G.Đ.P.T Huyền Quang Phật Pháp · Tam Tạng Kinh Điển Tăng Chi Bộ · AN 6.54
Cây Bàng Chúa · Và Sa-Môn Pháp

Kinh Dhammika

Dhammika Sutta — AN 6.54 · Pāli · Việt · Anh

Tam TạngTạng KinhTrung BộKinh Dhammika

Tôn giả Dhammika coi sóc bảy trú xứ ở quê mình, nhưng mắng nhiếc khách Tỷ-kheo khiến họ bỏ đi — rồi bị cư sĩ mời rời khỏi CẢ BẢY. Thế Tôn KHÔNG quở mắng, mà an ủi trước, rồi dạy bằng ba ví dụ — trong đó có cây bàng chúa Suppatittha.

  • Bộ — Tăng Chi Bộ, Chương Sáu Pháp, kinh 54
  • Phẩm — Dhammika (Dhammikavagga)
  • Nơi chốnRājagaha, núi Gijjhakūṭa (Linh Thứu)
  • Đọc kèmAN 7.59 (nghinh đón và sự tồn tại của Chánh pháp)

Tôn giả Dhammika trú tại quê hương mình, coi sóc bảy trú xứ, nhưng có tật mắng nhiếc, quở trách, não hại, châm biếm các khách Tỷ-kheo bằng lời nói, khiến họ không thể an trú mà phải bỏ đi. Các cư sĩ trong vùng, vốn cúng dường đầy đủ y áo, đồ ăn khất thực, sàng tọa và dược phẩm cho chúng Tăng, tìm ra nguyên nhân và lần lượt mời Tôn giả rời khỏi từng trú xứ, cuối cùng mời rời khỏi cả bảy trú xứ. Không còn chỗ đi, Tôn giả tìm về núi Linh Thứu đảnh lễ Thế Tôn. Thế Tôn không quở mắng, mà trước hết an ủi: "Thôi vừa rồi... Dầu họ có mời Ông từ bỏ tại chỗ nào, chỗ nào, sau khi đã từ bỏ chỗ ấy, chỗ ấy, Ông đã đi đến gần Ta." Rồi Ngài dạy bằng ba ví dụ. Thứ nhất là con chim tìm bờ của các nhà buôn đường biển: bay khắp các hướng, không thấy bờ thì trở lại tàu. Thứ hai là cây bàng chúa Suppatittha của vua Koravya: cây cho trái ngọt, mọi loài đều được hưởng, không ai canh giữ, không ai tranh hại nhau; nhưng khi một người ăn no rồi bẻ gãy cành bỏ đi, vị Thiên trú ở cây nổi giận, khiến cây không sanh trái nữa, và Thiên chủ Sakka làm mưa to gió lớn bật gốc cây. Sakka dạy vị Thiên thế nào là "cây pháp": ai cần rễ, vỏ, lá, bông, trái thì cứ đến lấy, mà vị Thiên không vì thế mà không hoan hỷ. Vị Thiên nguyện gìn giữ cây pháp, cây liền được dựng lại. Từ đó Thế Tôn dạy thế nào là Sa-môn gìn giữ Sa-môn pháp: không mắng nhiếc lại người đã mắng nhiếc mình, không tức giận người đã tức giận mình, không quở trách người đã quở trách mình. Tôn giả Dhammika nhận lỗi rằng mình đã không gìn giữ Sa-môn pháp. Cuối cùng, Thế Tôn kể chuyện sáu vị ngoại đạo sư thời quá khứ đã viễn ly các dục — Sunetta, Mūgapakkha, Aranemi, Kuddālaka, Hatthipāla, Jotipāla — mỗi vị có hàng trăm đệ tử. Mắng nhiếc những vị ấy với tâm uế nhiễm đã sanh nhiều vô phước; nhưng mắng nhiếc một vị đầy đủ chánh kiến với tâm uế nhiễm còn sanh nhiều vô phước hơn nữa. Bài kinh kết bằng lời dạy phải học tập: "Chúng tôi sẽ không có tâm uế nhiễm đối với vị đồng Phạm hạnh", và bài kệ khuyên chớ xúc phạm bậc thiện, vì làm vậy trước hết là tự hại mình.

