G.Đ.P.T Huyền Quang Phật Pháp · Tam Tạng Kinh Điển Tăng Chi Bộ · AN 6.55
Dây Đàn Không Căng · Không Chùng

Kinh Tôn Giả Soṇa

Soṇa Sutta — AN 6.55 · Pāli · Việt · Anh

Tam TạngTạng KinhTrung BộKinh Tôn Giả Soṇa

Tôn giả Soṇa tinh tấn bậc nhất mà tâm vẫn chưa giải thoát, đâm nản, tính hoàn tục. Thế Tôn hiện đến, nhắc lại tài đánh đàn tỳ-bà thuở còn ở nhà, rồi dạy một điều mà cả đời tu dùng được: dây quá CĂNG không kêu, dây quá CHÙNG cũng không kêu.

  • Bộ — Tăng Chi Bộ, Chương Sáu Pháp, kinh 55
  • Nơi chốn — Thế Tôn ở núi Gijjhakūṭa (Linh Thứu), Rājagaha; Tôn giả Soṇa ở rừng Sīta
  • Bài kinh song hànhLuật tạng, Mahāvagga (Vin i 179) và Trưởng Lão Tăng Kệ
  • Đọc kèmAN 6.13AN 4.28, về sự quân bình trong tu tập

Kinh Sona (AN 6.55) kể chuyện Tôn giả Sona, một vị đệ tử nổi tiếng tinh cần tinh tấn, tu hành rất gắng sức nhưng tâm vẫn chưa giải thoát khỏi các lậu hoặc. Trong lúc độc cư Thiền tịnh, Tôn giả khởi lên ý nghĩ nản lòng: gia đình mình có tài sản, hay là bỏ học pháp, hoàn tục, hưởng tài sản và làm các công đức. Thế Tôn biết được tâm niệm ấy, liền từ núi Linh Thứu biến mất và hiện ra trước mặt Tôn giả tại rừng Sìta. Thế Tôn hỏi lại đúng ý nghĩ ấy, rồi nhắc Tôn giả nhớ tài đánh đàn tỳ-bà thuở còn là gia chủ. Ngài hỏi: dây đàn quá căng thì đàn có phát âm, có sử dụng được không? — Thưa không. Dây đàn quá trùng thì sao? — Thưa cũng không. Chỉ khi dây đàn không quá căng, không quá trùng, vặn đúng mức trung bình, đàn mới phát âm và sử dụng được. Từ đó Thế Tôn dạy: tinh tấn quá căng thẳng thì đưa đến dao động, tinh tấn quá thụ động thì đưa đến biếng nhác; hãy an trú tinh tấn một cách bình đẳng, thể nhập các căn một cách bình đẳng, rồi tại đấy nắm giữ tướng. Đây là bài kinh gốc của lời dạy "trung đạo trong sự dụng công". Sau một thời gian hành đúng như vậy, Tôn giả Sona sống độc cư, không phóng dật, nhiệt tâm tinh cần, chứng đạt vô thượng cứu cánh Phạm hạnh ngay trong hiện tại và trở thành bậc A-la-hán. Tôn giả đến trình bày với Thế Tôn: vị A-la-hán đã đoạn tận lậu hoặc thì có sáu chỗ xu hướng — xuất ly, viễn ly, vô sân, ái diệt, thủ diệt, vô si — và các xu hướng ấy không do lòng tin suông, không do ham lợi dưỡng cung kính danh tiếng, không do giới cấm thủ, mà do đoạn diệt và viễn ly tham, sân, si. Kinh kết bằng ví dụ hòn núi đá liền một tảng, không rạn nứt, mưa to gió lớn bốn phương cũng không làm lay động: cũng vậy, tâm vị chơn chánh giải thoát không bị các sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp chinh phục, an trú, không dao động, quán thấy tánh diệt của chúng.

