G.Đ.P.T Huyền Quang Phật Pháp · Tam Tạng Kinh Điển Tăng Chi Bộ · AN 6.58
Sáu Cách Đối Trị Phiền Não · Một Bảng Kiểm Cho Mỗi Ngày

Kinh Các Lậu Hoặc

Āsavasutta — AN 6.58 · Pāli · Việt · Anh

Tam TạngTạng KinhTrung BộKinh Các Lậu Hoặc

SÁU cách đoạn trừ lậu hoặc: phòng hộ, thọ dụng, kham nhẫn, tránh né, trừ diệt, tu tập. Mỗi cách theo cùng một khuôn: không làm thì “lậu hoặc tàn hại và nhiệt não CÓ THỂ khởi lên”; làm thì “không còn nữa”.

  • Bộ — Tăng Chi Bộ, Chương Sáu Pháp, Đại Phẩm (Mahāvagga), kinh 58
  • Nơi chốnkinh KHÔNG nêu; Thế Tôn gọi thẳng “này các Tỷ-kheo”
  • Bài song hànhMN 2 (Kinh Nhất Thiết Lậu Hoặc)BẢY cách; bài này rút còn SÁU, bỏ vế “do tri kiến”
  • Đọc kèmAN 6.63AN 4.14 (bốn tinh cần)

Kinh Các Lậu Hoặc (Āsavasutta) là bài kinh ngắn trong Tăng Chi Bộ, Chương Sáu Pháp. Đức Phật dạy: một vị Tỷ-kheo thành tựu sáu pháp thì "đáng được cung kính, đáng được tôn trọng, đáng được cúng dường, đáng được chắp tay, là phước điền vô thượng ở đời". Sáu pháp ấy là sáu cách đoạn trừ các lậu hoặc (āsava) — tức những phiền não rỉ chảy làm tâm ô nhiễm. Sáu cách đó là: (1) do phòng hộ — giữ gìn sáu căn mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý; (2) do thọ dụng — dùng y phục, thức ăn khất thực, sàng tọa và thuốc men với sự "chơn chánh giác sát", chỉ vì nhu cầu chánh đáng chứ không vì vui đùa, đam mê, trang sức; (3) do kham nhẫn — nhẫn chịu lạnh nóng, đói khát, muỗi mòng, lời mạ lỵ phỉ báng, và những cảm thọ đau đớn nơi thân; (4) do tránh né — tránh voi dữ, ngựa dữ, rắn, hố sâu, vực núi, và tránh chỗ ngồi không xứng đáng, trú xứ không nên lai vãng, bạn bè ác độc; (5) do trừ diệt — không chấp nhận dục niệm, sân niệm, hại niệm và các ác bất thiện pháp đã khởi lên, mà từ bỏ, trừ khử, diệt tận chúng; (6) do tu tập — tu tập bảy giác chi (niệm, trạch pháp, tinh tấn, hỷ, khinh an, định, xả), "y xuất ly, y ly tham, y diệt tận, đưa đến từ bỏ". Mỗi phần đều theo một khuôn: nếu không làm như vậy thì "các lậu hoặc tàn hại và nhiệt não có thể khởi lên"; nếu làm như vậy thì các lậu hoặc ấy "không còn nữa". Kinh kết lại bằng chính câu mở đầu. Với huynh trưởng Gia Đình Phật Tử, bài kinh này rất thực dụng: nó cho một bảng kiểm sáu cách đối trị phiền não trong đời sống hằng ngày — giữ mắt tai, dùng vật chất có chừng mực, nhẫn nhịn, tránh chỗ và bạn không lành, dứt ngay ý niệm xấu vừa khởi, và siêng tu. Nội dung này gần với kinh Nhất Thiết Lậu Hoặc (MN 2), nhưng ở đây rút gọn còn sáu cách (MN 2 có bảy, thêm "do tri kiến").

