G.Đ.P.T Huyền Quang Phật Pháp · Tam Tạng Kinh Điển Tăng Chi Bộ · AN 6.45
Nghèo · Nợ · Tiền Lời · Bị Đòi · Bị Truy · Bị Trói

Kinh Nghèo Khổ (Kinh Nợ)

Iṇa Sutta — AN 6.45 · Pāli · Việt · Anh

Tam TạngTạng KinhTrung BộKinh Nghèo Khổ (Kinh Nợ)

Đức Phật dựng một chuỗi SÁU nỗi khổ nối nhau của người nghèo mắc nợ — nghèo → nợ → tiền lời → bị đòi → bị truy tìm → bị trói. Rồi Ngài dùng đúng chuỗi ấy cho cái nghèo BÊN TRONG: người không có năm thiện tài — tín, tàm, quý, tấn, tuệ.

  • Bộ — Tăng Chi Bộ, Chương Sáu Pháp, kinh 45
  • Phẩm — Dhammika
  • Năm thiện tài — chính là năm sức mạnh hữu học ở AN 5.2 trên trang này
  • Bản Việt — Hoà thượng Thích Minh Châu, nhan đề Nghèo Khổ

Kinh Iṇasutta (AN 6.45, phẩm Dhammika, Chương Sáu Pháp) là một bài kinh Đức Phật dạy cho chư Tỷ-kheo, dùng hình ảnh rất đời thường của người nghèo mắc nợ để chỉ cho cái nghèo trong đời sống tâm linh. Mở đầu, Đức Phật hỏi và chư Tỷ-kheo đáp theo từng bước, thành một chuỗi sáu nỗi khổ nối nhau: nghèo khổ là khổ; vì nghèo nên mắc nợ, mắc nợ là khổ; mắc nợ thì phải chịu tiền lời, tiền lời là khổ; đến hạn không trả nổi thì bị hối thúc, đốc thúc; bị hối thúc mà vẫn không trả được thì bị người ta theo sát gót truy tìm; cuối cùng là bị bắt trói. Mỗi bước đều là "một sự đau khổ cho người có tham dục ở đời". Kế đó Đức Phật chuyển sang nghĩa thứ hai, sâu hơn: trong Luật của bậc Thánh, người "nghèo khổ, không có sở hữu, sống túng thiếu" chính là người không có năm thiện tài — lòng tin (saddhā), hổ thẹn (hiri), sợ hãi điều ác (ottappa), tinh tấn (vīriya) và trí tuệ (paññā) đối với các thiện pháp. Vì thiếu năm điều ấy nên người ấy làm ác hạnh về thân, lời, ý — đó là mắc nợ. Vì muốn che giấu ác hạnh nên khởi ác dục "Mong rằng không ai biết ta làm" — đó là tiền lời gia tăng. Bị các bạn đồng Phạm hạnh thuần thành nói ra sở hành của mình — đó là bị hối thúc. Khi vào rừng, đến gốc cây, đến ngôi nhà trống mà các ác bất thiện tầm câu hữu với hối lỗi hiện hành — đó là bị theo sát gót, truy tìm. Cuối cùng, thân hoại mạng chung bị trói buộc trong Địa ngục hay loài bàng sanh; Đức Phật nói không thấy trói buộc nào khắc nghiệt hơn thế. Phần cuối là bài kệ dài, lặp lại toàn bộ ví dụ, rồi nói mặt ngược lại: người tại gia có lòng tin, bố thí đúng pháp thì được hạnh phúc cả hai đời; người an trú tín tâm, có hổ thẹn, sợ hãi, có trí, giữ giới thì được gọi là "Sống an lạc", từ bỏ năm triền cái, chứng Thiền định, đoạn diệt kiết sử, tâm giải thoát. Kinh kết bằng câu: trạng thái không nợ (ānaṇya) mới là tối thượng.