Bố cục bài kinhTheo đúng thứ tự trong kinh văn

  • 1. Duyên khởi: Tôn giả Sona muốn hoàn tục — Thế Tôn trú núi Linh Thứu, Tôn giả Sona ở rừng Sìta; trong khi độc cư Thiền tịnh khởi ý nghĩ: tinh cần tinh tấn mà tâm chưa giải thoát khỏi lậu hoặc, vậy hãy từ bỏ học pháp, hoàn tục, thọ hưởng tài sản và làm các công đức.
  • 2. Thế Tôn hiện đến và hỏi lại tâm niệm ấy — Thế Tôn biết tâm Tôn giả, như lực sĩ co duỗi cánh tay, biến mất khỏi Gijjhakùta hiện ra ở rừng Sìta, ngồi trên chỗ đã soạn sẵn, và hỏi lại đúng tư tưởng ấy; Tôn giả xác nhận.
  • 3. Ví dụ cây đàn tỳ-bà — Hỏi về tài đánh đàn tỳ-bà thuở còn gia chủ: dây quá căng — không dùng được; dây quá trùng — không dùng được; vặn đúng mức trung bình — phát âm và sử dụng được.
  • 4. Lời giáo giới: tinh tấn bình đẳng — Tinh cần tinh tấn quá căng thẳng đưa đến dao động, quá thụ động đưa đến biếng nhác; phải an trú tinh tấn một cách bình đẳng, thể nhập các căn một cách bình đẳng, rồi tại đấy nắm giữ tướng. Rồi Thế Tôn trở về núi Gijjhakùta.
  • 5. Tôn giả Sona chứng A-la-hán — Hành đúng lời dạy, sống độc cư an tịnh không phóng dật, chứng đạt vô thượng cứu cánh Phạm hạnh ngay trong hiện tại: "Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành…"; trở thành A-la-hán và đi đến trình Thế Tôn.
  • 6. Sáu chỗ xu hướng của bậc A-la-hán — Xu hướng xuất ly, viễn ly, vô sân, ái diệt, thủ diệt, vô si.
  • 7. Bác bỏ ba ngộ nhận — Không phải do y cứ trên tín suông (xuất ly), không phải do tham muốn lợi dưỡng cung kính danh tiếng (viễn ly), không phải do đi ngược trở lại giới cấm thủ (vô sân); mà do đoạn diệt và viễn ly tham, sân, si. Tương tự với ái diệt, thủ diệt, vô si.
  • 8. Ví dụ hòn núi đá — Tâm chơn chánh giải thoát không bị sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp chinh phục; như núi đá liền một tảng, không rạn nứt, mưa to gió lớn bốn phương không làm rung chuyển.
  • 9. Bài kệ kết — Kệ tóm lại sáu xu hướng, tâm chánh giải thoát, không còn gì phải làm thêm, và ví dụ núi đá không bị gió lay.

Mỗi đoạn ghi nguyên văn Pāli, rồi bản Việt, rồi bản tiếng Anh. Số bên trái là số đoạn trong kinh, để đối chiếu được.