Bố cục bài kinhTheo đúng thứ tự trong kinh văn

  • 1. Lời mở: thành tựu sáu pháp là phước điền vô thượng — Đức Phật tuyên bố Tỷ-kheo thành tựu sáu pháp thì đáng được cung kính, tôn trọng, cúng dường, chắp tay, là phước điền vô thượng ở đời. Rồi hỏi: 'Thế nào là sáu?' (đoạn 1.1–2.1)
  • 2. Liệt kê sáu cách đoạn trừ lậu hoặc — Nêu tóm sáu cách: do phòng hộ, do thọ dụng, do kham nhẫn, do tránh né, do trừ diệt, do tu tập (đoạn 2.2–2.7)
  • 3. Lậu hoặc do phòng hộ mà được đoạn trừ — Phòng hộ nhãn căn, nhĩ căn, tỷ căn, thiệt căn, thân căn, ý căn (đoạn 3.1–3.10)
  • 4. Lậu hoặc do thọ dụng mà được đoạn trừ — Chơn chánh giác sát khi thọ dụng bốn món: y phục, món ăn khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh (đoạn 4.1–4.11)
  • 5. Lậu hoặc do kham nhẫn mà được đoạn trừ — Kham nhẫn lạnh nóng đói khát, ruồi muỗi, lời mạ lỵ phỉ báng, và các cảm thọ thống khổ nơi thân (đoạn 5.1–5.4)
  • 6. Lậu hoặc do tránh né mà được đoạn trừ — Tránh né thú dữ, hố sâu, vực núi; tránh chỗ ngồi không xứng đáng, trú xứ không nên lai vãng, bạn bè ác độc (đoạn 6.1–6.4)
  • 7. Lậu hoặc do trừ diệt mà được đoạn trừ — Không chấp nhận dục niệm, sân niệm, hại niệm và các ác bất thiện pháp đã khởi lên; từ bỏ, trừ khử, diệt tận (đoạn 7.1–7.7)
  • 8. Lậu hoặc do tu tập mà được đoạn trừ — Tu tập bảy giác chi: niệm, trạch pháp, tinh tấn, hỷ, khinh an, định, xả (đoạn 8.1–8.10)
  • 9. Kết luận — Lặp lại lời mở: thành tựu sáu pháp này, Tỷ-kheo là ruộng phước vô thượng ở đời (đoạn 9.1). Kết 'Catutthaṁ' — kinh thứ tư của phẩm.

Mỗi đoạn ghi nguyên văn Pāli, rồi bản Việt, rồi bản tiếng Anh. Số bên trái là số đoạn trong kinh, để đối chiếu được.

