G.Đ.P.T Huyền Quang Phật Pháp · Tam Tạng Kinh Điển Tăng Chi Bộ · AN 7.21
Bảy Pháp Không Suy Giảm · Giữ Cho Một Tập Thể Bền

Kinh Tại Sārandada

Sārandada Sutta — AN 7.21 · Pāli · Việt · Anh

Tam TạngTạng KinhTrung BộKinh Tại Sārandada

BẢY PHÁP KHÔNG LÀM CHO SUY GIẢM, Thế Tôn dạy cho người Licchavī tại điện thờ Sārandada — họp mặt đều đặn, hoà hợp, giữ nội quy, kính bậc trưởng thượng, giữ phẩm hạnh, gìn nơi thờ tự, hộ trì người tu hành.

  • Bộ — Tăng Chi Bộ, Chương Bảy Pháp, kinh 21
  • Phẩm — Vajjī (Vajjisattakavagga)
  • Nơi chốn — giữa dân chúng Vajjī, tại điện thờ Sārandada
  • Đọc kèmDN 16 (Đại Bát Niết Bàn, cùng bảy pháp ấy)

Kinh Sārandada (AN 7.21) ghi lại lời Thế Tôn dạy cho nhiều người Licchavì tại điện thờ Sàrandada, xứ Vajjì. Ngài nói: "Này các Licchavì, Ta sẽ giảng cho các Ông bảy pháp không làm cho suy giảm", rồi lần lượt nêu bảy điều. Một là dân Vajjì thường hay tụ họp và tụ họp đông đảo. Hai là tụ họp trong niệm đoàn kết, giải tán trong niệm đoàn kết, và làm việc trong niệm đoàn kết. Ba là không ban hành những luật lệ không được ban hành, không hủy bỏ những luật lệ đã được ban hành, sống đúng với truyền thống của dân Vajjì như đã ban hành thuở xưa. Bốn là tôn sùng, kính trọng, đảnh lễ, cúng dường các bậc trưởng lão Vajjì và nghe theo lời dạy của những vị này. Năm là không bắt cóc và cưỡng ép những phụ nữ, và thiếu nữ Vajjì phải sống với mình. Sáu là tôn sùng, kính trọng, đảnh lễ, cúng dường các tự miếu của Vajjì ở tỉnh thành và ngoài tỉnh thành, không bỏ phế các cúng lễ đã cúng từ trước đúng với quy pháp. Bảy là bảo hộ, che chở, ủng hộ đúng pháp các vị A-la-hán, khiến các vị chưa đến sẽ đến trong xứ và các vị đã đến được sống an lạc. Sau mỗi pháp, Thế Tôn đều lặp lại câu điệp khúc: "dân Vajjì sẽ được lớn mạnh, không bị suy giảm" (vuddhiyeva… pāṭikaṅkhā, no parihāni). Cuối kinh, Ngài kết luận: chừng nào bảy pháp này còn tồn tại giữa dân Vajjì và dân Vajjì còn được thấy sống theo bảy pháp ấy, thì họ còn lớn mạnh, không bị suy giảm. Với Huynh trưởng Gia Đình Phật Tử, bài kinh này thường được dẫn như bảy nguyên tắc giữ cho một tập thể bền vững: họp mặt đều đặn, hòa hợp, tôn trọng nội quy truyền thống, kính trọng bậc trưởng thượng, giữ gìn phẩm hạnh, gìn giữ nơi thờ tự và hộ trì người tu hành.

Bố cục bài kinhTheo đúng thứ tự trong kinh văn

  • 1. Duyên khởi — Thế Tôn trú giữa dân chúng Vajjì, tại điện thờ Sàrandada; nhiều người Licchavì đến đảnh lễ và ngồi xuống một bên. Thế Tôn hứa khả sẽ giảng bảy pháp không làm cho suy giảm; các vị Licchavì vâng đáp.
  • 2. Bảy pháp không làm cho suy giảm — Thế Tôn nêu câu hỏi "thế nào là bảy pháp không làm cho suy giảm?" rồi lần lượt trình bày bảy điều: (1) thường hay tụ họp và tụ họp đông đảo; (2) tụ họp, giải tán và làm việc trong niệm đoàn kết; (3) không ban hành luật lệ chưa được ban hành, không hủy bỏ luật lệ đã ban hành, sống đúng truyền thống thuở xưa; (4) tôn kính cúng dường và nghe theo lời các bậc trưởng lão Vajjì; (5) không bắt cóc cưỡng ép phụ nữ, thiếu nữ; (6) tôn kính cúng dường các tự miếu trong và ngoài tỉnh thành, không bỏ phế các cúng lễ đúng quy pháp; (7) bảo hộ, che chở, ủng hộ đúng pháp các vị A-la-hán. Mỗi điều đều kết bằng câu "dân Vajjì sẽ được lớn mạnh, không bị suy giảm".
  • 3. Lời kết — Chừng nào bảy pháp không làm suy giảm này còn tồn tại giữa dân Vajjì, và dân Vajjì còn được thấy sống giữa bảy pháp ấy, thời dân Vajjì sẽ được lớn mạnh, không bị suy giảm.

