G.Đ.P.T Huyền Quang Phật Pháp · Tam Tạng Kinh Điển Tăng Chi Bộ · AN 7.6
Bảy Thứ Của Cải Không Ai Lấy Được

Kinh Các Tài Sản (Rộng Thuyết)

Vitthatadhana Sutta — AN 7.6 · Pāli · Việt · Anh

Tam TạngTạng KinhTrung BộKinh Các Tài Sản (Rộng Thuyết)

Đức Phật kể ra BẢY thứ “tài sản” — và không thứ nào là tiền bạc: tín, giới, tàm, quý, văn, thí, tuệ. Bài kệ cuối nói rất dứt khoát: ai có bảy thứ ấy, dù là nữ nhân hay nam nhân, đều “không nghèo khổ”, và mạng sống không trống rỗng.

  • Bộ — Tăng Chi Bộ, Chương Bảy Pháp, kinh 6
  • Phẩm — Tài Sản (Dhanavagga)
  • “Rộng thuyết” — vì AN 7.5 chỉ KỂ TÊN, còn bài này định nghĩa từng thứ
  • Bản Việt — Hoà thượng Thích Minh Châu

Kinh "Các Tài Sản Rộng Thuyết" (Vitthatadhanasutta) nằm trong Phẩm Tài Sản (Dhanavagga), chương Bảy Pháp của Tăng Chi Bộ. Đây là bài kinh rất ngắn, Đức Phật gọi các Tỷ-kheo và dạy về bảy thứ tài sản của bậc Thánh đệ tử: tín tài, giới tài, tàm tài, quý tài, văn tài, thí tài và tuệ tài. Kinh này gọi là "rộng thuyết" vì so với bài kinh liền trước (AN 7.5, chỉ kể tên bảy tài sản), ở đây Đức Phật định nghĩa rõ từng thứ một. Tín tài là lòng tin nơi sự giác ngộ của Như Lai. Giới tài là giữ năm giới: từ bỏ sát sanh cho đến từ bỏ rượu men rượu nấu. Tàm tài là biết xấu hổ với thân làm ác, miệng nói ác, ý nghĩ ác. Quý tài là biết sợ hãi với các việc ác bất thiện ấy. Văn tài là nghe nhiều, giữ gìn, tụng đọc và quán sát những lời dạy sơ thiện, trung thiện, hậu thiện. Thí tài là sống với tâm lìa cấu uế xan tham, bàn tay rộng mở, ưa thích san sẻ. Tuệ tài là trí tuệ về sanh diệt, đưa đến chơn chánh đoạn diệt khổ đau. Kinh kết thúc bằng bài kệ: ai có bảy tài sản này, dù là nữ nhân hay nam nhân, đều được gọi là người không nghèo khổ, mạng sống không trống rỗng. Với Gia Đình Phật Tử, bài kinh này rất thiết thực: nó nói rằng cái giàu thật sự của một người không nằm ở tiền bạc mà ở tín, giới, tàm, quý, văn, thí, tuệ — bảy điều mà đoàn sinh nào cũng có thể tập mỗi ngày. Đặc biệt câu kệ nhấn mạnh nam nữ bình đẳng trong việc gom góp bảy tài sản này.

