G.Đ.P.T Huyền Quang Phật Pháp · Tam Tạng Kinh Điển Tăng Chi Bộ · AN 6.56
Nghe Pháp Đúng Thời · Ngay Giờ Cuối

Kinh Phagguna

Phagguna Sutta — AN 6.56 · Pāli · Việt · Anh

Tam TạngTạng KinhTrung BộKinh Phagguna

Tôn giả Phagguna trọng bệnh. Thế Tôn đích thân đến thăm, bảo Tôn giả cứ nằm yên, rồi thuyết pháp. Không bao lâu Tôn giả mệnh chung — “các căn được sáng chói”. Nhân đó Thế Tôn dạy SÁU lợi ích của việc NGHE PHÁP ĐÚNG THỜI.

  • Bộ — Tăng Chi Bộ, Chương Sáu Pháp, kinh 56
  • Phẩm — Đại Phẩm (Mahāvagga)
  • Người trong kinhTôn giả Phagguna (người bệnh) và Tôn giả Ānanda (người thỉnh)
  • Đọc kèmAN 6.19–20 (niệm chết) và AN 5.48 (năm sự kiện không thể có được)

Kinh Phagguna (AN 6.56) thuộc Chương Sáu Pháp, Đại Phẩm của Tăng Chi Bộ. Mở đầu, Tôn giả Phagguna lâm trọng bệnh. Tôn giả Ānanda đến bạch Thế Tôn, xin Ngài vì lòng từ mẫn mà đến thăm. Thế Tôn im lặng nhận lời, buổi chiều từ Thiền tịnh đứng dậy đi đến. Thấy Thế Tôn từ xa, Tôn giả Phagguna muốn rời khỏi giường, nhưng Thế Tôn bảo cứ nằm yên, Ngài sẽ ngồi nơi chỗ đã soạn sẵn — một cử chỉ rất mực ân cần mà Huynh Trưởng có thể lấy làm gương khi đi thăm người bệnh. Thế Tôn hỏi thăm bệnh tình. Tôn giả Phagguna thưa thật rằng mình không thể kham nhẫn, khổ thọ chỉ tăng chứ không giảm, và mô tả cơn đau bằng bốn ví dụ rất mạnh: như bị lực sĩ chém đầu bằng kiếm sắc, như bị siết đầu bằng dây da cứng, như bị đồ tể cắt ngang bụng bằng dao bén, như bị hai lực sĩ nướng trên hố than hừng. Thế Tôn thuyết pháp thoại khích lệ, làm cho phấn khởi hoan hỉ, rồi từ chỗ ngồi đứng dậy ra đi. Không bao lâu sau, Tôn giả Phagguna mệnh chung; trong khi lâm chung các căn được sáng chói. Tôn giả Ānanda bạch lại việc ấy. Thế Tôn dạy: trước đó tâm Tỷ-kheo Phagguna chưa được giải thoát khỏi năm hạ phần kiết sử; sau khi nghe pháp, tâm vị ấy được giải thoát khỏi năm hạ phần kiết sử. Nhân đó Thế Tôn dạy sáu lợi ích của việc nghe pháp đúng thời và thẩm sát ý nghĩa đúng thời. Ba lợi ích đầu dành cho vị tâm chưa giải thoát khỏi năm hạ phần kiết sử: trong khi mệnh chung được thấy Thế Tôn và nghe pháp; hoặc chỉ được thấy đệ tử Như Lai và nghe pháp; hoặc không gặp được ai, nhưng với tâm tùy tầm tùy tứ, tùy quán pháp như đã được nghe, như đã được học thông suốt. Ba lợi ích sau cũng theo ba trường hợp ấy, dành cho vị đã giải thoát khỏi năm hạ phần kiết sử nhưng tâm chưa giải thoát đối với vô thượng đoạn diệt sanh y. Ý chính: pháp được nghe và được suy nghiệm đúng lúc có năng lực giải thoát ngay cả trong giờ phút cuối cùng của đời người.