AN 6.55.1 (an6.55:1.5-1.7)
"ye kho keci bhagavato sāvakā āraddhavīriyā viharanti, ahaṁ tesaṁ aññataro. Atha ca pana me na anupādāya āsavehi cittaṁ vimuccati, saṁvijjanti kho pana me kule bhogā, sakkā bhogā ca bhuñjituṁ puññāni ca kātuṁ. Yannūnāhaṁ sikkhaṁ paccakkhāya hīnāyāvattitvā bhoge ca bhuñjeyyaṁ puññāni ca kareyyan"ti.
"Những ai là đệ tử Thế Tôn, sống tinh cần tinh tấn, ta là một trong những vị ấy. Nhưng ta còn chấp thủ, tâm chưa giải thoát khỏi các lậu hoặc. Gia đình ta có tài sản, và ta có thể hưởng thọ tài sản và làm điều công đức. Vậy ta hãy từ bỏ học pháp, hoàn tục, thọ hưởng tài sản và làm các công đức".
"I am one of the Buddha's most energetic disciples. Yet my mind is not freed from defilements by not grasping. But my family has wealth. I could enjoy that wealth and make merit. Why don't I resign the training and return to a lesser life, so I can enjoy my wealth and make merit?"
AN 6.55.1 (an6.55:4.4-4.5)
"Taṁ kiṁ maññasi, soṇa, yadā te vīṇāya tantiyo accāyatā honti, api nu te vīṇā tasmiṁ samaye saravatī vā hoti kammaññā vā"ti?
"No hetaṁ, bhante".
—Thầy nghĩ thế nào, này Sona? Khi những sợi dây đàn tỳ-bà của Thầy quá căng thẳng, trong khi ấy, đàn tỳ-bà của Thầy có phát âm hay sử dụng được không?
—Thưa không, bạch Thế Tôn.
"When your harp's strings were tuned too tight, was it resonant and playable?" "No, sir."
AN 6.55.1 (an6.55:6.1-6.2)
"Yadā pana te, soṇa, vīṇāya tantiyo na accāyatā honti nātisithilā same guṇe patiṭṭhitā, api nu te vīṇā tasmiṁ samaye saravatī vā hoti kammaññā vā"ti?
"Evaṁ, bhante".
—Nhưng này Sona? Khi những sợi dây đàn tỳ-bà của Thầy không quá căng thẳng, không quá trùng xuống, nhưng vặn đúng mức trung bình, trong khi ấy, đàn tỳ-bà của Thầy có phát âm hay sử dụng được không?
—Thưa được, bạch Thế Tôn.
"But when your harp's strings were tuned neither too tight nor too slack, but fixed at an even tension, was it resonant and playable?" "Yes, sir."
AN 6.55.1 (an6.55:7.1-7.2)
"Evamevaṁ kho, soṇa, accāraddhavīriyaṁ uddhaccāya saṁvattati, atisithilavīriyaṁ kosajjāya saṁvattati. Tasmātiha tvaṁ, soṇa, vīriyasamathaṁ adhiṭṭhaha, indriyānañca samataṁ paṭivijjha, tattha ca nimittaṁ gaṇhāhī"ti.
—Cũng vậy, này Sona, khi tinh cần tinh tấn quá căng thẳng, thời đưa đến dao động; khi tinh cần tinh tấn quá thụ động, thời đưa đến biếng nhác. Do vậy, này Sona, Thầy phải an trú tinh tấn một cách bình đẳng, thể nhập các căn một cách bình đẳng, rồi tại đấy nắm giữ tướng.
"In the same way, Soṇa, when energy is too forceful it leads to restlessness. When energy is too slack it leads to laziness. So, Soṇa, you should focus on energy and serenity, find a balance of the faculties, and learn the character of this situation."
AN 6.55.2 (an6.55:8.3-8.4)
"Khīṇā jāti, vusitaṁ brahmacariyaṁ, kataṁ karaṇīyaṁ, nāparaṁ itthattāyā"ti abbhaññāsi. Aññataro ca panāyasmā soṇo arahataṁ ahosi.
Vị ấy rõ biết: "Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, việc gì nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa". Tôn giả Sona trở thành một vị A-la-hán.
He understood: "Rebirth is ended; the spiritual journey has been completed; what had to be done has been done; there is nothing further for this place." And Venerable Soṇa became one of the perfected.
AN 6.55.3 (an6.55:10.1-10.2)
"Yo so, bhante, bhikkhu arahaṁ khīṇāsavo vusitavā katakaraṇīyo ohitabhāro anuppattasadattho parikkhīṇabhavasaṁyojano sammadaññāvimutto, so cha ṭhānāni adhimutto hoti—nekkhammādhimutto hoti, pavivekādhimutto hoti, abyāpajjādhimutto hoti, taṇhākkhayādhimutto hoti, upādānakkhayādhimutto hoti, asammohādhimutto hoti.