Bố cục bài kinhTheo đúng thứ tự trong kinh văn

  • 1. Nêu bảy tài sản — Đức Phật nêu có bảy tài sản và kể tên: tín tài, giới tài, tàm tài, quý tài, văn tài, thí tài, tuệ tài (đoạn 1.1–1.3).
  • 2. Định nghĩa tín tài — Thánh đệ tử có lòng tin nơi sự giác ngộ của Như Lai (đoạn 2.1–2.4).
  • 3. Định nghĩa giới tài — Thánh đệ tử từ bỏ sát sanh… cho đến từ bỏ đắm say rượu men rượu nấu (đoạn 3.1–3.3).
  • 4. Định nghĩa tàm tài — Thánh đệ tử có xấu hổ đối với thân, miệng, ý làm ác và với các pháp ác bất thiện (đoạn 4.1–4.3).
  • 5. Định nghĩa quý tài — Thánh đệ tử có lòng sợ hãi đối với thân, miệng, ý làm ác và với các pháp ác bất thiện (đoạn 5.1–5.3).
  • 6. Định nghĩa văn tài — Thánh đệ tử nghe nhiều, gìn giữ, chất chứa những gì đã nghe, tụng đọc, quán sát, khéo thành tựu nhờ chánh kiến (đoạn 6.1–6.3).
  • 7. Định nghĩa thí tài — Thánh đệ tử sống tại gia với tâm từ bỏ cấu uế xan tham, bàn tay rộng mở, ưa thích san sẻ (đoạn 7.1–7.3).
  • 8. Định nghĩa tuệ tài — Thánh đệ tử có trí tuệ về sanh diệt, đưa đến chơn chánh đoạn diệt khổ đau (đoạn 8.1–8.3).
  • 9. Kết luận và ba bài kệ — Đức Phật kết: đây gọi là bảy tài sản (9.1); rồi ba bài kệ kể lại bảy tài sản, khẳng định ai có thì không nghèo khổ, và khuyên bậc trí chuyên chú tín, giới, tịnh tín, thấy pháp (đoạn 10.1–12.4).

Mỗi đoạn ghi nguyên văn Pāli, rồi bản Việt, rồi bản tiếng Anh. Số bên trái là số đoạn trong kinh, để đối chiếu được.