Bố cục bài kinhTheo đúng thứ tự trong kinh văn

  • 1. Chuỗi sáu nỗi khổ của người nghèo mắc nợ (vấn đáp) — Đức Phật hỏi từng bước: nghèo khổ, mắc nợ, tiền lời, bị hối thúc–đốc thúc, bị theo sát gót truy tìm, bị bắt trói; mỗi bước chư Tỷ-kheo đều đáp "Thưa vâng, bạch Thế Tôn" (đoạn 1–6).
  • 2. Tổng kết và chuyển sang nghĩa trong Luật bậc Thánh — Tóm lại cả sáu điều là khổ cho người có tham dục ở đời; rồi "Cũng vậy", ai không có lòng tin, hổ thẹn, sợ hãi, tinh tấn, trí tuệ trong các thiện pháp thì được gọi là người nghèo khổ, không sở hữu, sống túng thiếu trong Luật của bậc Thánh (đoạn 7).
  • 3. Đối chiếu từng chi: mắc nợ, tiền lời, hối thúc, truy tìm — Làm ác hạnh thân–lời–ý là mắc nợ; khởi ác dục "Mong rằng không ai biết ta làm" để che giấu là tiền lời gia tăng; bị các đồng Phạm hạnh thuần thành nói ra sở hành là bị hối thúc; ác bất thiện tầm câu hữu với hối lỗi hiện hành nơi rừng, gốc cây, nhà trống là bị theo sát gót truy tìm (đoạn 8–11).
  • 4. Sự trói buộc: Địa ngục và bàng sanh — Sau khi làm ác hạnh về thân, lời, ý, khi thân hoại mạng chung bị trói buộc trong trói buộc của Địa ngục hay của loài bàng sanh; Đức Phật không thấy trói buộc nào khắc nghiệt, ác liệt, chướng ngại hơn cho sự chứng đắc vô thượng an ổn khỏi các khổ ách (đoạn 12).
  • 5. Bài kệ: mặt tối — người ác tuệ, ác nghiệp — Kệ lặp lại ví dụ nghèo–nợ–truy lùng–trói buộc, rồi nói người không lòng tin, không xấu hổ sợ hãi, che giấu ác nghiệp, bị tư tưởng khổ đau sanh từ hối hận truy tìm ở làng hoặc ở rừng, rơi vào bàng sanh hay Địa ngục (kệ 13–20).
  • 6. Bài kệ: mặt sáng — bố thí, giới, thiền, giải thoát không nợ — Người tâm tịnh bố thí với vật dụng đúng pháp được hạnh phúc hiện tại và an lạc đời sau; người an trú tín tâm, có xấu hổ sợ hãi, có trí, bảo hộ giới được gọi "Sống an lạc", từ bỏ năm triền cái, chứng Thiền định, đoạn diệt kiết sử, chơn chánh tâm giải thoát; kết bằng "Trạng thái không nợ này, Được xem là tối thượng" (kệ 21–28).

Mỗi đoạn ghi nguyên văn Pāli, rồi bản Việt, rồi bản tiếng Anh. Số bên trái là số đoạn trong kinh, để đối chiếu được.