Bố cục bài kinhTheo đúng thứ tự trong kinh văn

  • 1. Duyên khởi: Tôn giả Phagguna trọng bệnh, Tôn giả Ānanda thỉnh Phật đến thăm — Đoạn 1.1–1.13 (bản Việt TTC 1): Tôn giả Phagguna bị bệnh, khổ đau, bị trọng bệnh. Tôn giả Ānanda thỉnh Thế Tôn vì lòng từ mẫn đi đến. Thế Tôn im lặng nhận lời, buổi chiều từ Thiền tịnh đứng dậy đi đến, bảo Tôn giả chớ rời khỏi giường, và ngồi trên chỗ đã soạn sẵn.
  • 2. Thế Tôn hỏi thăm bệnh; Tôn giả Phagguna tả khổ thọ bằng bốn ví dụ — Đoạn 2.1–6.2 (bản Việt TTC 1): Thế Tôn hỏi có kham nhẫn, chịu đựng được không. Tôn giả Phagguna thưa không thể kham nhẫn, khổ thọ gia tăng không giảm thiểu, với bốn ví dụ: kiếm sắc chém đầu; dây da cứng siết quanh đầu; dao đồ tể cắt ngang bụng; hai lực sĩ nướng trên hố than hừng.
  • 3. Thế Tôn thuyết pháp khích lệ rồi ra đi — Đoạn 6.3: Thế Tôn với pháp thoại nói lên cho Tôn giả Phagguna biết, khích lệ, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỉ, rồi từ chỗ ngồi đứng dậy và ra đi.
  • 4. Tôn giả Phagguna mệnh chung, các căn sáng chói — Đoạn 7.1–8.3 (bản Việt TTC 2): Không bao lâu sau Tôn giả mệnh chung, các căn được sáng chói. Tôn giả Ānanda bạch Thế Tôn. Thế Tôn dạy: tâm Tỷ-kheo Phagguna chưa được giải thoát khỏi năm hạ phần kiết sử; sau khi nghe pháp, tâm vị ấy được giải thoát khỏi năm hạ phần kiết sử.
  • 5. Nêu sáu lợi ích của nghe pháp đúng thời và thẩm sát ý nghĩa đúng thời — Đoạn 9.1–9.2 (bản Việt TTC 2): "Có sáu lợi ích này, này Ananda, nếu nghe pháp đúng thời, và thẩm sát ý nghĩa đúng thời. Thế nào là sáu?"
  • 6. Ba lợi ích đầu: vị chưa giải thoát khỏi năm hạ phần kiết sử — Đoạn 9.3–11.5 (bản Việt TTC 3–5): (1) trong khi mệnh chung được thấy Thế Tôn, nghe pháp sơ thiện trung thiện hậu thiện, tâm được giải thoát khỏi năm hạ phần kiết sử; (2) không thấy Thế Tôn nhưng thấy đệ tử Như Lai thuyết pháp; (3) không thấy cả hai, nhưng với tâm tùy tầm, tùy tứ, với ý tùy quán pháp như đã được nghe, như đã được học một cách thông suốt.
  • 7. Ba lợi ích sau: vị đã giải thoát năm hạ phần kiết sử nhưng chưa giải thoát đối với vô thượng đoạn diệt sanh y — Đoạn 12.1–14.5 (bản Việt TTC 6–8): cũng theo ba trường hợp thấy Như Lai, thấy đệ tử Như Lai, hoặc tự tùy tầm tùy tứ tùy quán pháp; kết quả là tâm được giải thoát đối với vô thượng đoạn diệt sanh y.
  • 8. Kết luận — Đoạn 15.1: "Có sáu lợi ích này, này Ananda, khi được nghe pháp đúng thời, và khi được thẩm sát ý nghĩa đúng thời."

Mỗi đoạn ghi nguyên văn Pāli, rồi bản Việt, rồi bản tiếng Anh. Số bên trái là số đoạn trong kinh, để đối chiếu được.