AN 7.6:1.1–1.3
“Sattimāni, bhikkhave, dhanāni. Katamāni satta? Saddhādhanaṁ, sīladhanaṁ, hirīdhanaṁ, ottappadhanaṁ, sutadhanaṁ, cāgadhanaṁ, paññādhanaṁ.
—Này các Tỷ-kheo, có bảy tài sản này. Thế nào là bảy? Tín tài, giới tài, tàm tài, quý tài, văn tài, thí tài, tuệ tài.
“Mendicants, there are these seven kinds of wealth. What seven? The wealth of faith, ethics, conscience, prudence, learning, generosity, and wisdom.
AN 7.6:2.2–2.4
Idha, bhikkhave, ariyasāvako saddho hoti, saddahati tathāgatassa bodhiṁ: ‘itipi so bhagavā arahaṁ sammāsambuddho …pe… buddho bhagavā’ti. Idaṁ vuccati, bhikkhave, saddhādhanaṁ.
Ở đây, này các Tỷ-kheo, Thánh đệ tử có lòng tin, tin tưởng ở sự giác ngộ của Như Lai: "Ðây là Thế Tôn, bậc A-la-hán… Phật, Thế Tôn". Này các Tỷ-kheo, đây gọi là tín tài.
It’s when a noble disciple has faith in the Realized One’s awakening … This is called the wealth of faith.
AN 7.6:3.2–3.3
Idha, bhikkhave, ariyasāvako pāṇātipātā paṭivirato hoti …pe… surāmerayamajjapamādaṭṭhānā paṭivirato hoti. Idaṁ vuccati, bhikkhave, sīladhanaṁ.
Ở đây, này các Tỷ-kheo, Thánh đệ tử từ bỏ sát sanh… từ bỏ đắm say rượu men rượu nấu. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là giới tài.
It’s when a noble disciple doesn’t kill living creatures, steal, commit sexual misconduct, use speech that’s false, backbiting, harsh, or nonsensical, or consume intoxicants of beer, wine, and liquor. This is called the wealth of ethical conduct.
AN 7.6:4.2–4.3
Idha, bhikkhave, ariyasāvako hirīmā hoti, hirīyati kāyaduccaritena vacīduccaritena manoduccaritena, hirīyati pāpakānaṁ akusalānaṁ dhammānaṁ samāpattiyā. Idaṁ vuccati, bhikkhave, hirīdhanaṁ.
Ở đây, này các Tỷ-kheo, Thánh đệ tử có xấu hổ, xấu hổ đối với thân làm ác, miệng nói ác, ý nghĩ ác, xấu hổ vì đã thành tựu các pháp ác, bất thiện. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là tàm tài.
It’s when a noble disciple has a conscience. They’re conscientious about bad conduct by way of body, speech, and mind, and conscientious about having any bad, unskillful qualities. This is called the wealth of conscience.
AN 7.6:6.2–6.3
Idha, bhikkhave, ariyasāvako bahussuto hoti sutadharo sutasannicayo. Ye te dhammā ādikalyāṇā majjhekalyāṇā pariyosānakalyāṇā sātthaṁ sabyañjanaṁ kevalaparipuṇṇaṁ parisuddhaṁ brahmacariyaṁ abhivadanti. Tathārūpāssa dhammā bahussutā honti dhātā vacasā paricitā manasānupekkhitā diṭṭhiyā suppaṭividdhā. Idaṁ vuccati, bhikkhave, sutadhanaṁ.
Ở đây, này các Tỷ-kheo, Thánh đệ tử nghe nhiều, gìn giữ những gì đã nghe, chất chứa những gì đã nghe, những pháp ấy, sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, nghĩa văn đầy đủ, đề cao đời sống Phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ thanh tịnh; những pháp ấy, vị ấy nghe nhiều, đã nắm giữ, đã ghi nhớ tụng đọc nhiều lần, chuyên ý quán sát, khéo thành tựu nhờ chánh kiến. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là văn tài.
It’s when a noble disciple is very learned, remembering and keeping what they’ve learned. These teachings are good in the beginning, good in the middle, and good in the end, meaningful and well-phrased, describing a spiritual practice that’s entirely full and pure. They are very learned in such teachings, remembering them, rehearsing them, mentally scrutinizing them, and penetrating them theoretically. This is called the wealth of learning.
AN 7.6:7.2–7.3
Idha, bhikkhave, ariyasāvako vigatamalamaccherena cetasā agāraṁ ajjhāvasati muttacāgo payatapāṇi vosaggarato yācayogo dānasaṁvibhāgarato. Idaṁ vuccati, bhikkhave, cāgadhanaṁ.
Ở đây, này các Tỷ-kheo, Thánh đệ tử với tâm từ bỏ cấu uế của xan tham, sống tại gia phóng xả, với bàn tay rộng mở, ưa thích xả bỏ, sẵn sàng để được yêu cầu, ưa thích san sẻ vật bố thí. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là thí tài.
It’s when a noble disciple lives at home with heart rid of the stain of stinginess, freely generous, open-handed, loving to let go, committed to charity, loving to give and to share. This is called the wealth of generosity.
AN 7.6:8.2–8.3
Idha, bhikkhave, ariyasāvako paññavā hoti …pe… sammā dukkhakkhayagāminiyā. Idaṁ vuccati, bhikkhave, paññādhanaṁ.
Ở đây, này các Tỷ-kheo, Thánh đệ tử có trí tuệ, có trí tuệ về sanh diệt, thành tựu Thánh thể nhập (quyết trạch) đưa đến chơn chánh đoạn diệt khổ đau. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là tuệ tài.
It’s when a noble disciple is wise. They have the wisdom of arising and passing away which is noble, penetrative, and leads to the complete ending of suffering. This is called the wealth of wisdom.
AN 7.6:10.1–12.4 (kệ)
Saddhādhanaṁ sīladhanaṁ,
hirī ottappiyaṁ dhanaṁ;
Sutadhanañca cāgo ca,
paññā ve sattamaṁ dhanaṁ.

Yassa ete dhanā atthi,
itthiyā purisassa vā;
Adaliddoti taṁ āhu,
amoghaṁ tassa jīvitaṁ.