AN 6.58:1.1–2.1 (TTC 1)
“Chahi, bhikkhave, dhammehi samannāgato bhikkhu āhuneyyo hoti pāhuneyyo dakkhiṇeyyo añjalikaraṇīyo anuttaraṁ puññakkhettaṁ lokassa.
Thành tựu sáu pháp, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đáng được cung kính, đáng được tôn trọng, đáng được cúng dường, đáng được chắp tay, là phước điền vô thượng ở đời. Thế nào là sáu?
“Mendicants, a mendicant with six qualities is worthy of offerings dedicated to the gods, worthy of hospitality, worthy of a religious donation, worthy of veneration with cupped palms, and is the supreme field of merit for the world.
AN 6.58:2.2–2.7 (TTC 2)
Idha, bhikkhave, bhikkhuno ye āsavā saṁvarā pahātabbā te saṁvarena pahīnā honti, ye āsavā paṭisevanā pahātabbā te paṭisevanāya pahīnā honti, ye āsavā adhivāsanā pahātabbā te adhivāsanāya pahīnā honti, ye āsavā parivajjanā pahātabbā te parivajjanāya pahīnā honti, ye āsavā vinodanā pahātabbā te vinodanāya pahīnā honti, ye āsavā bhāvanā pahātabbā te bhāvanāya pahīnā honti.
Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đối với các lậu hoặc phải do phòng hộ mà được đoạn trừ, chúng đã được đoạn trừ do phòng hộ; đối với các lậu hoặc phải do thọ dụng mà được đoạn trừ, chúng đã được đoạn trừ do thọ dụng; đối với các lậu hoặc phải do kham nhẫn mà được đoạn trừ, chúng đã được đoạn trừ do kham nhẫn; đối với các lậu hoặc phải do tránh né mà được đoạn trừ, chúng đã được đoạn trừ do tránh né; đối với các lậu hoặc phải do trừ diệt mà được đoạn trừ, chúng đã được đoạn trừ do trừ diệt; đối với các lậu hoặc phải do tu tập mà được đoạn trừ, chúng đã được đoạn trừ do tu tập.
It’s a mendicant who, by restraint, has given up the defilements that should be given up by restraint. By using, they’ve given up the defilements that should be given up by using. By enduring, they’ve given up the defilements that should be given up by enduring. By avoiding, they’ve given up the defilements that should be given up by avoiding. By dispelling, they’ve given up the defilements that should be given up by dispelling. By developing, they’ve given up the defilements that should be given up by developing.
AN 6.58:3.2–3.3 (TTC 3)
Idha, bhikkhave, bhikkhu paṭisaṅkhā yoniso cakkhundriyasaṁvarasaṁvuto viharati. Yaṁ hissa, bhikkhave, cakkhundriyasaṁvaraṁ asaṁvutassa viharato uppajjeyyuṁ āsavā vighātapariḷāhā, cakkhundriyasaṁvaraṁ saṁvutassa viharato evaṁsa te āsavā vighātapariḷāhā na honti.
Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo chơn chánh giác sát, sống phòng hộ với sự phòng hộ nhãn căn. Này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo ấy sống không phòng hộ với sự phòng hộ nhãn căn, các lậu hoặc tàn hại và nhiệt não có thể khởi lên. Nếu vị ấy sống phòng hộ với sự phòng hộ nhãn căn, các lậu hoặc tàn hại và nhiệt não ấy không còn nữa.
Take a mendicant who, reflecting rationally, lives restraining the eye faculty. For the distressing and feverish defilements that might arise in someone who lives without restraint of the eye faculty do not arise when there is such restraint.
AN 6.58:4.4–4.5 (TTC 4)
Paṭisaṅkhā yoniso piṇḍapātaṁ paṭisevati: ‘neva davāya na madāya na maṇḍanāya na vibhūsanāya, yāvadeva imassa kāyassa ṭhitiyā yāpanāya, vihiṁsūparatiyā brahmacariyānuggahāya, iti purāṇañca vedanaṁ paṭihaṅkhāmi, navañca vedanaṁ na uppādessāmi, yātrā ca me bhavissati anavajjatā ca phāsuvihāro ca’.
Vị ấy chơn chánh giác sát thọ dụng món ăn khất thực, không phải để vui đùa, không phải để đam mê, không phải để trang sức, không phải để tự làm đẹp mình, mà chỉ để thân này được sống lâu và được bảo dưỡng, để thân này khỏi bị thương hại, để hỗ trợ Phạm hạnh, nghĩ rằng: “Như vậy, ta diệt trừ các cảm thọ cũ và không cho khởi lên các cảm thọ mới, và ta sẽ không có lỗi lầm, sống được an ổn.
Reflecting rationally, they make use of almsfood: ‘Not for fun, indulgence, adornment, or decoration, but only to sustain this body, to avoid harm, and to support spiritual practice. In this way, I shall put an end to old discomfort and not give rise to new discomfort, and I will have the means to keep going, blamelessness, and a comfortable abiding.’
AN 6.58:5.2 (TTC 5)
Idha, bhikkhave, bhikkhu paṭisaṅkhā yoniso khamo hoti sītassa uṇhassa, jighacchāya, pipāsāya, ḍaṁsamakasavātātapasarīsapasamphassānaṁ, duruttānaṁ durāgatānaṁ vacanapathānaṁ, uppannānaṁ sārīrikānaṁ vedanānaṁ dukkhānaṁ tibbānaṁ kharānaṁ kaṭukānaṁ asātānaṁ amanāpānaṁ pāṇaharānaṁ adhivāsakajātiko hoti.
Này các Tỷ-kheo, ở đây có Tỷ-kheo chơn chánh giác sát kham nhẫn lạnh nóng, đói khát, sự xúc chạm của ruồi, muỗi, gió, sức nóng mặt trời, các loài bò sát, kham nhẫn những cách nói mạ lỵ phỉ báng, vị ấy có tánh kham nhẫn các cảm thọ về thân, những cảm thọ thống khổ, khốc liệt, đau nhói, nhức nhối không sung sướng, không thích thú, chết điếng người.