AN 6.56, đoạn 1.10–1.11 (bản Việt: TTC 1)
“alaṁ, phagguna, mā tvaṁ mañcake samadhosi. Santimāni āsanāni parehi paññattāni, tatthāhaṁ nisīdissāmī”ti.
—Thôi được rồi, Phagguna! Thầy chớ có rời khỏi giường. Ðã có những chỗ ngồi đã soạn từ trước, Ta sẽ ngồi tại các chỗ ấy.
“It’s all right, Phagguna, don’t get up. There are some seats spread out by others, I will sit there.”
AN 6.56, đoạn 2.1 (bản Việt: TTC 1)
“Kacci te, phagguna, khamanīyaṁ kacci yāpanīyaṁ? Kacci te dukkhā vedanā paṭikkamanti, no abhikkamanti; paṭikkamosānaṁ paññāyati, no abhikkamo”ti?
—Này Phagguna, mong rằng Thầy có thể kham nhẫn! Mong rằng Thầy có thể chịu đựng! Mong rằng các khổ thọ được giảm thiểu, không tăng trưởng! Mong rằng triệu chứng giảm thiểu được thấy rõ, không tăng trưởng!
“I hope you’re keeping well, Phagguna; I hope you’re all right. I hope your pain is fading, not growing; that its fading is evident, not its growing.”
AN 6.56, đoạn 3.1 (bản Việt: TTC 1, trích trong đoạn dài)
Seyyathāpi, bhante, balavā puriso tiṇhena sikharena muddhani abhimattheyya; evamevaṁ kho me, bhante, adhimattā vātā muddhani ūhananti.
Bạch Thế Tôn, ví như một người lực sĩ chém đầu (một người khác) với một thanh kiếm sắc bén; cũng vậy, bạch Thế Tôn, những ngọn gió kinh khủng thổi lên, đau nhói trong đầu con.
The winds piercing my head are so severe, it feels like a strong man drilling into my head with a sharp point.
AN 6.56, đoạn 6.3 (bản Việt: TTC 1)
Atha kho bhagavā āyasmantaṁ phaggunaṁ dhammiyā kathāya sandassetvā samādapetvā samuttejetvā sampahaṁsetvā uṭṭhāyāsanā pakkāmi.
Rồi Thế Tôn, với pháp thoại, nói lên cho Tôn giả Phagguna biết, khích lệ, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỉ, từ chỗ ngồi, đứng dậy và ra đi.
Then the Buddha educated, encouraged, fired up, and inspired Venerable Phagguna with a Dhamma talk, after which he rose from his seat and left.
AN 6.56, đoạn 7.1–7.2 (bản Việt: TTC 2)
Atha kho āyasmā phagguno acirapakkantassa bhagavato kālamakāsi. Tamhi cassa samaye maraṇakāle indriyāni vippasīdiṁsu.
Rồi Tôn giả Phagguna, sau khi Thế Tôn ra đi không bao lâu, liền mệnh chung. Trong khi Tôn giả lâm chung, các căn được sáng chói.
Not long after the Buddha left, Venerable Phagguna passed away. At the time of his death, his faculties were bright and clear.
AN 6.56, đoạn 8.2–8.3 (bản Việt: TTC 2)
Phaggunassa, ānanda, bhikkhuno pañcahi orambhāgiyehi saṁyojanehi cittaṁ avimuttaṁ ahosi. Tassa taṁ dhammadesanaṁ sutvā pañcahi orambhāgiyehi saṁyojanehi cittaṁ vimuttaṁ.
Này Ananda, với Tỷ-kheo Phagguna, tâm chưa được giải thoát khỏi năm hạ phần kiết sử. Sau khi nghe pháp, tâm vị ấy được giải thoát khỏi năm hạ phần kiết sử.
The mendicant Phagguna’s mind was not freed from the five lower fetters. But when he heard that teaching his mind was freed from them.
AN 6.56, đoạn 11.3–11.5 (bản Việt: TTC 5)
api ca kho yathāsutaṁ yathāpariyattaṁ dhammaṁ cetasā anuvitakketi anuvicāreti manasānupekkhati. Tassa yathāsutaṁ yathāpariyattaṁ dhammaṁ cetasā anuvitakkayato anuvicārayato manasānupekkhato pañcahi orambhāgiyehi saṁyojanehi cittaṁ vimuccati. Ayaṁ, ānanda, tatiyo ānisaṁso kālena atthupaparikkhāya.
Nhưng với tâm tùy tầm, tùy tứ, với ý tùy quán pháp như đã được nghe, như đã được học một cách thông suốt; do vị ấy, với tâm tùy tầm, tùy tứ, với ý tùy quán pháp như đã được nghe, như đã được học một cách thông suốt, nên tâm được giải thoát khỏi năm hạ phần kiết sử. Này Ananda, đây là lợi ích thứ ba khi thẩm sát ý nghĩa đúng thời.
But they think about and consider the teaching in their heart, examining it with the mind as they learned and memorized it. As they do so their mind is freed from the five lower fetters. This is the third benefit of listening to the teaching.
AN 6.56, đoạn 15.1 (bản Việt: TTC 8)
Ime kho, ānanda, cha ānisaṁsā kālena dhammassavane kālena atthupaparikkhāyā”ti.
Có sáu lợi ích này, này Ananda, khi được nghe pháp đúng thời, và khi được thẩm sát ý nghĩa đúng thời.
These are the six benefits to hearing the teaching at the right time and examining the meaning at the right time.”
Chữ PāliNghĩaGhi chú
ānisaṁsalợi íchBản HT. Thích Minh Châu dịch là "lợi ích"; bản Sujato: "benefit".
kālena dhammassavananghe pháp đúng thờiNguyên văn bản Việt: "nghe pháp đúng thời".
kālena atthupaparikkhāthẩm sát ý nghĩa đúng thờiNguyên văn bản Việt: "thẩm sát ý nghĩa đúng thời".
pañca orambhāgiyāni saṁyojanāninăm hạ phần kiết sửBản Sujato: "the five lower fetters".
anuttara upadhisaṅkhayavô thượng đoạn diệt sanh yBản Sujato: "the supreme ending of attachments".
indriyāni vippasīdiṁsucác căn được sáng chóiNói về tướng lúc lâm chung của Tôn giả Phagguna.
dukkhā vedanākhổ thọ
khamanīya / yāpanīyakham nhẫn / chịu đựngCông thức hỏi thăm người bệnh trong kinh tạng.
anuvitakketi, anuvicāreti, manasānupekkhatitùy tầm, tùy tứ, (với ý) tùy quánBa động tác của tâm khi ôn lại pháp đã nghe, đã học thông suốt.
ādikalyāṇaṁ majjhekalyāṇaṁ pariyosānakalyāṇaṁsơ thiện, trung thiện, hậu thiện
brahmacariyaPhạm hạnh
tathāgatasāvakađệ tử Như Lai