Mỗi đoạn ghi nguyên văn Pāli, rồi bản Việt, rồi bản tiếng Anh. Số bên trái là số đoạn trong kinh, để đối chiếu được.

AN 7.21:1.2
ekaṁ samayaṁ bhagavā vesāliyaṁ viharati sārandade cetiye.
Một thời, Thế Tôn trú ở giữa dân chúng Vajjì, tại điện thờ Sàrandada.
At one time the Buddha was staying near Vesālī, at the Sārandada Shrine.
AN 7.21:1.4-1.5
"satta vo, licchavī, aparihāniye dhamme desessāmi. Taṁ suṇātha, sādhukaṁ manasi karotha, bhāsissāmī"ti.
—Này các Licchavì, Ta sẽ giảng cho các Ông bảy pháp không làm cho suy giảm, Hãy lắng nghe và suy nghiệm kỹ, Ta sẽ giảng.
"Licchavis, I will teach you these seven principles that prevent decline. Listen and apply your mind well, I will speak."
AN 7.21:2.2-2.3
Yāvakīvañca, licchavī, vajjī abhiṇhaṁ sannipātā bhavissanti sannipātabahulā; vuddhiyeva, licchavī, vajjīnaṁ pāṭikaṅkhā, no parihāni.
Này các Licchavì, khi nào dân Vajjì thường hay tụ họp, và tụ họp đông đảo với nhau, thời này các Licchavì, dân Vajjì sẽ được lớn mạnh, không bị suy giảm.
As long as the Vajjis meet frequently and have many meetings, they can expect growth, not decline.
AN 7.21:3.1-3.2
Yāvakīvañca, licchavī, vajjī samaggā sannipatissanti, samaggā vuṭṭhahissanti, samaggā vajjikaraṇīyāni karissanti; vuddhiyeva, licchavī, vajjīnaṁ pāṭikaṅkhā, no parihāni.
Này các Licchavì, khi nào dân Vajjì tụ họp trong niệm đoàn kết, giải tán trong niệm đoàn kết, và làm việc trong niệm đoàn kết, này các Licchavì, dân Vajjì được lớn mạnh, không bị suy giảm.
As long as the Vajjis meet in harmony, leave in harmony, and carry on their business in harmony, they can expect growth, not decline.
AN 7.21:4.1-4.2
Yāvakīvañca, licchavī, vajjī apaññattaṁ na paññāpessanti, paññattaṁ na samucchindissanti, yathāpaññatte porāṇe vajjidhamme samādāya vattissanti; vuddhiyeva, licchavī, vajjīnaṁ pāṭikaṅkhā, no parihāni.
Này các Licchavì, khi nào dân chúng Vajji không ban hành những luật lệ không được ban hành, không hủy bỏ những luật lệ đã được ban hành, sống đúng với truyền thống của dân Vajjì như đã ban hành thuở xưa, thời này các Licchavì, dân Vajjì sẽ được lớn mạnh, không bị suy giảm.
As long as the Vajjis don't make new decrees or abolish existing decrees, but proceed having undertaken the ancient Vajjian principles as they have been decreed, they can expect growth, not decline.
AN 7.21:5.1-5.2
Yāvakīvañca, licchavī, vajjī ye te vajjīnaṁ vajjimahallakā te sakkarissanti garuṁ karissanti mānessanti pūjessanti, tesañca sotabbaṁ maññissanti; vuddhiyeva, licchavī, vajjīnaṁ pāṭikaṅkhā, no parihāni.
Này các Licchavì, khi nào dân chúng Vajjì tôn sùng, kính trọng, đảnh lễ, cúng dường các bậc trưởng lão Vajjì và nghe theo lời dạy của những vị này, thời dân Vajjì sẽ được lớn mạnh, không bị suy giảm.
As long as the Vajjis honor, respect, esteem, and venerate Vajjian elders, and think them worth listening to, they can expect growth, not decline.
AN 7.21:8.1-8.3
Yāvakīvañca, licchavī, vajjīnaṁ arahantesu dhammikā rakkhāvaraṇagutti susaṁvihitā bhavissati: 'kinti anāgatā ca arahanto vijitaṁ āgaccheyyuṁ, āgatā ca arahanto vijite phāsuṁ vihareyyun'ti; vuddhiyeva, licchavī, vajjīnaṁ pāṭikaṅkhā, no parihāni.
Này các Licchavì, khi nào dân Vajjì bảo hộ, che chở, ủng hộ đúng pháp các vị A-la-hán ở tại Vajjì, khi các vị A-la-hán chưa đến sẽ đến trong xứ, và những vị A-la-hán đã đến được sống an lạc, thời này các Licchavì, dân Vajjì sẽ được lớn mạnh, không bị suy giảm.
As long as the Vajjis organize proper protection, shelter, and security for perfected ones, so that more perfected ones might come to the realm and those already here may live in comfort, they can expect growth, not decline.
AN 7.21:9.1-9.2
Yāvakīvañca, licchavī, ime satta aparihāniyā dhammā vajjīsu ṭhassanti, imesu ca sattasu aparihāniyesu dhammesu vajjī sandississanti; vuddhiyeva, licchavī, vajjīnaṁ pāṭikaṅkhā, no parihānī"ti.
Và này các Licchavì, cho đến khi nào bảy pháp không làm suy giảm này được tồn tại giữa dân Vajjì, khi nào dân chúng Vajjì sẽ được thấy giữa bảy pháp không làm suy giảm này, thời này các Licchavì, dân Vajjì sẽ được lớn mạnh, không bị suy giảm.
As long as these seven principles that prevent decline last among the Vajjis, and as long as the Vajjis are seen following them, they can expect growth, not decline.
Chữ PāliNghĩaGhi chú
aparihāniyā dhammāBảy pháp không làm cho suy giảmBản Anh của Sujato: "principles that prevent decline".
parihāniSuy giảm, thối thất
vuddhiLớn mạnh, tăng trưởng
pāṭikaṅkhāĐiều có thể chờ đợi, có thể mong đợi (sẽ xảy đến)
samaggaHòa hợp, đoàn kếtHT. Minh Châu dịch "trong niệm đoàn kết".
sannipātaSự tụ họp, hội họp
vajjimahallakāCác bậc trưởng lão của dân Vajjì
cetiyaĐiện thờ, tự miếuSārandada cetiya: điện thờ Sàrandada.
arahantA-la-hán, bậc đã hoàn toàn giải thoát
licchavīNgười Licchavì, một tộc trong liên bang Vajjì
dhammikā rakkhāvaraṇaguttiSự bảo hộ, che chở, ủng hộ đúng pháp