Bố cục bài kinhTheo đúng thứ tự trong kinh văn

  • 1. Duyên khởi: Tôn giả Dhammika bị mời rời bảy trú xứ — Tôn giả Dhammika mắng nhiếc các khách Tỷ-kheo tại trú xứ thứ nhất, thứ hai, rồi trú xứ khác; các cư sĩ tại chỗ sanh trưởng ba lần bàn bạc và cuối cùng mời Tôn giả rời bỏ hoàn toàn bảy trú xứ (Pali 1.1–6.13).
  • 2. Đến hầu Thế Tôn tại núi Linh Thứu — Tôn giả cầm y bát đi đến Rājagaha, đảnh lễ Thế Tôn. Thế Tôn hỏi từ đâu đến, và an ủi: bị mời rời chỗ nào thì cũng là đi đến gần Ta (Pali 7.1–7.5).
  • 3. Ví dụ con chim tìm bờ — Các nhà buôn đường biển thả chim tìm bờ; không thấy bờ thì chim bay trở lui về tàu — cũng vậy, bị mời đi chỗ nào Ông cũng trở về gần Thế Tôn (Pali 8.1–8.6).
  • 4. Ví dụ cây bàng chúa Suppatittha và vị Thiên — Cây bàng chúa của vua Koravya cho trái cho tất cả mọi loài; một người bẻ cành, vị Thiên nổi giận khiến cây không sanh trái, Thiên chủ Sakka làm bật gốc cây, rồi dạy vị Thiên thế nào là gìn giữ 'cây pháp'; vị Thiên nguyện gìn giữ, cây được dựng lại (Pali 9.1–13.1).
  • 5. Thế nào là Sa-môn gìn giữ Sa-môn pháp — Thế Tôn hỏi Tôn giả có gìn giữ Sa-môn pháp không; định nghĩa: không mắng nhiếc lại, không tức giận lại, không quở trách lại. Tôn giả nhận là mình đã không gìn giữ (Pali 13.2–13.6).
  • 6. Sáu vị ngoại đạo sư thời quá khứ — Sunetta, Mūgapakkha, Aranemi, Kuddālaka, Hatthipāla, Jotipāla — mỗi vị viễn ly các dục, có hàng trăm đệ tử, thuyết pháp về cộng trú tại Phạm thiên giới; ai không hoan hỷ thì sanh đọa xứ, ai hoan hỷ thì sanh thiện thú (Pali 13.7–18.5).
  • 7. So sánh tội mắng nhiếc và lời khuyên học tập — Mắng nhiếc sáu vị ngoại đạo sư với tâm uế nhiễm sanh nhiều vô phước; mắng nhiếc một vị đầy đủ chánh kiến còn nhiều vô phước hơn. Cần học tập: không có tâm uế nhiễm đối với vị đồng Phạm hạnh (Pali 19.1–19.10).
  • 8. Phần kệ kết — Kệ kể SÁU vị đạo sư (Pāli: “cha satthāro”) — trong đó Jotipāla chính là vị Govinda, người làm quốc sư cho BẢY VUA (Pāli: “sattapurohito”); bản Việt in “Là quốc sư thứ bảy” nên câu ấy dễ được hiểu nhầm thành một vị thứ bảy riêng. Kệ nói về quả báo của người mắng nhiếc bậc ly tham, và kết: ai tự bảo vệ mình thì bên ngoài cũng được bảo vệ (Pāli 20.1–29.4).

Mỗi đoạn ghi nguyên văn Pāli, rồi bản Việt, rồi bản tiếng Anh. Số bên trái là số đoạn trong kinh, để đối chiếu được.