—Bạch Thế Tôn, Tỷ-kheo nào là bậc A-la-hán, đã đoạn tận các lậu hoặc, Phạm hạnh đã thành, đã làm những việc cần làm, đã đặt gánh nặng xuống, đã đạt được mục đích, hữu kiết sử đã trừ diệt, đã được giải thoát nhờ chánh trí; vị ấy có sáu chỗ để xu hướng, xu hướng xuất ly, xu hướng viễn ly, xu hướng vô sân, xu hướng ái diệt, xu hướng thủ diệt, xu hướng vô si.
"Sir, a mendicant who is perfected—with defilements ended, who has completed the spiritual journey, done what had to be done, laid down the burden, achieved their heart's goal, utterly ended the fetter of continued existence, and is rightly freed through enlightenment—is dedicated to six things. They are dedicated to renunciation, seclusion, kindness, the ending of craving, the ending of grasping, and mental clarity.
AN 6.55.11 (an6.55:17.9-17.12)
Seyyathāpi, bhante, selo pabbato acchiddo asusiro ekagghano. Atha puratthimāya cepi disāya āgaccheyya bhusā vātavuṭṭhi neva naṁ saṅkampeyya na sampakampeyya na sampavedheyya, atha pacchimāya cepi disāya āgaccheyya bhusā vātavuṭṭhi … atha uttarāya cepi disāya āgaccheyya bhusā vātavuṭṭhi … atha dakkhiṇāya cepi disāya āgaccheyya bhusā vātavuṭṭhi neva naṁ saṅkampeyya na sampakampeyya na sampavedheyya;
Ví như, bạch Thế Tôn, một hòn núi đá, không có rạn nứt, không có trống bọng, một tảng đá lớn, nếu từ phương Ðông mưa to gió lớn đến, không có làm rung động, rung chuyển, chuyển động mạnh núi đá ấy. Nếu từ phương Tây mưa to gió lớn đến… nếu từ phương Bắc mưa to gió lớn đến…. nếu từ phương Nam mưa to gió lớn đến không có làm rung động, rung chuyển, chuyển động mạnh núi đá ấy.
Suppose there was a mountain that was one solid mass of rock, without cracks or holes. Even if violent storms were to blow up out of the east, the west, the north, and the south, they couldn't make it shake or rock or tremble.
AN 6.55 — kệ kết (an6.55:21.1-22.4)
Selo yathā ekagghano,
vātena na samīrati;
Evaṁ rūpā rasā saddā,
gandhā phassā ca kevalā.
Iṭṭhā dhammā aniṭṭhā ca,
nappavedhenti tādino;
Ṭhitaṁ cittaṁ vippamuttaṁ,
vayañcassānupassatī"ti.
Như hòn núi đá tảng,
Gió không thể dao động,
Cũng vậy, toàn thể sắc,
Vị, tiếng, và hương, xúc,
Cho đến tất cả pháp,
Khả ái, không khả ái,
Không có thể dao động,
Một vị được như vậy,
Tâm kiên trú, giải thoát,
Thấy tánh diệt của chúng.
As the wind cannot stir a solid mass of rock, so too sights, tastes, sounds, smells, and touches—the lot— and ideas, whether liked or disliked, don't disturb the unaffected one. Their mind is steady and free as they observe fall.
Chữ PāliNghĩaGhi chú
vīriyatinh tấn, tinh cầnaccāraddhavīriya = tinh tấn quá căng thẳng; atisithilavīriya = tinh tấn quá thụ động
uddhaccatrạo cử, dao động
kosajjabiếng nhác, giải đãi
vīṇāđàn tỳ-bà
indriyānaṁ samatāsự bình đẳng (quân bình) của các cănbản Việt: "thể nhập các căn một cách bình đẳng"
nimittatướng"tattha ca nimittaṁ gaṇhāhi" — tại đấy nắm giữ tướng
āsavalậu hoặckhīṇāsava = đã đoạn tận các lậu hoặc
nekkhammaxuất ly
pavivekaviễn ly, độc cư
abyāpajjavô sân, không não hại
taṇhākkhayaái diệt (đoạn tận khát ái)
upādānakkhayathủ diệt (đoạn tận chấp thủ)
asammohavô si, không mê mờ
sīlabbataparāmāsagiới cấm thủbản Việt: "tối thắng giới cấm thủ"
āneñjappattađạt được không dao động (bất động)
arahaṁ / arahattaA-la-hán / quả vị A-la-hán
selo pabbato ekagghanonúi đá liền một tảng