Xin thưa bảy pháp này rất quen — anh chị em đã gặp trong Kinh Đại Bát Niết Bàn (DN 16). Ở đây Thế Tôn dạy thẳng cho người Licchavī, tức dạy cho NGƯỜI ĐỜI về việc giữ một TẬP THỂ.

MỘT — thường hay TỤ HỌP, và tụ họp ĐÔNG ĐẢO.

Xin thưa điều thứ nhất mà đơn giản vậy thôi: gặp nhau đều, và gặp cho đủ mặt. Một đoàn bắt đầu rã KHÔNG phải từ lúc cãi nhau — mà từ lúc THƯA DẦN NGƯỜI ĐI HỌP.

HAI — “tụ họp trong NIỆM ĐOÀN KẾT, giải tán trong NIỆM ĐOÀN KẾT, và LÀM VIỆC trong niệm đoàn kết”.

Xin để ý BA vế: lúc HỌP, lúc TAN, và lúc LÀM. Hoà lúc họp thì dễ; hoà lúc TAN mới khóvì lúc tan là lúc người ta nói với nhau ngoài cửa.

BA — “KHÔNG ban hành những luật lệ KHÔNG được ban hành, KHÔNG hủy bỏ những luật lệ ĐÃ được ban hành, sống đúng với TRUYỀN THỐNG… như đã ban hành thuở xưa”.

BỐN — tôn kính, cúng dường các bậc TRƯỞNG LÃO, và NGHE THEO lời dạy của những vị này.

Xin thưa vế “NGHE THEO” mới là chỗ nặng: kính mà không nghe thì chưa đủ.

NĂM — “KHÔNG bắt cóc và cưỡng ép những phụ nữ, và thiếu nữ VAJJĪ phải sống với mình”.