Xin thưa bài kinh này có hai phần, và con nghĩ phần đầu đáng học cho việc đi thăm người bệnh, phần sau đáng học cho việc dạy pháp.

Tôn giả PHAGGUNA bị bệnh nặng. Tôn giả ĀNANDA đến bạch Thế Tôn, xin Ngài “vì lòng từ mẫn” mà đi đến.

Thế Tôn im lặng nhận lời, buổi chiều từ Thiền tịnh đứng dậy mà đi.

Và đây là chi tiết con thấy cảm động nhất trong cả bài kinh: thấy Thế Tôn từ xa, Tôn giả Phagguna cố rời khỏi giường để đón — và Thế Tôn bảo:

THÔI ĐƯỢC RỒI, PHAGGUNA! Thầy CHỚ CÓ RỜI KHỎI GIƯỜNG. Đã có những chỗ ngồi đã soạn từ trước, TA SẼ NGỒI TẠI CÁC CHỖ ẤY.

Xin thưa cử chỉ ấy rất mực ân cần, và con nghĩ anh chị em Huynh Trưởng nên lấy làm gương khi đi thăm người bệnh: ĐỪNG để người bệnh phải gắng sức vì mình.

Rồi Thế Tôn hỏi thăm bằng một câu rất đẹp: “Mong rằng Thầy có thể KHAM NHẪN! Mong rằng Thầy có thể CHỊU ĐỰNG! Mong rằng các khổ thọ được GIẢM THIỂU, không tăng trưởng!”

Và Tôn giả Phagguna THƯA THẬT — con thấy chỗ này rất đáng quý. Ngài KHÔNG nói cho qua chuyện. Ngài thưa rằng mình KHÔNG THỂ kham nhẫn, khổ thọ chỉ tăng chứ không giảm.

Rồi Ngài tả cơn đau bằng BỐN VÍ DỤ rất mạnh: như bị lực sĩ chém đầu bằng kiếm sắc; như bị siết đầu bằng dây da cứng; như bị đồ tể cắt ngang bụng bằng dao bén; như bị hai lực sĩ nướng trên hố than hừng.

Xin thưa kinh KHÔNG giấu cái đau ấy đi, và con nghĩ đó là chỗ chân thật của Phật pháp. Bệnh thì đau thật, và nói ra là đúng.

Thế Tôn thuyết pháp thoại khích lệ, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ, rồi từ chỗ ngồi đứng dậy và ra đi.

Không bao lâu sau, Tôn giả Phagguna mệnh chung — và kinh ghi một câu rất đẹp: “trong khi Tôn giả lâm chung, CÁC CĂN ĐƯỢC SÁNG CHÓI.”

Tôn giả Ānanda bạch lại việc ấy, và Thế Tôn dạy điều then chốt: “với Tỷ-kheo Phagguna, tâm CHƯA được giải thoát khỏi NĂM HẠ PHẦN KIẾT SỬ. SAU KHI NGHE PHÁP, tâm vị ấy ĐƯỢC giải thoát khỏi năm hạ phần kiết sử.”

Xin thưa: buổi thăm bệnh ấy KHÔNG phải chỉ là an ủi. Nó thật sự đưa Tôn giả tiến một bậc, ngay trong những ngày cuối.

