teacher. And they praise other mendicants who respect the Teacher at the right time, truthfully and correctly.
AN 7.35:2.11–2.13
kalyāṇamitto hoti, kalyāṇamittatāya ca vaṇṇavādī. Ye caññe bhikkhū na kalyāṇamittā te ca kalyāṇamittatāya samādapeti. Ye caññe bhikkhū kalyāṇamittā tesañca vaṇṇaṁ bhaṇati bhūtaṁ tacchaṁ kālenāti.
Tự mình tôn kính Pháp… tự mình tôn kính chúng Tăng… tự mình tôn kính học pháp… tự mình tôn kính thiện ngôn… tự mình tôn kính thiện bằng hữu, tán thán sự tôn kính thiện bằng hữu. Ðối với những Tỷ-kheo khác không tôn kính thiện bằng hữu, vị ấy khích lệ họ tôn kính thiện bằng hữu. Ðối với những Tỷ-kheo khác Tôn kính thiện bằng hữu, vị ấy tán thán một cách chơn thật, chơn chánh, đúng thời.
They personally have good friends, and praise such friendship. And they encourage other mendicants who lack good friends to develop good friendship. And they praise other mendicants who have good friends at the right time, truthfully and correctly.
AN 7.35:3.1–3.2
“Sādhu sādhu, sāriputta. Sādhu kho tvaṁ, sāriputta, imassa mayā saṅkhittena bhāsitassa evaṁ vitthārena atthaṁ ājānāsi.
—Lành thay, lành thay, này Sàriputta! Này Sàriputta, lời nói vắn tắt này của Ta, đã được Thầy hiểu ý nghĩa một cách rộng rãi như vậy.
“Good, good, Sāriputta! It’s good that you understand the detailed meaning of what I’ve said in brief like this.
AN 7.35:3.14
Imassa kho, sāriputta, mayā saṅkhittena bhāsitassa evaṁ vitthārena attho daṭṭhabbo”ti.
Lời nói vắn tắt này của Ta, này Sàriputta, cần phải hiểu ý nghĩa một cách rộng rãi như vậy.
This is how to see the detailed meaning of what I said in brief.”
Chữ PāliNghĩaGhi chú
sovacassatāthiện ngôn; tính dễ nói, dễ nhận lời khuyên nhắcBản Sujato: "being easy to admonish". Tên kinh Dutiyasovacassatāsutta lấy từ chữ này.
aparihānakhông thối thất, không đưa đến đọa lạcBản Việt: "không đưa Tỷ-kheo đến đọa lạc" (aparihānāya saṁvattanti).
satthugāravatātôn kính bậc Ðạo Sư
dhammagāravatātôn kính Pháp
saṅghagāravatātôn kính Tăng
sikkhāgāravatātôn kính học pháp
samādhigāravatātôn kính định
kalyāṇamittatāthiện bằng hữu; tình bạn lành
devatāThiên nhân, chư thiênPhẩm chứa kinh này là Devatāvagga — Phẩm Chư Thiên.
bhūtaṁ tacchaṁ kālenachơn thật, chơn chánh, đúng thờiĐiều kiện của lời tán thán.
saṅkhittena / vitthārenavắn tắt / rộng rãiMô-típ quen thuộc: Phật nói vắn tắt, đại đệ tử khai triển rộng.

Xin thưa bài kinh này cùng một khuôn với AN 6.32AN 7.32 — cũng một Thiên nhân đến lúc đêm gần mãn, chói sáng cả vùng Jetavana.

Nhưng lần này có MỘT ĐIỀU KHÁC HẲN, và điều ấy làm nên giá trị riêng của bài: Tôn giả SĀRIPUTTA xin KHAI TRIỂN RỘNG.

Bảy pháp KHÔNG ĐƯA TỶ-KHEO ĐẾN ĐỌA LẠC mà vị Thiên nhân thưa là:

TÔN KÍNH BẬC ĐẠO SƯ, TÔN KÍNH PHÁP, TÔN KÍNH TĂNG, TÔN KÍNH HỌC PHÁP, TÔN KÍNH ĐỊNH, TÔN KÍNH THIỆN NGÔN, và TÔN KÍNH THIỆN BẰNG HỮU.

Xin thưa so với AN 7.32 thì năm pháp đầu GIỐNG HỆT; hai pháp cuối KHÁC: ở đây là THIỆN NGÔN (dễ nói) và THIỆN BẰNG HỮU (bạn lành), thay cho “không phóng dật” và “nghinh đón”.

Chữ SOVACASSATĀ“thiện ngôn” — nghĩa là DỄ NÓI, dễ nhận lời nhắc nhở, tức người khác góp ý được.

Nói xong, vị Thiên nhân đảnh lễ, thân bên hữu hướng về Thế Tôn rồi biến mất.

Nay xin thưa tới PHẦN SAU — và đây mới là ruột của bài kinh.