AN 6.45.1
“Dāliddiyaṁ, bhikkhave, dukkhaṁ lokasmiṁ kāmabhogino”ti?
“Evaṁ, bhante”.
—Sự nghèo khổ, này các Tỷ-kheo, có phải là một sự đau khổ cho người có tham dục ở đời?
—Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
“Mendicants, isn't poverty suffering in the world for a person who enjoys sensual pleasures?” “Yes, sir.”
AN 6.45.7
“Iti kho, bhikkhave, dāliddiyampi dukkhaṁ lokasmiṁ kāmabhogino, iṇādānampi dukkhaṁ lokasmiṁ kāmabhogino, vaḍḍhipi dukkhā lokasmiṁ kāmabhogino, codanāpi dukkhā lokasmiṁ kāmabhogino, anucariyāpi dukkhā lokasmiṁ kāmabhogino, bandhanampi dukkhaṁ lokasmiṁ kāmabhogino;
—Này các Tỷ-kheo, như vậy, nghèo khổ là một sự đau khổ cho người có tham dục ở đời; mắc nợ cũng là một sự đau khổ cho người có tham dục ở đời; tiền lời cũng là một sự đau khổ cho người có tham dục ở đời; bị hối thúc, đốc thúc cũng là một sự đau khổ cho người có tham dục ở đời; bị theo sát gót, bị truy tìm cũng là một sự đau khổ cho người có tham dục ở đời; bị bắt trói cũng là một sự đau khổ cho người có tham dục ở đời.
“So mendicants, poverty, debt, interest, warnings, prosecution, and imprisonment are suffering in the world for those who enjoy sensual pleasures.
AN 6.45.7
evamevaṁ kho, bhikkhave, yassa kassaci saddhā natthi kusalesu dhammesu, hirī natthi kusalesu dhammesu, ottappaṁ natthi kusalesu dhammesu, vīriyaṁ natthi kusalesu dhammesu, paññā natthi kusalesu dhammesu—ayaṁ vuccati, bhikkhave, ariyassa vinaye daliddo assako anāḷhiko.
Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ai không có lòng tin trong các thiện pháp, không có lòng hổ thẹn trong các thiện pháp, không có lòng sợ hãi trong các thiện pháp, không có tinh tấn trong các thiện pháp, không có trí tuệ trong các thiện pháp; người này, này các Tỷ-kheo, được gọi là người nghèo khổ, không có sở hữu, sống túng thiếu trong Luật của bậc Thánh.
In the same way, whoever has no faith, conscience, prudence, energy, and wisdom when it comes to skillful qualities is called poor and penniless in the training of the Noble One.
AN 6.45.9
So tassa kāyaduccaritassa paṭicchādanahetu pāpikaṁ icchaṁ paṇidahati. ‘Mā maṁ jaññū’ti icchati, ‘mā maṁ jaññū’ti saṅkappati, ‘mā maṁ jaññū’ti vācaṁ bhāsati, ‘mā maṁ jaññū’ti kāyena parakkamati.
Người ấy do nhân che giấu thân ác hạnh, khởi lên ác dục, muốn rằng: “Mong rằng không ai biết ta làm”, suy nghĩ rằng: “Mong rằng không ai biết ta làm”, nói rằng: “Mong rằng không ai biết ta làm”, cố gắng với tác động về thân, nghĩ rằng: “Mong rằng không ai biết ta làm”.
In order to conceal the bad things they do by way of body, speech, and mind they harbor corrupt wishes. They wish, plan, speak, and act with the thought: ‘May no one find me out!’
AN 6.45.11
Tamenaṁ araññagataṁ vā rukkhamūlagataṁ vā suññāgāragataṁ vā vippaṭisārasahagatā pāpakā akusalavitakkā samudācaranti. Idamassa anucariyāya vadāmi.
rồi đi đến rừng hay đi đến gốc cây, hay đi đến ngôi nhà trống, các ác bất thiện tầm, câu hữu với hối lỗi hiện hành. Ðây Ta gọi là bị theo sát gót, bị truy tìm.