AN 6.54:7.5
“Alaṁ, brāhmaṇa dhammika, kiṁ te iminā, yaṁ taṁ tato tato pabbājenti, so tvaṁ tato tato pabbājito mameva santike āgacchasi.
Thôi vừa rồi, này Bà-la-môn Dhammika! Sự việc này, đối với Ông có hề hấn gì! Dầu họ có mời Ông từ bỏ tại chỗ nào, chỗ nào, sau khi đã từ bỏ chỗ ấy, chỗ ấy, Ông đã đi đến gần Ta!
“Enough, Brahmin Dhammika, what’s that to you? Now that you’ve been banished from all of those places, you have come to me.
AN 6.54:8.1–8.5
Bhūtapubbaṁ, brāhmaṇa dhammika, sāmuddikā vāṇijā tīradassiṁ sakuṇaṁ gahetvā nāvāya samuddaṁ ajjhogāhanti. Te atīradakkhiṇiyā nāvāya tīradassiṁ sakuṇaṁ muñcanti. So gacchateva puratthimaṁ disaṁ, gacchati pacchimaṁ disaṁ, gacchati uttaraṁ disaṁ, gacchati dakkhiṇaṁ disaṁ, gacchati uddhaṁ, gacchati anudisaṁ. Sace so samantā tīraṁ passati, tathāgatakova hoti. Sace pana so samantā tīraṁ na passati tameva nāvaṁ paccāgacchati.
Trong quá khứ, này Bà-la-môn Dhammika, các nhà buôn đường biển đem theo một con chim để tìm bờ, khi họ đi tàu ra biển. Khi chiếc tàu ra xa, không thấy bờ, họ thả con chim đi tìm bờ. Con chim bay về hướng Ðông, bay về hướng Tây, bay về hướng Bắc, bay về hướng Nam, bay về hướng Trên, bay về hướng Gió. Nếu nó thấy bờ xung quanh, nó liền bay luôn. Nếu nó không thấy bờ xung quanh, nó bay trở lui về tàu.
Once upon a time, some sea-merchants set sail for the ocean deeps, taking with them a land-spotting bird. When their ship was out of sight of land, they released the bird. It flew right away to the east, the west, the north, the south, upwards, and in-between. If it saw land on any side, it went there and stayed. But if it saw no land on any side it returned to the ship.
AN 6.54:9.7–9.8
Suppatiṭṭhassa kho pana, brāhmaṇa dhammika, nigrodharājassa ekaṁ khandhaṁ rājā paribhuñjati saddhiṁ itthāgārena, ekaṁ khandhaṁ balakāyo paribhuñjati, ekaṁ khandhaṁ negamajānapadā paribhuñjanti, ekaṁ khandhaṁ samaṇabrāhmaṇā paribhuñjanti, ekaṁ khandhaṁ migā paribhuñjanti. Suppatiṭṭhassa kho pana, brāhmaṇa dhammika, nigrodharājassa na koci phalāni rakkhati, na ca sudaṁ aññamaññassa phalāni hiṁsanti.
Này Bà-la-môn Dhammika, vua với các cung nữ hưởng thụ một cành cây của cây bàng chúa Suppatittha; quân đội hưởng thụ một cành; các Sa-môn, Bà-la-môn hưởng thụ một cành; các loài thú, loài chim hưởng thụ một cành. Này Bà-la-môn Dhammika, không có ai phòng hộ các trái của cây bàng chúa Suppatittha, và không có ai hại nhau vì trái cây.
The king and harem made use of one trunk, the troops another, the people of town and country another, ascetics and brahmins another, and beasts and birds another. No one guarded the fruit, yet no one damaged another’s fruits.
AN 6.54:12.6–12.8
‘Idha, devate, rukkhassa mūlaṁ mūlatthikā haranti, tacaṁ tacatthikā haranti, pattaṁ pattatthikā haranti, pupphaṁ pupphatthikā haranti, phalaṁ phalatthikā haranti. Na ca tena devatāya anattamanatā vā anabhinandi vā karaṇīyā. Evaṁ kho, devate, rukkho rukkhadhamme ṭhito hotī’ti.
“—Ở đây, này vị Thiên kia, những người cần rễ đến lấy rễ cây đi, những người cần vỏ đến lấy vỏ cây đi. Những người cần lá đến lấy lá đi. Những người cần bông đến lấy bông đi. Những người cần trái đến lấy trái đi. Như vậy, không có gì để khiến cho một vị Thiên phải không hoan hỷ, không vui vẻ. Như vậy, là một cây được gìn giữ như một cây pháp.
‘It’s when those who need the tree’s roots, bark, leaves, flowers, or fruit take what they need. Yet the deity is not displeased or upset because of this. This is how a tree stands by its duty.’