Xin thưa chữ “VAJJĪ” ở đây không thừa: kinh đang nói về cách người trong một nước đối xử với người CỦA CHÍNH NƯỚC MÌNHgiữ phẩm hạnh NGAY TRONG NHÀ.

SÁU — tôn kính, cúng dường các TỰ MIẾU ở trong và ngoài tỉnh thành, KHÔNG bỏ phế các cúng lễ đã cúng từ trước.

BẢY — “BẢO HỘ, CHE CHỞ, ỦNG HỘ ĐÚNG PHÁP các vị A-la-hán”, khiến vị chưa đến SẼ ĐẾN trong xứ, và vị đã đến ĐƯỢC SỐNG AN LẠC.

Xin thưa điều thứ bảy có hai vế rất khéo: “vị chưa đến sẽ đến”“vị đã đến được sống an lạc”một vế nhìn tới trước, một vế giữ cái đang có.

sau MỖI pháp, Thế Tôn đều lặp lại đúng một câu: “dân Vajjī sẽ được LỚN MẠNH, KHÔNG BỊ SUY GIẢM”.

Xin thưa lời cuối cho anh chị em Huynh Trưởng. Bài này hợp nhất để đọc trong buổi họp đầu năm của Ban Huynh Trưởng — vì bảy pháp ấy đọc ra gần như là một bản nội quy.

Và xin để ý chỗ kết: Thế Tôn nói “cho đến khi nào bảy pháp này còn TỒN TẠI… và dân chúng còn ĐƯỢC THẤY sống theo bảy pháp ấy”. KHÔNG phải chỉ CÓ nội quy là đủ — phải THẤY người ta sống theo.

Xin thưa một ghi nhận về trang, không dám sửa thầm. Câu tóm lược pháp thứ năm lúc đầu ghi “…những phụ nữ, thiếu nữ phải sống với mình”, tức BỎ MẤT chữ “Vajjì”. Nguyên văn của Hoà thượng là “…những phụ nữ, và thiếu nữ VAJJÌ phải sống với mình”. Chúng con đã tải lại bản Minh Châu, đọc tận nơi rồi chép cho khớp — vì chữ ấy không thừa: nó cho thấy kinh đang nói về người CỦA CHÍNH NƯỚC MÌNH.

  • “Bảy pháp này chỉ dành cho chúng Tăng.” Ở đây Thế Tôn dạy thẳng cho người Licchavītức người đời, về việc giữ một tập thể.
  • “Hoà hợp là đừng cãi nhau.” Kinh nêu BA vế: hoà lúc HỌP, lúc TAN, và lúc LÀM VIỆC.
  • “Kính bậc trưởng thượng là đủ.” Kinh thêm vế “và NGHE THEO lời dạy của những vị này”.
  • “Điều thứ năm là chuyện xưa, nay không còn.” Chữ “Vajjī” cho thấy đây là cách đối xử với NGƯỜI TRONG NHÀ mìnhchuyện nào thời cũng có.
  • “Có nội quy là tập thể bền.” Kinh kết: phải còn TỒN TẠIcòn ĐƯỢC THẤY sống theokhông phải chỉ chép ra giấy.
  • Ngành Oanh. Chỉ dạy hai điều đầu: đi họp cho đều, và hoà thuận với nhau.
  • Ngành Thiếu. Học đủ bảy, và đối chiếu với nội quy của đoàn mình.
  • Ngành Thanh và Huynh Trưởng. Đọc trong buổi họp đầu năm. Bàn: hoà lúc TAN họp khó ở chỗ nào?“được thấy sống theo” nghĩa là gì?
  • Thế Tôn dạy bảy pháp này cho ai?
  • Pháp thứ hai có mấy vế?
  • Pháp thứ tư đòi thêm điều gì ngoài sự tôn kính?
  • Pháp thứ bảy có hai vế nào?
  • Câu kết của kinh đòi hỏi điều gì?

Nguyên văn Pāli chép từ ấn bản Mahāsaṅgīti — tệp dữ liệu gốc bilara-data của suttacentral.net, từng đoạn có đánh số. Bản tiếng Việt của Hoà thượng Thích Minh Châu; bản tiếng Anh của Tỳ-kheo Sujato. Bài này đã qua một lượt soi lại độc lập. Lượt soi ấy chỉ ra 1 chỗ cần xem lại; chỗ nào là lỗi thật thì chúng tôi đã sửa và ghi rõ ở Phần IV. Muốn đọc trọn bài kinh, xin xem nguyên văn ba thứ tiếng. Thấy chỗ nào khác ấn bản in, xin báo cho chúng tôi.