Xin thưa bài kinh này con nghĩ là một trong những bài an ủi nhất trong cả Tam Tạng, và xin kể đầu đuôi.

TÔN GIẢ SOṆA là vị được xưng tán là TINH CẦN TINH TẤN bậc nhất trong hàng đệ tử. Nghĩa là: không ai gắng sức hơn Ngài.

Vậy mà trong lúc độc cư Thiền tịnh, Ngài khởi lên ý nghĩ này — và kinh chép rất thẳng, không giấu: “Những ai là đệ tử Thế Tôn, sống tinh cần tinh tấn, TA LÀ MỘT TRONG NHỮNG VỊ ẤY. Nhưng ta còn chấp thủ, TÂM CHƯA GIẢI THOÁT khỏi các lậu hoặc. Gia đình ta có tài sản… Vậy ta hãy TỪ BỎ HỌC PHÁP, HOÀN TỤC…”

Xin thưa con thấy chỗ này quý vô cùng, và rất nên đọc cho anh chị em Huynh Trưởng nghe. Người tinh tấn BẬC NHẤT cũng có lúc nản tới mức tính bỏ cuộc. Và kinh KHÔNG che chuyện đó đi.

Thế Tôn biết tâm niệm ấy, liền biến mất khỏi núi Linh Thứu và hiện ra ở rừng Sīta, “như người lực sĩ co duỗi cánh tay”.

Ngài hỏi lại đúng ý nghĩ ấy — và Tôn giả xác nhận. Không chối.

Rồi Thế Tôn không giảng đạo lý. Ngài hỏi một chuyện thuở Tôn giả còn ở nhà: “Thầy có giỏi đánh ĐÀN TỲ-BÀ không?”

Xin thưa cách dạy ấy con thấy khéo lạ thường: Ngài lấy đúng cái nghề cũ của người ấy làm ví dụ.

“Khi những sợi dây đàn tỳ-bà của Thầy QUÁ CĂNG THẲNG, đàn có phát âm hay sử dụng được không?” — “Thưa không, bạch Thế Tôn.”

“Khi những sợi dây QUÁ TRÙNG XUỐNG thì sao?” — “Thưa cũng không.”

“Nhưng khi những sợi dây KHÔNG quá căng thẳng, KHÔNG quá trùng xuống, nhưng VẶN ĐÚNG MỨC TRUNG BÌNH — đàn có phát âm hay sử dụng được không?” — “Thưa được, bạch Thế Tôn.”

Và đây là lời dạy, xin bác đọc kỹ từng chữ: “Cũng vậy, này Soṇa, khi tinh cần tinh tấn QUÁ CĂNG THẲNG, thời đưa đến DAO ĐỘNG; khi tinh cần tinh tấn QUÁ THỤ ĐỘNG, thời đưa đến BIẾNG NHÁC. Do vậy, Thầy phải AN TRÚ TINH TẤN MỘT CÁCH BÌNH ĐẲNG, THỂ NHẬP CÁC CĂN MỘT CÁCH BÌNH ĐẲNG, rồi tại đấy NẮM GIỮ TƯỚNG.”

Xin thưa chỗ này rất đáng ngẫm, vì nó ĐI NGƯỢC điều ta thường tưởng. Ta hay nghĩ: tu không tiến thì tại GẮNG CHƯA ĐỦ, phải gắng thêm nữa.

Nhưng với Tôn giả Soṇa, Thế Tôn chẩn ngược lại: bệnh của Ngài là GẮNG QUÁ. Dây căng quá thì đàn không kêu — mà căng nữa thì ĐỨT.

Và xin để ý: Thế Tôn KHÔNG bảo Ngài buông lơi. Ngài bảo BÌNH ĐẲNG — đúng mức, quân bình. Không phải bớt tu, mà là tu cho ĐÚNG ĐỘ.

Kết quả: hành đúng như vậy, Tôn giả sống độc cư không phóng dật, chứng đạt vô thượng cứu cánh Phạm hạnh NGAY TRONG HIỆN TẠI, thành bậc A-la-hán.

Xin thưa nửa sau bài kinh ít người biết, nhưng con thấy rất hay, và xin nói qua.

Tôn giả trình lên Thế Tôn: bậc A-la-hán đã đoạn tận lậu hoặc thì có SÁU CHỖ XU HƯỚNG: xuất ly, viễn ly, vô sân, ái diệt, thủ diệt, vô si.

Rồi Ngài bác ba ngộ nhận, và con thấy chỗ bác ấy rất tinh tế: xu hướng xuất ly ấy KHÔNG phải do y cứ trên LÒNG TIN SUÔNG; xu hướng viễn ly KHÔNG phải do ham LỢI DƯỠNG, CUNG KÍNH, DANH TIẾNG; xu hướng vô sân KHÔNG phải do đi ngược trở lại GIỚI CẤM THỦ.