Tasmā saddhañca sīlañca,
pasādaṁ dhammadassanaṁ;
Anuyuñjetha medhāvī,
saraṁ buddhāna sāsanan”ti.
Tín tài và giới tài,
Tàm tài và quý tài,
Văn tài và thí tài,
Và tuệ, tài thứ bảy;
Ai có những tài này,
Nữ nhân hay nam nhân,
Ðược gọi không nghèo khổ,
Mạng sống không trống rỗng,
Do vậy tín và giới,
Tịnh tín và thấy pháp,
Bậc trí chuyên chú tâm,
Ức niệm lời Phật dạy.
Faith and ethical conduct are kinds of wealth, as are conscience and prudence, learning and generosity, and wisdom is the seventh kind of wealth. When a woman or man has these kinds of wealth, they’re said to be prosperous, their life is not in vain. So let the wise devote themselves to faith, ethical behavior, confidence, and insight into the teaching, remembering the instructions of the Buddhas.
Chữ PāliNghĩaGhi chú
dhanatài sảnỞ đây chỉ tài sản tinh thần của bậc Thánh, không phải của cải thế gian.
saddhādhanatín tài — tài sản là lòng tin
sīladhanagiới tài — tài sản là giới hạnh
hirītàm — xấu hổ với điều áchirīdhana: tàm tài.
ottappaquý — sợ hãi (ghê sợ) điều ácottappadhana: quý tài. Tàm và quý thường đi đôi.
sutadhanavăn tài — tài sản là nghe nhiều, học rộng
cāgadhanathí tài — tài sản là bố thí, xả thí
paññādhanatuệ tài — tài sản là trí tuệ
ariyasāvakaThánh đệ tử
maccheraxan tham, keo kiệtTrong kinh: vigatamalamacchera — tâm đã lìa cấu uế của xan tham.
adaliddokhông nghèo khổTrong bài kệ: ai có bảy tài sản thì được gọi là không nghèo.
dukkhakkhayagāminīđưa đến đoạn diệt khổ đau
vitthatarộng thuyết, nói rộng raTên kinh Vitthatadhanasutta, phân biệt với AN 7.5 (Saṁkhittadhanasutta — lược thuyết).

Xin thưa ngay chỗ hay của bài kinh này: Đức Phật dùng đúng chữ “TÀI SẢN”. Ngài không nói “bảy đức tính”, không nói “bảy điều nên tu” — Ngài nói bảy thứ CỦA CẢI (dhana).

Và cách gọi ấy có chủ ý. Của cải là thứ mình GOM GÓP được, giữ được, mang theo được. Ngài mượn đúng cái khung mà người đời quen nghĩ — rồi đổ vào đó một nội dung khác.

Bảy thứ ấy là: TÍN tài, GIỚI tài, TÀM tài, QUÝ tài, VĂN tài, THÍ tài, TUỆ tài.

Và bài này gọi là “rộng thuyết” vì có định nghĩa từng thứ. Bài liền trước (AN 7.5) chỉ kể tên. Xin đi qua từng thứ một, vì mỗi định nghĩa đều rất cụ thể.

TÍN TÀIlòng tin nơi sự giác ngộ của Như Lai. Xin để ý: không phải tin chung chung, mà tin vào MỘT việc cụ thể: rằng đã có người đi tới nơi.

GIỚI TÀIgiữ năm giới: từ bỏ sát sanh cho đến từ bỏ đắm say rượu men rượu nấu.

Xin thưa chỗ này rất đáng nói với đoàn sinh. Kinh gọi việc giữ giới là một thứ CỦA CẢIkhông phải một sự mất mát. Ta thường nghĩ giữ giới là bị cấm cái này cái kia. Bài kinh nói ngược lại: mỗi giới giữ được là một món GOM THÊM VÀO.

TÀM TÀIbiết XẤU HỔ với thân làm ác, miệng nói ác, ý nghĩ ác. QUÝ TÀIbiết SỢ HÃI với chính những điều ác ấy.

Xin phân biệt hai chữ này cho rõ, vì chúng luôn đi đôi mà khác nhau. TÀM là hổ thẹn với CHÍNH MÌNHlàm điều ấy thì mình không chịu nổi mình. QUÝ là ngại với NGƯỜI và với HẬU QUẢ. Một cái nhìn vào trong, một cái nhìn ra ngoài.

Và kinh gọi hai thứ ấy là TÀI SẢN, nghĩa là mất chúng là NGHÈO ĐI. Người không còn biết hổ thẹn thì không phải là người được tự do — mà là người đã mất một món của.

VĂN TÀInghe nhiều, GÌN GIỮ những gì đã nghe, CHẤT CHỨA những gì đã nghe, rồi tụng đọc nhiều lần, chuyên ý quán sát, khéo thành tựu nhờ chánh kiến.