When they go to a wilderness, the root of a tree, or an empty hut, they're beset by remorseful, unskillful thoughts. This is how they're prosecuted, I say.
AN 6.45.12
Nāhaṁ, bhikkhave, aññaṁ ekabandhanampi samanupassāmi evaṁdāruṇaṁ evaṅkaṭukaṁ evaṁantarāyakaraṁ anuttarassa yogakkhemassa adhigamāya, yathayidaṁ, bhikkhave, nirayabandhanaṁ vā tiracchānayonibandhanaṁ vāti.
Và này các Tỷ-kheo, Ta không thấy một trói buộc nào khác lại khắc nghiệt như vậy, lại ác liệt như vậy, lại làm chướng ngại như vậy cho sự chứng đắc vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, này các Tỷ-kheo, giống như sự trói buộc Ðịa ngục hay sự trói buộc các loài bàng sanh.
I don't see a single prison that's as grim, as vicious, and such an obstacle to reaching the supreme sanctuary from the yoke as the prison of hell or the animal realm.
AN 6.45, kệ 21–22
Etañhi bandhanaṁ dukkhaṁ,
yamhā dhīro pamuccati;
Dhammaladdhehi bhogehi,
dadaṁ cittaṁ pasādayaṁ.
Ubhayattha kaṭaggāho,
saddhassa gharamesino;
Diṭṭhadhammahitatthāya,
samparāyasukhāya ca;
Evametaṁ gahaṭṭhānaṁ,
cāgo puññaṁ pavaḍḍhati.
Trói buộc này là khổ.
Bậc trí được giải thoát,
Ai tâm tịnh bố thí,
Với vật dụng đúng pháp,
Gieo cầu may hai đường,
Tín tại gia tìm cầu,
Hiện tại được hạnh phúc,
Ðời sau được an lạc.
Như vậy tại gia thí,
Tăng trưởng các công đức.
Such imprisonment is true suffering, from which the attentive are released. With confident heart, they give with wealth that is properly earned. That faithful householder of discernment holds a winning hand on both counts: welfare and benefit in this life, and happiness in lives to come. This is how, for a householder, merit grows by generosity.
AN 6.45, kệ 28
Etaṁ kho paramaṁ ñāṇaṁ,
etaṁ sukhamanuttaraṁ;
Asokaṁ virajaṁ khemaṁ,
etaṁ ānaṇyamuttaman”ti.
Trí này, trí tối thượng,
Lạc này, lạc vô thượng,
Không sầu, không trần cấu,
Ðược an ổn, (giải thoát),
Trạng thái không nợ này,
Ðược xem là tối thượng.
This is the ultimate knowledge. This is the supreme happiness. Sorrowless, stainless, secure: this is the highest freedom from debt.”
Chữ PāliNghĩaGhi chú
iṇaNợ, sự mắc nợTên kinh Iṇasutta; bản Việt HT. Minh Châu đặt nhan đề là "Nghèo Khổ".
ānaṇyaTrạng thái không nợChữ kết thúc bài kinh: "Trạng thái không nợ này, Được xem là tối thượng".
dāliddiya / daliddoSự nghèo khổ / người nghèo khổ
assako anāḷhikoKhông có sở hữu, sống túng thiếu
kāmabhogīNgười có tham dục (người thọ hưởng các dục)
saddhāLòng tin
hiriLòng hổ thẹn (tự thẹn với điều ác)
ottappaLòng sợ hãi (sợ điều ác, sợ quả báo)
vīriyaTinh tấn
paññāTrí tuệ
kusalā dhammāCác thiện pháp
duccaritaÁc hạnh (về thân, lời, ý)
vaḍḍhiTiền lời, tiền lãi
codanāSự hối thúc, đốc thúc
anucariyāSự theo sát gót, truy tìm
bandhanaSự bắt trói, trói buộc
vippaṭisāraHối lỗi, hối hận
nīvaraṇaTriền cái (năm triền cái)
saṁyojanaKiết sử
yogakkhemaAn ổn khỏi các khổ ách
ariyassa vinayaLuật của bậc Thánh