Take a mendicant who, reflecting rationally, endures cold, heat, hunger, and thirst. They endure the touch of flies, mosquitoes, wind, sun, and reptiles. They endure rude and unwelcome criticism. And they put up with physical pain—sharp, severe, acute, unpleasant, disagreeable, and life-threatening.
AN 6.58:6.2 (TTC 6)
Idha, bhikkhave, bhikkhu paṭisaṅkhā yoniso caṇḍaṁ hatthiṁ parivajjeti, caṇḍaṁ assaṁ parivajjeti, caṇḍaṁ goṇaṁ parivajjeti, caṇḍaṁ kukkuraṁ parivajjeti, ahiṁ khāṇuṁ kaṇṭakaṭṭhānaṁ sobbhaṁ papātaṁ candanikaṁ oḷigallaṁ, yathārūpe anāsane nisinnaṁ, yathārūpe agocare carantaṁ, yathārūpe pāpake mitte bhajantaṁ viññū sabrahmacārī pāpakesu ṭhānesu okappeyyuṁ, so tañca anāsanaṁ tañca agocaraṁ te ca pāpake mitte paṭisaṅkhā yoniso parivajjeti.
Này các Tỷ-kheo, ở đây Tỷ-kheo chơn chánh giác sát, tránh né voi dữ, tránh né ngựa dữ, tránh né bò dữ, tránh né chó dữ, rắn, khúc cây, gai góc, hố sâu, vực núi, ao nước nhớp, vũng nước. Những chỗ ngồi không xứng đáng nếu ngồi, những trú xứ không nên lai vãng nếu đến, những bạn bè ác độc, nếu giao du bị các vị đồng Phạm hạnh có trí nghi ngờ khinh thường. Vị chơn chánh giác sát tránh né chỗ ngồi không xứng đáng ấy, trú xứ không nên lai vãng ấy và các bạn bè độc ác ấy.
Take a mendicant who, reflecting rationally, avoids a wild elephant, a wild horse, a wild ox, a wild dog, a snake, a stump, thorny ground, a pit, a cliff, a swamp, and a sewer. Reflecting rationally, they avoid sitting on inappropriate seats, walking in inappropriate neighborhoods, and mixing with bad friends—whatever sensible spiritual companions would believe to be a bad setting.
AN 6.58:7.2–7.5 (TTC 7)
Idha, bhikkhave, bhikkhu paṭisaṅkhā yoniso uppannaṁ kāmavitakkaṁ nādhivāseti pajahati vinodeti byantīkaroti anabhāvaṁ gameti, paṭisaṅkhā yoniso uppannaṁ byāpādavitakkaṁ … uppannaṁ vihiṁsāvitakkaṁ … uppannuppanne pāpake akusale dhamme nādhivāseti pajahati vinodeti byantīkaroti anabhāvaṁ gameti.
Này các Tỷ-kheo, ở đây vị Tỷ-kheo chơn chánh giác sát không chấp nhận dục niệm đã khởi lên, từ bỏ, trừ khử, diệt tận, không cho tồn tại dục niệm ấy; không chấp nhận sân niệm đã khởi lên, từ bỏ, trừ khử, diệt tận, không cho tồn tại sân niệm ấy; không chấp nhận hại niệm đã khởi lên, từ bỏ, trừ khử, diệt tận, không cho tồn tại hại niệm ấy; không chấp nhận các ác bất thiện pháp luôn luôn khởi lên, từ bỏ, trừ khử, diệt tận, không cho tồn tại các ác bất thiện pháp ấy.
Take a mendicant who, reflecting rationally, doesn’t tolerate a sensual, malicious, or cruel thought that has arisen, but gives it up, dispels it, eliminates it, and obliterates it. They don’t tolerate any bad, unskillful qualities that have arisen, but give them up, dispel them, eliminate them, and obliterate them.
AN 6.58:8.2–8.8 (TTC 8)
Idha, bhikkhave, bhikkhu paṭisaṅkhā yoniso satisambojjhaṅgaṁ bhāveti vivekanissitaṁ virāganissitaṁ nirodhanissitaṁ vosaggapariṇāmiṁ, paṭisaṅkhā yoniso dhammavicayasambojjhaṅgaṁ bhāveti … vīriyasambojjhaṅgaṁ bhāveti … pītisambojjhaṅgaṁ bhāveti … passaddhisambojjhaṅgaṁ bhāveti … samādhisambojjhaṅgaṁ bhāveti … upekkhāsambojjhaṅgaṁ bhāveti vivekanissitaṁ virāganissitaṁ nirodhanissitaṁ vosaggapariṇāmiṁ.
Này các Tỷ-kheo, ở đây Tỷ-kheo chơn chánh giác sát tu tập niệm giác chi, niệm giác chi này y xuất ly, y ly tham, y diệt tận, đưa đến từ bỏ, chơn chánh giác sát tu tập trạch pháp giác chi … (như trên) … tu tập tinh tấn giác chi… tu tập hỷ giác chi… tu tập khinh an giác chi… tu tập định giác chi… tu tập xả giác chi; xả giác chi này y xuất ly, y ly tham, y diệt tận, đưa đến từ bỏ.
Take a mendicant who, reflecting rationally, develops the awakening factors of mindfulness, investigation of principles, energy, rapture, tranquility, immersion, and equanimity, which rely on seclusion, fading away, and cessation, and ripen as letting go.
Chữ PāliNghĩaGhi chú
āsavalậu hoặc — phiền não rỉ chảy làm ô nhiễm tâmBản Anh của Sujato dịch là 'defilements'.
saṁvaraphòng hộ, chế ngự (đặc biệt là phòng hộ các căn)
paṭisevanāthọ dụng, sử dụng (bốn vật dụng)
adhivāsanākham nhẫn, nhẫn chịu
parivajjanātránh né, xa lánh
vinodanātrừ diệt, xua tan
bhāvanātu tập, phát triển
paṭisaṅkhā yonisochơn chánh giác sát — quán xét như lý trước khi làmĐây là công thức lặp lại suốt bài kinh.
vighātapariḷāhātàn hại và nhiệt não (sự bức bách, thiêu đốt của phiền não)
bojjhaṅga / sambojjhaṅgagiác chi — bảy yếu tố đưa đến giác ngộniệm (sati), trạch pháp (dhammavicaya), tinh tấn (vīriya), hỷ (pīti), khinh an (passaddhi), định (samādhi), xả (upekkhā).
kāmavitakka / byāpādavitakka / vihiṁsāvitakkadục niệm / sân niệm / hại niệm
puññakkhettaphước điền, ruộng phước
āhuneyyo, pāhuneyyo, dakkhiṇeyyo, añjalikaraṇīyođáng được cung kính, tôn trọng, cúng dường, chắp tay
indriyacăn — nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý

Xin thưa, bài kinh này ngắn mà rất dùng được, vì nó là một BẢNG KIỂM.

Mở đầu, Thế Tôn nói: Tỷ-kheo thành tựu SÁU pháp thì “đáng được cung kính, đáng được tôn trọng, đáng được cúng dường, đáng được chắp tay, là PHƯỚC ĐIỀN VÔ THƯỢNG ở đời.”

sáu pháp ấy KHÔNG phải sáu đức tính — mà là SÁU CÁCH ĐOẠN TRỪ LẬU HOẶC.

Xin thưa chữ āsava — “lậu hoặc” — nghĩa gốc là cái RỈ CHẢY, như nước rỉ qua chỗ nứt. Phiền não rỉ ra làm ô nhiễm tâm.

CÁCH MỘT — DO PHÒNG HỘ. Giữ sáu căn: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý.

CÁCH HAI — DO THỌ DỤNG. Đây là chỗ về vật chất, và kinh nói rất cụ thể: dùng y phục, món ăn khất thực, sàng tọa, dược phẩm với sự “CHƠN CHÁNH GIÁC SÁT”“không phải để vui đùa, không phải để đam mê, không phải để trang sức, không phải để tự làm đẹp mình.”

CÁCH BA — DO KHAM NHẪN. Nhẫn lạnh nóng, đói khát, ruồi muỗi, gió, nắng, loài bò sát — và “lời mạ lỵ phỉ báng”, và “các cảm thọ thống khổ nơi thân”.

Xin để ý kinh xếp LỜI MẠ LỴ chung hàng với ĐÓI, KHÁT và MUỖI. Con thấy cách xếp ấy đã là một lời dạy: lời nặng cũng chỉ là một thứ thời tiết.

CÁCH BỐN — DO TRÁNH NÉ. Nửa đầu là nguy hiểm thật: voi dữ, ngựa dữ, bò dữ, chó dữ, rắn, gai góc, hố sâu, vực núi.

Nửa sau mới là chỗ đáng nghĩ: tránh CHỖ NGỒI không xứng đáng, TRÚ XỨ không nên lai vãng, và BẠN BÈ ÁC ĐỘC. Ba thứ ấy xếp chung hàng với voi dữ và rắn.

CÁCH NĂM — DO TRỪ DIỆT. Không CHẤP NHẬN dục niệm, sân niệm, hại niệm đã khởi lên — mà “từ bỏ, trừ khử, diệt tận, không cho tồn tại”.