Mà là DO ĐOẠN DIỆT VÀ VIỄN LY THAM, SÂN, SI. Nghĩa là: cái an tĩnh ấy không phải kiêng cữ bề ngoài, mà là gốc bệnh đã hết.

Kinh kết bằng ví dụ HÒN NÚI ĐÁ LIỀN MỘT TẢNG, KHÔNG RẠN NỨT: mưa to gió lớn bốn phương cũng không làm rung chuyển. Cũng vậy, tâm chơn chánh giải thoát không bị sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp chinh phục.

Xin thưa lời cuối cho anh chị em, và con nghĩ bài này nên đọc lúc mệt mỏi nhất. Ai sinh hoạt lâu năm cũng có lúc như Tôn giả Soṇa: làm hết sức mà thấy chẳng tới đâu, đâm nản, tính buông.

Bài kinh không mắng người ấy lười. Nó hỏi ngược: hay là mình đang VẶN DÂY QUÁ CĂNG?

Xin thưa thêm một ghi nhận đối chiếu, để anh chị em khỏi thắc mắc khi đọc trang. Ở ô trích đoạn 4.4, cột Pāli DÀI HƠN cột Anh một câu. Chúng con đã tự tải lại tệp nguồn và đọc tận nơi: bản Pāli quả thật có sẵn cụm “Taṁ kiṁ maññasi, soṇa,” ở đầu đoạn ấy, chép đúng như in trong nguồn; còn bản Anh của Tỳ-kheo Sujato dịch gọn hơn. Không phải chỗ sai.

  • “Tu không tiến là vì chưa gắng đủ.” Với Tôn giả Soṇa, Thế Tôn chẩn NGƯỢC LẠI: gắng quá thì đưa đến DAO ĐỘNG. Dây căng quá thì đàn không kêu.
  • “Vậy thì cứ thong thả, đừng gắng.” Kinh nói rõ vế kia: quá thụ động thì đưa đến BIẾNG NHÁC. Phải BÌNH ĐẲNG — đúng độ, không phải bớt tu.
  • “Bậc thánh thì không bao giờ nản.” Kinh chép thẳng rằng vị tinh tấn bậc nhất đã tính hoàn tục. Nản không phải là tội.
  • “Xu hướng viễn ly là thích ở một mình.” Kinh bác rõ: không phải do lòng tin suông, không phải do ham danh tiếng, không phải do giới cấm thủ — mà do đoạn diệt tham, sân, si.
  • Ngành Oanh. Chỉ cần hình ảnh dây đàn: căng quá thì đứt, chùng quá thì không kêu. Học cũng vậy, chơi cũng vậy.
  • Ngành Thiếu. Áp vào chuyện học hành: thức khuya quá thì hôm sau ngủ gật; không học gì thì cũng không xong.
  • Ngành Thanh và Huynh Trưởng. Đọc phần đầu vào lúc mệt mỏi nhất trong năm. Và bàn: “an trú tinh tấn một cách bình đẳng” trong việc đoàn nghĩa là gì?
  • Vì sao Tôn giả Soṇa tính hoàn tục?
  • Vì sao Thế Tôn hỏi về cây đàn tỳ-bà?
  • Tinh tấn quá căng và quá chùng dẫn tới gì?
  • Sáu chỗ xu hướng của bậc A-la-hán là gì?
  • Ví dụ hòn núi đá nói lên điều gì?

Nguyên văn Pāli chép từ ấn bản Mahāsaṅgīti — tệp dữ liệu gốc bilara-data của suttacentral.net, từng đoạn có đánh số. Bản tiếng Việt của Hoà thượng Thích Minh Châu; bản tiếng Anh của Tỳ-kheo Sujato. Bài này đã qua một lượt soi lại độc lập. Lượt soi ấy chỉ ra 1 chỗ cần xem lại; chỗ nào là lỗi thật thì chúng tôi đã sửa và ghi rõ ở Phần IV. Muốn đọc trọn bài kinh, xin xem nguyên văn ba thứ tiếng. Thấy chỗ nào khác ấn bản in, xin báo cho chúng tôi.