AN 6.54:13.4–13.5
“Idha, brāhmaṇa dhammika, samaṇo akkosantaṁ na paccakkosati, rosantaṁ na paṭirosati, bhaṇḍantaṁ na paṭibhaṇḍati. Evaṁ kho, brāhmaṇa dhammika, samaṇo samaṇadhamme ṭhito hotī”ti.
—Như thế này, này Bà-la-môn Dhammika, ở đây, một Sa-môn không có mắng nhiếc lại người đã mắng nhiếc mình, không có tức giận người đã tức giận mình, không có quở trách người đã quở trách mình. Như vậy, này Bà-la-môn Dhammika, là vị Sa-môn gìn giữ Sa-môn pháp.
“When someone abuses, annoys, or argues with an ascetic, the ascetic doesn’t abuse, annoy, or argue back at them. That’s how an ascetic stands by an ascetic’s duty.”
AN 6.54:19.5–19.7
Yo ekaṁ diṭṭhisampannaṁ puggalaṁ paduṭṭhacitto akkosati paribhāsati, ayaṁ tato bahutaraṁ apuññaṁ pasavati. Taṁ kissa hetu? Nāhaṁ, brāhmaṇa dhammika, ito bahiddhā evarūpiṁ khantiṁ vadāmi, yathāmaṁ sabrahmacārīsu.
Còn ai, đối với vị đầy đủ chánh kiến, với tâm uế nhiễm, mắng nhiếc, quở trách, như vậy sanh khởi ra nhiều vô phước hơn nữa. Vì cớ sao? Ta tuyên bố rằng, này Bà-la-môn Dhammika, sự tổn hại đối với các ngoại đạo sư như vậy không bằng sự tổn hại nếu đối xử với các vị đồng Phạm hạnh.
But someone who abuses and insults a single individual accomplished in view with malicious intent brims even more with wickedness. Why is that? Brahmin Dhammika, I say that any injury done by those outside of the Buddhist community does not compare with what is done to one’s own spiritual companions.
AN 6.54:19.9
‘na no samasabrahmacārīsu cittāni paduṭṭhāni bhavissantī’ti.
Chúng tôi sẽ không có tâm uế nhiễm đối với vị đồng Phạm hạnh”. Này Bà-la-môn Dhammika, các Ông cần phải học tập như vậy.
‘We will have no malicious intent for those who we want to have as our spiritual companions.’
AN 6.54:28.1–29.4 (kệ)
Tādisaṁ bhikkhumāsajja,
pubbeva upahaññati;
Attānaṁ upahantvāna,
pacchā aññaṁ vihiṁsati.
Yo ca rakkhati attānaṁ,
rakkhito tassa bāhiro;
Tasmā rakkheyya attānaṁ,
akkhato paṇḍito sadā”ti.
Nếu phật ý vị ấy,
Trước hết tự hại mình,
Sau khi tự hại mình,
Lại hại đến người khác,
Ai tự bảo vệ mình,
Bề ngoài cũng bảo vệ,
Do vậy, bảo vệ mình,
Bậc trí không tổn hại.
If you attack such a mendicant, you first hurt yourself. Having hurt yourself, you harm the other. But if you protect yourself, the other is also protected. So you should protect yourself. An astute person is always uninjured.”
Chữ PāliNghĩaGhi chú
samaṇadhammaSa-môn pháp — bổn phận, cách hành xử của bậc Sa-mônBản Minh Châu dịch "Sa-môn pháp"; bản Sujato: "an ascetic's duty".
rukkhadhammaCây pháp — bổn phận của cây (để mọi người lấy rễ, vỏ, lá, bông, trái mà không phiền)Bản Minh Châu dịch "cây pháp".
akkosati / paribhāsatiMắng nhiếc / quở tráchChuỗi động từ trong kinh: akkosati paribhāsati vihiṁsati vitudati roseti vācāya — mắng nhiếc, quở trách, não hại, châm biếm, khiến tức giận với lời nói.
paduṭṭhacittaTâm uế nhiễm (tâm có ác ý)
diṭṭhisampannaVị đầy đủ chánh kiến
sabrahmacārīVị đồng Phạm hạnh — người cùng tu phạm hạnh
apuññaVô phước, phi phước
āgantuka bhikkhuKhách Tỷ-kheo — vị Tỷ-kheo từ nơi khác đến
āvāsaTrú xứ, chỗ ở của chúng Tăng
nigrodharājāCây bàng chúa (cây đa/nigrodha lớn)Tên cây: Suppatiṭṭha — bản Sujato dịch nghĩa là "Well Planted".
brahmalokasahabyatāCộng trú tại Phạm thiên giới
kāmesu vītarāgaĐã viễn ly (ly tham) đối với các dục
pañcindriyaNăm căn — tín, tấn, niệm, định, tuệTrong kệ 27 kể: saddhā, sati, vīriya, samatha, vipassanā (tín, niệm, tinh tấn, chỉ, quán).