Xin để ý chữ “ĐÃ KHỞI LÊN”. Kinh KHÔNG bảo đừng để ý xấu khởi lêný xấu vẫn cứ khởi. Kinh bảo đừng CHỨA nó.

CÁCH SÁU — DO TU TẬP. Bảy giác chi: niệm, trạch pháp, tinh tấn, hỷ, khinh an, định, xả — mỗi chi đều “y xuất ly, y ly tham, y diệt tận, đưa đến từ bỏ”.

Xin thưa một chỗ về CẤU TRÚC mà con thấy rất hay: năm cách đầu là ĐỐI PHÓ — giữ, dùng, nhịn, tránh, dứt. Chỉ cách thứ sáu là XÂY.

khuôn của cả sáu đều giống nhau: “nếu sống KHÔNG làm như vậy, các lậu hoặc tàn hại và nhiệt não CÓ THỂ khởi lên; nếu làm như vậy, các lậu hoặc ấy KHÔNG CÒN NỮA.”

Xin thưa lời cuối cho anh chị em Huynh Trưởng. Con nghĩ bài này nên dùng làm BẢNG KIỂM, chứ không nên giảng như lý thuyết.

sáu cách ấy đều là việc làm được trong một ngày: giữ mắt tai; dùng đồ có chừng mực; nhịn được một câu nặng; tránh một chỗ và một người không lành; dứt ngay một ý xấu vừa khởi; và ngồi xuống tu.

xin nói thêm một chỗ cho các em lớn: bài kinh này gần với MN 2 (Nhất Thiết Lậu Hoặc), nhưng MN 2 có BẢY cáchở đây rút còn SÁU, bỏ vế “do TRI KIẾN”.

Xin thưa về trang. Mười sáu ô Pāli/Anh và tám ô tiếng Việt của bài này đều đúng NGUYÊN VĂN khi đối chiếu bằng máy — không ô nào phải dựng lại.

Lượt soi nêu một chỗ và chỗ ấy ĐÚNG: ô trích đầu có chép cả câu “Thế nào là sáu?”, mà câu ấy nằm ở đoạn 2.1 chứ không phải 1.1, nên nhãn số đoạn ghi thiếu. Đã sửa nhãn thành “1.1–2.1”; không một chữ nào trong ô trích bị đổi.

  • “Sáu pháp ấy là sáu đức tính.” Không — chúng là sáu CÁCH ĐOẠN TRỪ lậu hoặc.
  • “Tu là đừng để ý xấu khởi lên.” Cách thứ năm nói rõ về ý niệm “ĐÃ khởi lên”vấn đề là không CHỨA nó.
  • “Tránh né là hèn nhát.” Kinh xếp bạn ác và chỗ không nên đến chung hàng với voi dữ và rắntránh là khôn, không phải hèn.
  • “Chỉ cần nhẫn là đủ.” Kham nhẫn chỉ là MỘT trong sáu; chỉ cách thứ sáu — TU TẬP — là cách xây.
  • Kẻ sáu ô lên bảng rồi cho các em điền một việc thật của tuần vào mỗi ô.
  • Cách hai (thọ dụng) — hỏi các em: mình mua đồ vì cần, hay vì vui?
  • Cách ba — nhắc các em rằng kinh xếp lời nặng chung với muỗi và nắng.
  • Cách năm — tập nhận ra một ý xấu vừa khởi rồi buông ngay, không đuổi theo.
  • Vì sao chỉ có cách thứ sáu là “tu tập”, còn năm cách kia là đối phó?
  • Vì sao kinh xếp lời mạ lỵ chung hàng với đói khát và muỗi mòng?
  • Trong sáu cách, cách nào mình đang yếu nhất?
  • “Tránh bạn bè ác độc” — có khác gì với ghét bỏ người ta không?

Nguyên văn Pāli chép từ ấn bản Mahāsaṅgīti — tệp dữ liệu gốc bilara-data của suttacentral.net, từng đoạn có đánh số. Bản tiếng Việt của Hoà thượng Thích Minh Châu; bản tiếng Anh của Tỳ-kheo Sujato. Bài này đã qua một lượt soi lại độc lập. Lượt soi ấy chỉ ra 1 chỗ cần xem lại; chỗ nào là lỗi thật thì chúng tôi đã sửa và ghi rõ ở Phần IV. Muốn đọc trọn bài kinh, xin xem nguyên văn ba thứ tiếng. Thấy chỗ nào khác ấn bản in, xin báo cho chúng tôi.