Xin để ý chuỗi động tác ấy, vì nó cho thấy “nghe nhiều” chưa phải là văn tài. Phải NGHEGIỮTỤNG ĐỌCQUÁN SÁT. Nghe rồi để đó thì chưa gom được gì.

THÍ TÀIsống với tâm lìa cấu uế xan tham, BÀN TAY RỘNG MỞ, ưa thích san sẻ.

Xin dừng ở chỗ nghịch lý rất đẹp này. Trong sáu thứ kia, gom vào thì giàu thêm. Riêng THÍ TÀI thì CHO ĐI mới là gom. Đây là món của cải duy nhất mà tiêu ra thì nhiều lên.

Và xin để ý kinh nói rõ “sống TẠI GIA” ở mục này — nghĩa là bảy tài sản này không phải chuyện riêng của người xuất gia.

TUỆ TÀItrí tuệ về SANH DIỆT, đưa đến chơn chánh đoạn diệt khổ đau.

Xin thưa định nghĩa ấy rất chặt. Kinh không gọi mọi thứ hiểu biết là tuệ tài. Nó nêu một nội dung riêng (thấy cái gì cũng sanh rồi diệt) và một hướng đi riêng (đưa tới hết khổ). Hiểu biết mà không đi về hướng ấy thì là thứ khác.

Và bài kệ cuối là chỗ con muốn bác để ý nhất. Ai có bảy tài sản này, “dù là NỮ NHÂN hay NAM NHÂN”, đều được gọi là người KHÔNG NGHÈO KHỔ, và mạng sống KHÔNG TRỐNG RỖNG.

Xin thưa vì sao câu “dù là nữ nhân hay nam nhân” đáng nhắc. Trong xã hội thời ấy, tài sản thật là thứ người nữ thường không được đứng tên. Bài kinh nói thẳng rằng bảy thứ của cải này thì KHÔNG PHÂN BIỆTai gom cũng được, và gom được là của mình.

Xin thưa lời cuối cho anh chị em. Bài kinh này con nghĩ rất nên dạy cho các em ngành Thiếu, ở đúng cái tuổi các em bắt đầu so bì nhau về nhà cửa, quần áo, điện thoại. Nó không bảo các em rằng tiền bạc là xấu. Nó chỉ kể thêm bảy thứ nữa cũng gọi là của cảibảy thứ mà không ai lấy đi được, và không cháy, không mất.

  • “Kinh chê người có tiền.” Bài kinh không nói một câu nào về tiền bạc. Nó chỉ kể thêm bảy thứ cũng gọi là tài sản.
  • “Tàm và quý là một.” TÀM là hổ thẹn với CHÍNH MÌNH; QUÝ là ngại với NGƯỜI và HẬU QUẢ. Kinh tách thành hai món riêng.
  • “Văn tài là biết nhiều.” Định nghĩa trong kinh là nghe → gìn giữ → tụng đọc → quán sát. Nghe rồi để đó thì chưa gom được gì.
  • Ngành Oanh. Hỏi các em: “Có thứ gì quý mà trộm không lấy được không?” rồi kể bảy tài sản bằng lời giản dị.
  • Ngành Thiếu. Cho các em tự chấm bảy món: món nào mình đang có nhiều nhất, món nào ít nhất?
  • Ngành Thanh và Huynh Trưởng. Bàn về THÍ TÀImón duy nhất tiêu ra thì nhiều lên: vì sao lại như vậy?
  • Bảy tài sản là bảy thứ nào?
  • Tàm khác quý ở chỗ nào?
  • Vì sao thí tài là món đặc biệt?
  • Bài kệ cuối nói gì về nữ nhân và nam nhân?

Nguyên văn Pāli chép từ ấn bản Mahāsaṅgīti — tệp dữ liệu gốc bilara-data của suttacentral.net, từng đoạn có đánh số. Bản tiếng Việt của Hoà thượng Thích Minh Châu; bản tiếng Anh của Tỳ-kheo Sujato. Bài này đã qua một lượt soi lại độc lập. Muốn đọc trọn bài kinh, xin xem nguyên văn ba thứ tiếng. Thấy chỗ nào khác ấn bản in, xin báo cho chúng tôi.