Xin thưa bài kinh này mở đầu bằng lối VẤN ĐÁP, và lối ấy làm nên sức nặng của nó. Đức Phật KHÔNG giảng. Ngài HỎI — từng bước một — và chư Tỷ-kheo đáp “Thưa vâng, bạch Thế Tôn”.

“SỰ NGHÈO KHỔ có phải là một sự đau khổ cho người có tham dục ở đời?” — Thưa vâng.

Rồi từng bước, chuỗi ấy siết dần: vì nghèo nên MẮC NỢ — mắc nợ là khổ. Mắc nợ thì phải chịu TIỀN LỜI — tiền lời là khổ. Đến hạn không trả nổi thì BỊ HỐI THÚC, ĐỐC THÚC. Bị hối thúc mà vẫn không trả được thì BỊ NGƯỜI TA THEO SÁT GÓT TRUY TÌM. Và cuối cùng: BỊ BẮT TRÓI.

Xin để ý cách dựng chuỗi ấy: MỖI BƯỚC ĐỀU LÀ HẬU QUẢ TỰ NHIÊN CỦA BƯỚC TRƯỚC. Không có bước nào là do ác ý của ai. Nó cứ thế mà siết.

Và mỗi bước đều được gọi bằng đúng một câu: “một sự đau khổ cho NGƯỜI CÓ THAM DỤC Ở ĐỜI”.

Rồi Đức Phật chuyển sang nghĩa thứ hai — và đây mới là chỗ Ngài nhắm tới. “CŨNG VẬY, này các Tỷ-kheo…”

Trong LUẬT CỦA BẬC THÁNH, người “NGHÈO KHỔ, KHÔNG CÓ SỞ HỮU, SỐNG TÚNG THIẾU” là người KHÔNG CÓ NĂM ĐIỀU trong các thiện pháp: LÒNG TIN, HỔ THẸN, SỢ HÃI điều ác, TINH TẤN, và TRÍ TUỆ.

Xin thưa: năm điều ấy chính là NĂM SỨC MẠNH HỮU HỌC ở Kinh AN 5.2 trên trang này. Bài kia gọi chúng là SỨC MẠNH; bài này cho thấy KHÔNG CÓ chúng thì gọi là NGHÈO. Hai bài soi nhau rất rõ.

Rồi Ngài ráp từng chi của chuỗi vào:

MẮC NỢ = làm ÁC HẠNH về thân, về lời, về ý.

TIỀN LỜI = vì muốn CHE GIẤU ác hạnh ấy nên khởi ác dục: “MONG RẰNG KHÔNG AI BIẾT TA LÀM” — rồi suy nghĩ như vậy, nói như vậy, và CỐ GẮNG VỚI TÁC ĐỘNG VỀ THÂN để không ai biết.

Xin dừng ở chỗ này, vì con thấy đây là chỗ sắc nhất của bài kinh. Việc ác đã làm là món NỢ GỐC. Còn công sức bỏ ra để GIẤU nó là TIỀN LỜI — cứ mỗi ngày lại thêm một chút.

Và tiền lời thì, như ai cũng biết, có thể lớn hơn nợ gốc rất nhiều. Nhiều người khổ vì che giấu hơn là khổ vì chính việc đã làm.

BỊ HỐI THÚC = bị các bạn ĐỒNG PHẠM HẠNH THUẦN THÀNH nói ra sở hành của mình.

BỊ THEO SÁT GÓT, TRUY TÌM = khi đi vào RỪNG, đến GỐC CÂY, đến NGÔI NHÀ TRỐNG, thì “các ác bất thiện tầm, CÂU HỮU VỚI HỐI LỖI, hiện hành”.

Xin thưa hình ảnh ấy đắt tới mức con nghĩ ai từng giấu một điều gì đều nhận ra. Người mắc nợ chạy vào rừng để trốn chủ nợ. Nhưng cái theo vào rừng KHÔNG phải chủ nợ — mà là chính ý nghĩ của mình. Chỗ vắng người lại là chỗ nó đuổi kịp.

BỊ TRÓI = sau khi làm ác hạnh, khi thân hoại mạng chung thì bị trói buộc trong Địa ngục hay loài bàng sanh. Và Ngài nói: “Ta KHÔNG THẤY một trói buộc nào khác lại KHẮC NGHIỆT như vậy, lại ÁC LIỆT như vậy, lại LÀM CHƯỚNG NGẠI như vậy cho sự chứng đắc vô thượng an ổn.”

Rồi bài kệ dài ở cuối lặp lại toàn bộ ví dụ, và sau đó MỞ RA MẶT NGƯỢC LẠI — đây là phần con muốn anh chị em để ý, vì bài kinh không kết ở chỗ tối.

Người tại gia CÓ LÒNG TIN, BỐ THÍ ĐÚNG PHÁP thì “HIỆN TẠI ĐƯỢC HẠNH PHÚC, ĐỜI SAU ĐƯỢC AN LẠC”.