Xin thưa bài kinh này kể một câu chuyện rất người, và con nghĩ nó nói đúng vào một chuyện có thật trong đoàn thể.

Tôn giả DHAMMIKA trú tại quê hương mình, coi sóc BẢY TRÚ XỨ. Nhưng Ngài có tật “mắng nhiếc, quở trách, não hại, CHÂM BIẾM các khách Tỷ-kheo bằng lời nói”, khiến họ không thể an trú mà phải bỏ đi.

Xin để ý: các cư sĩ trong vùng vẫn cúng dường ĐẦY ĐỦ y áo, đồ ăn, sàng tọa và dược phẩm cho chúng Tăng — nên họ nhận ra ngay là khách tăng cứ tới rồi lại đi.

Họ tìm ra nguyên nhân, và lần lượt mời Tôn giả rời khỏi TỪNG trú xứ — cuối cùng mời rời khỏi CẢ BẢY.

Không còn chỗ đi, Tôn giả tìm về núi Linh Thứu đảnh lễ Thế Tôn.

Và đây là chỗ con thấy cảm động nhất: Thế Tôn KHÔNG QUỞ MẮNG.

Ngài AN ỦI TRƯỚC: “Thôi vừa rồi, này Bà-la-môn Dhammika! Sự việc này, đối với Ông có hề hấn gì! Dầu họ có mời Ông từ bỏ tại chỗ nào, chỗ nào, sau khi đã từ bỏ chỗ ấy, chỗ ấy, ÔNG ĐÃ ĐI ĐẾN GẦN TA!”

Xin thưa câu ấy vừa hiền vừa khéo: mất bảy chỗ, nhưng ĐƯỜNG NÀO CŨNG DẪN VỀ ĐÂY.

Rồi Ngài dạy bằng BA VÍ DỤ.

VÍ DỤ MỘT — CON CHIM TÌM BỜ: các nhà buôn đường biển thả chim đi tìm bờ; chim bay khắp các hướng, không thấy bờ thì TRỞ LẠI TÀU.

VÍ DỤ HAI — CÂY BÀNG CHÚA SUPPATITTHA của vua Koravya, và đây là ví dụ dài nhất, đẹp nhất.

Cây ấy cho trái ngọt, và MỌI LOÀI đều được hưởng: “vua với các cung nữ hưởng thụ một cành; QUÂN ĐỘI hưởng thụ một cành; các Sa-môn, Bà-la-môn hưởng thụ một cành; CÁC LOÀI THÚ, LOÀI CHIM hưởng thụ một cành.”

“KHÔNG CÓ AI PHÒNG HỘ các trái”không ai canh giữ, không ai tranh hại nhau.

Nhưng rồi một người ăn no rồi BẺ GÃY CÀNH BỎ ĐI. Vị Thiên trú ở cây NỔI GIẬN, khiến cây KHÔNG SANH TRÁI NỮA.

Thiên chủ SAKKA làm mưa to gió lớn BẬT GỐC CÂY.

Xin thưa chỗ này rất đáng ngẫm: cây bị bật gốc KHÔNG PHẢI vì người bẻ cànhmà vì VỊ THIÊN NỔI GIẬN rồi ngừng cho trái.

Rồi Sakka dạy vị Thiên thế nào là “CÂY PHÁP”: “những người cần RỄ đến lấy rễ đi, cần VỎ đến lấy vỏ đi, cần LÁ đến lấy lá đi, cần BÔNG đến lấy bông đi, cần TRÁI đến lấy trái đi” — mà vị Thiên KHÔNG vì thế mà không hoan hỷ.

Vị Thiên NGUYỆN GÌN GIỮ cây pháp, và cây liền được DỰNG LẠI.

Từ đó Thế Tôn dạy thế nào là SA-MÔN GÌN GIỮ SA-MÔN PHÁP, và định nghĩa chỉ có ba vế:

KHÔNG mắng nhiếc lại người đã mắng nhiếc mình, KHÔNG tức giận người đã tức giận mình, KHÔNG quở trách người đã quở trách mình.

Và Tôn giả Dhammika NHẬN LỖI: mình đã KHÔNG gìn giữ Sa-môn pháp.

Cuối cùng, Thế Tôn kể chuyện SÁU vị ngoại đạo sư thời quá khứ đã viễn ly các dục — Sunetta, Mūgapakkha, Aranemi, Kuddālaka, Hatthipāla, Jotipāla — mỗi vị có hàng trăm đệ tử.

Mắng nhiếc những vị ấy với TÂM UẾ NHIỄM đã sanh nhiều vô phước; nhưng mắng nhiếc MỘT VỊ ĐẦY ĐỦ CHÁNH KIẾN với tâm uế nhiễm còn sanh nhiều vô phước HƠN NỮA.