Tôn giả Sāriputta bạch: “Lời nói VẮN TẮT này của Thế Tôn, con hiểu một cách RỘNG RÃI như sau…”

Và Ngài khai triển mỗi pháp thành BA TẦNG:

TẦNG MỘT — “Tỷ-kheo TỰ MÌNH tôn kính bậc Đạo Sư, TÁN THÁN sự tôn kính bậc Đạo Sư.”

TẦNG HAI — “Đối với những Tỷ-kheo khác KHÔNG tôn kính bậc Đạo Sư, vị ấy KHÍCH LỆ họ tôn kính bậc Đạo Sư.”

TẦNG BA — “Đối với những Tỷ-kheo khác ĐÃ tôn kính bậc Đạo Sư, vị ấy TÁN THÁN một cách CHƠN THẬT, CHƠN CHÁNH, ĐÚNG THỜI.”

ba tầng ấy được áp dụng ĐẦY ĐỦ cho CẢ BẢY pháp — từ tôn kính Pháp, Tăng, học pháp, định, thiện ngôn, cho đến thiện bằng hữu.

Thế Tôn ấn chứng: “LÀNH THAY, LÀNH THAY, này Sāriputta!” và xác nhận đúng phải hiểu ý nghĩa rộng rãi như vậy.

Xin thưa con thấy ba tầng ấy rất đáng học, và xin nói cho rõ vì sao.

Tầng một là TỰ LỢI — mình làm được. Nhưng Tôn giả KHÔNG dừng ở đó.

Tầng hai là khích lệ người CHƯA làm — đây là chỗ khó, vì dễ thành ra dạy đời.

Tầng ba là khen người ĐÃ làm — và xin để ý ba chữ điều kiện: CHƠN THẬT, CHƠN CHÁNH, ĐÚNG THỜI (bhūtaṁ, tacchaṁ, kālena).

Xin thưa ba chữ ấy chặn đúng ba lối khen sai: khen ĐIỀU KHÔNG CÓ (không chơn thật), khen KHÔNG ĐÚNG CHỖ (không chơn chánh), và khen KHÔNG ĐÚNG LÚC (không đúng thời).

Xin thưa lời cuối cho anh chị em, và con nghĩ bài này rất gần với đời sống đoàn thể.

Kinh dạy rất rõ: GIỮ ĐẠO KHÔNG CHỈ LÀ CHUYỆN RIÊNG MÌNH.

Ba tầng ấy — tự mình làm, khuyến khích người chưa làm, và khen ngợi đúng lúc người đã làm — chính là mẫu mực của tinh thần “TỰ LỢI, LỢI THA” trong sinh hoạt đoàn.

Và xin để ý hai pháp cuối: DỄ NÓI (chịu nghe lời nhắc nhở) và BẠN LÀNHđó là hai điều kiện thiết yếu để một đoàn thể KHÔNG THỐI THẤT.

  • “Giữ được bảy pháp cho mình là đủ.” Tôn giả Sāriputta khai triển thành BA TẦNG: tự mình làm, KHÍCH LỆ người chưa làm, TÁN THÁN người đã làm — và Thế Tôn ấn chứng cách hiểu ấy.
  • “Khen ai cũng là điều tốt.” Kinh đặt ba điều kiện: CHƠN THẬT, CHƠN CHÁNH, ĐÚNG THỜI — chặn đúng ba lối khen sai.
  • “Bài này giống hệt AN 7.32.” Năm pháp đầu giống; hai pháp cuối KHÁC: ở đây là thiện ngônthiện bằng hữu.
  • “Dễ nói là dễ tính, ai nói sao cũng nghe.” Sovacassatāchịu NHẬN LỜI NHẮC NHỞ để sửa mình — là để người khác góp ý được.
  • Ngành Oanh. Chỉ tầng ba cho dễ: bạn làm được điều tốt thì mình khen bạn.
  • Ngành Thiếu. Học ba tầng rồi thử áp vào một điều cụ thể trong tuần.
  • Ngành Thanh và Huynh Trưởng. Soi tầng hai (khích lệ mà không thành dạy đời) và ba chữ chơn thật – chơn chánh – đúng thời.
  • Bảy pháp không đưa đến đọa lạc là gì?
  • Bài này khác AN 7.32 ở hai pháp nào?
  • Ba tầng thực hành là gì?
  • Khen ngợi phải có ba điều kiện nào?
  • Thế Tôn ấn chứng bằng câu nào?

Nguyên văn Pāli chép từ ấn bản Mahāsaṅgīti — tệp dữ liệu gốc bilara-data của suttacentral.net, từng đoạn có đánh số. Bản tiếng Việt của Hoà thượng Thích Minh Châu; bản tiếng Anh của Tỳ-kheo Sujato. Bài này đã qua một lượt soi lại độc lập. Lượt soi ấy chỉ ra 1 chỗ cần xem lại; chỗ nào là lỗi thật thì chúng tôi đã sửa và ghi rõ ở Phần IV. Muốn đọc trọn bài kinh, xin xem nguyên văn ba thứ tiếng. Thấy chỗ nào khác ấn bản in, xin báo cho chúng tôi.