Người AN TRÚ TÍN TÂM, có HỔ THẸN, có SỢ HÃI, CÓ TRÍ, GIỮ GIỚI thì được gọi là “SỐNG AN LẠC”; rồi TỪ BỎ NĂM TRIỀN CÁI, CHỨNG THIỀN ĐỊNH, ĐOẠN DIỆT KIẾT SỬ, TÂM GIẢI THOÁT.

Và câu chốt của cả bài kinh: “TRẠNG THÁI KHÔNG NỢ NÀY, ĐƯỢC XEM LÀ TỐI THƯỢNG.” Chữ Pāli là ĀNAṆYA — không mắc nợ.

Xin thưa lời cuối cho anh chị em, và con nghĩ bài này rất nên dạy cho ngành Thanh và các anh chị đã đi làm. Vì bài kinh nói về NỢ theo nghĩa đen trước, và nói rất thông cảm — nó KHÔNG chê người nghèo, KHÔNG chê người mắc nợ. Nó chỉ tả cái chuỗi ấy siết như thế nào.

Và điều đáng dạy nhất, con nghĩ, là chỗ TIỀN LỜI. Với các em: làm sai một việc là món nợ gốc — còn nói dối để giấu, rồi nói dối tiếp để đỡ lời nói dối trước, ấy là tiền lời. Nợ gốc trả một lần là xong; tiền lời thì cứ chồng lên mãi.

Và xin nói cho các em biết chỗ dứt: bài kinh KHÔNG kết bằng địa ngục. Nó kết bằng hai chữ KHÔNG NỢ — và gọi đó là TỐI THƯỢNG. Nhận lỗi ra là trả xong nợ gốc, và tiền lời ngừng lại ngay hôm ấy.

  • “Kinh chê người nghèo.” Kinh không chê ai cả — nó tả cái chuỗi nghèo → nợ → tiền lời siết như thế nào, rồi mượn hình ảnh ấy để nói về cái nghèo bên trong.
  • “Nợ trong đạo là việc ác đã làm.” Việc ác là NỢ GỐC; còn công sức bỏ ra để CHE GIẤU — “mong rằng không ai biết ta làm” — mới là TIỀN LỜI, và tiền lời chồng lên mãi.
  • “Vào rừng vắng thì yên.” Kinh nói ngược lại: chính khi vào rừng, đến gốc cây, đến nhà trống thì các ác bất thiện tầm câu hữu với hối lỗi hiện hành.
  • “Bài kinh kết bằng địa ngục.” Bài kệ cuối mở ra mặt sáng và kết bằng: “TRẠNG THÁI KHÔNG NỢ NÀY, ĐƯỢC XEM LÀ TỐI THƯỢNG.”
  • Ngành Oanh. Dạy chỗ tiền lời bằng lời giản dị: làm sai một lần, rồi nói dối để giấu, thì phải nói dối thêm hoài.
  • Ngành Thiếu. Học năm thiện tài (tín, tàm, quý, tấn, tuệ) — đọc kèm AN 5.2 trên trang này.
  • Ngành Thanh và Huynh Trưởng. Bàn hình ảnh “vào rừng mà vẫn bị truy tìm”: cái gì thật sự đuổi theo người ấy?
  • Chuỗi sáu nỗi khổ của người mắc nợ là gì?
  • Trong Luật bậc Thánh, ai là người nghèo khổ?
  • Cái gì được ví với tiền lời?
  • Câu chốt của bài kinh là câu nào?

Nguyên văn Pāli chép từ ấn bản Mahāsaṅgīti — tệp dữ liệu gốc bilara-data của suttacentral.net, từng đoạn có đánh số. Bản tiếng Việt của Hoà thượng Thích Minh Châu; bản tiếng Anh của Tỳ-kheo Sujato. Bài này đã qua một lượt soi lại độc lập. Muốn đọc trọn bài kinh, xin xem nguyên văn ba thứ tiếng. Thấy chỗ nào khác ấn bản in, xin báo cho chúng tôi.