Kinh kết bằng lời dạy phải học tập: “Chúng tôi sẽ KHÔNG có tâm uế nhiễm đối với vị ĐỒNG PHẠM HẠNH”, và bài kệ khuyên chớ xúc phạm bậc thiện, vì làm vậy TRƯỚC HẾT LÀ TỰ HẠI MÌNH.

Xin thưa lời cuối cho anh chị em, và con nghĩ bài này nói rất đúng vào việc của người trông coi một đơn vị.

Tôn giả Dhammika KHÔNG phạm giới nào, KHÔNG làm điều gì bất chính — Ngài chỉ KHÓ TÍNH VỚI KHÁCH. Vậy mà mất cả bảy trú xứ.

Và xin nhớ hình ảnh CÂY PHÁP: ai cần gì cứ đến lấy, mà người giữ cây KHÔNG VÌ THẾ MÀ KHÔNG HOAN HỶ.

Con nghĩ đó là mẫu mực cho người giữ đoàn quán, giữ chùa, giữ một chỗ chung: chỗ ấy KHÔNG PHẢI của mình.

Xin thưa hai ghi nhận về trang, con phải nói rõ chứ không sửa thầm.

Thứ nhất: bản dựng đầu tóm lược rằng bài kệ kể “sáu vị cùng Govinda là quốc sư THỨ BẢY” — tức hiểu Govinda là một vị thứ bảy riêng.

Chúng con đã TỰ TẢI LẠI tệp nguồn và đọc tận nơi: bản Pāli (an6.54:21.1–21.4) ghi “Jotipālo ca govindo, ahu SATTAPUROHITO… CHA satthāro yasassino” — nghĩa là kệ kể SÁU vị đạo sư, và JOTIPĀLA CHÍNH LÀ vị Govinda, người làm quốc sư cho BẢY VUA. Bản Việt in “Là quốc sư thứ bảy” nên câu ấy dễ hiểu nhầm. Ô trích GIỮ NGUYÊN chữ của bản Việt; chỗ được sửa là câu tóm lược do trang soạn.

Thứ hai: có ý kiến chưa kiểm được biên số đoạn của bài kệ cuối. Chúng con đã tải lại và đếm tận nơi — ô ấy đúng là an6.54:28.1–29.4, khớp từng chữ; không sửa gì.

  • “Tôn giả Dhammika bị đuổi vì phạm giới.” Ngài KHÔNG phạm giới nào — chỉ mắng nhiếc, quở trách, châm biếm khách Tỷ-kheo, khiến họ bỏ đi.
  • “Cây bị bật gốc vì người bẻ cành.” Kinh cho thấy khác: vị Thiên NỔI GIẬN rồi ngừng cho tráirồi cây mới bị bật gốc.
  • “Sa-môn pháp là giữ nhiều điều luật.” Định nghĩa của kinh chỉ có BA vế: không mắng nhiếc lại, không tức giận lại, không quở trách lại.
  • “Bài kệ kể bảy vị đạo sư.” Bản Pāli ghi “cha satthāro” — SÁU vị; Jotipāla chính là vị Govinda, làm quốc sư cho bảy VUA.
  • Ngành Oanh. Kể chuyện cây bàng cho trái: ai cần cũng được hái, cây không giận.
  • Ngành Thiếu. Học ba vế của Sa-môn phápkhông mắng lại, không giận lại, không trách lại.
  • Ngành Thanh và Huynh Trưởng. Đọc trước khi nhận việc trông coi đoàn quán hay một chỗ chung. Bàn: hình ảnh “cây pháp” dạy gì cho người giữ chỗ chung?
  • Vì sao Tôn giả Dhammika bị mời rời cả bảy trú xứ?
  • Thế Tôn an ủi Ngài bằng câu nào?
  • Cây bàng chúa bị bật gốc vì đâu?
  • “Cây pháp” nghĩa là gì?
  • Sa-môn gìn giữ Sa-môn pháp là thế nào?

Nguyên văn Pāli chép từ ấn bản Mahāsaṅgīti — tệp dữ liệu gốc bilara-data của suttacentral.net, từng đoạn có đánh số. Bản tiếng Việt của Hoà thượng Thích Minh Châu; bản tiếng Anh của Tỳ-kheo Sujato. Bài này đã qua một lượt soi lại độc lập. Lượt soi ấy chỉ ra 2 chỗ cần xem lại; chỗ nào là lỗi thật thì chúng tôi đã sửa và ghi rõ ở Phần IV. Muốn đọc trọn bài kinh, xin xem nguyên văn ba thứ tiếng. Thấy chỗ nào khác ấn bản in, xin báo cho chúng tôi.