Nhân đó Thế Tôn dạy SÁU LỢI ÍCH của việc NGHE PHÁP ĐÚNG THỜI và THẨM SÁT Ý NGHĨA ĐÚNG THỜI.

Ba lợi ích đầu dành cho vị tâm CHƯA giải thoát khỏi năm hạ phần kiết sử, và chia theo BA TRƯỜNG HỢP:

(1) trong khi mệnh chung ĐƯỢC THẤY THẾ TÔN và nghe pháp; (2) không thấy Thế Tôn nhưng THẤY ĐỆ TỬ NHƯ LAI thuyết pháp; (3) KHÔNG GẶP ĐƯỢC AI CẢ, nhưng với tâm TÙY TẦM TÙY TỨ, tùy quán pháp NHƯ ĐÃ ĐƯỢC NGHE, NHƯ ĐÃ ĐƯỢC HỌC THÔNG SUỐT.

Xin thưa trường hợp thứ ba con thấy an ủi vô cùng, và rất nên nói cho anh chị em nghe.

Giờ cuối, không có Phật, không có thầy, không có ai bên cạnhvẫn còn một đường: tự mình nhớ lại và tùy quán CÁI PHÁP MÌNH ĐÃ HỌC.

Và kinh xếp đường ấy NGANG HÀNG với hai trường hợp kia — cùng đưa tới cùng một kết quả.

Ba lợi ích sau cũng theo đúng ba trường hợp ấy, dành cho vị đã giải thoát khỏi năm hạ phần kiết sử nhưng tâm chưa giải thoát đối với vô thượng đoạn diệt sanh y.

Xin thưa lời cuối cho anh chị em, và con nghĩ bài này nói vào đúng việc mình đang làm mỗi tuần.

Ý chính của kinh là: pháp được NGHE và được SUY NGHIỆM ĐÚNG LÚC có năng lực giải thoát NGAY CẢ TRONG GIỜ PHÚT CUỐI CÙNG của đời người.

Nghĩa là: những câu kinh anh chị em dạy các em hôm nay — có thể rất lâu về sau mới dùng tới, trong một hoàn cảnh mình không có mặt.

Vì trường hợp thứ ba nói rõ: lúc ấy chỉ cần “như đã được nghe, như đã được học thông suốt”.

  • “Người tu thì phải chịu đau không than.” Tôn giả Phagguna THƯA THẬT rằng mình không thể kham nhẫn, và tả cơn đau bằng bốn ví dụ rất mạnh. Kinh không giấu cái đau đi.
  • “Thăm người bệnh là để an ủi cho qua.” Buổi thăm ấy đưa Tôn giả giải thoát khỏi năm hạ phần kiết sử ngay trong những ngày cuối.
  • “Giờ cuối mà không có thầy bên cạnh thì hỏng.” Trường hợp thứ ba nói rõ: không gặp được ai, mà tự tùy quán pháp như đã được nghe, đã được họcvẫn cùng một kết quả.
  • “Nghe pháp lúc nào cũng như nhau.” Kinh nhấn hai chữ ĐÚNG THỜI: nghe pháp đúng thời, và thẩm sát ý nghĩa đúng thời.
  • Ngành Oanh. Kể chuyện Thế Tôn bảo người bệnh cứ nằm yên — rồi dạy: thăm người bệnh thì đừng bắt người ta ngồi dậy.
  • Ngành Thiếu. Học trường hợp thứ ba: cái mình học kỹ hôm nay thì lúc cần sẽ tự nhớ ra.
  • Ngành Thanh và Huynh Trưởng. Soi hai chữ ĐÚNG THỜI. Và bàn: khi đi thăm người bệnh, mình nói gì cho phải?
  • Thế Tôn nói gì khi thấy Tôn giả Phagguna định rời giường?
  • Tôn giả tả cơn đau bằng mấy ví dụ?
  • Sau khi nghe pháp, tâm Tôn giả được gì?
  • Ba trường hợp của lợi ích nghe pháp là gì?
  • Vì sao trường hợp thứ ba đáng an ủi?

Nguyên văn Pāli chép từ ấn bản Mahāsaṅgīti — tệp dữ liệu gốc bilara-data của suttacentral.net, từng đoạn có đánh số. Bản tiếng Việt của Hoà thượng Thích Minh Châu; bản tiếng Anh của Tỳ-kheo Sujato. Bài này đã qua một lượt soi lại độc lập. Muốn đọc trọn bài kinh, xin xem nguyên văn ba thứ tiếng. Thấy chỗ nào khác ấn bản in, xin báo cho chúng tôi.