G.Đ.P.T Huyền Quang Phật Pháp · Tam Tạng Kinh Điển Tăng Chi Bộ · AN 6.42
Danh Vọng · “Lạc Như Phân” Và Con Đường Vắng Người

Kinh Tôn Giả Nāgita

Nāgita Sutta — AN 6.42 · Pāli · Việt · Anh

Tam TạngTạng KinhTrung BộKinh Tôn Giả Nāgita

Dân làng kéo đến cúng dường, ồn ào ngoài cổng. Thế Tôn hỏi: “ai cao tiếng lớn tiếng NHƯ NHỮNG NGƯỜI ĐÁNH CÁ ĐANG GIẾT HẠI CÁ?” — rồi nói câu then chốt: “Ta KHÔNG CÓ LIÊN HỆ GÌ với danh vọng và danh vọng không có liên hệ gì với Ta.”

  • Bộ — Tăng Chi Bộ, Chương Sáu Pháp, kinh 42
  • Phẩm — Chư Thiên (Devatāvagga), bài thứ mười hai
  • Nơi chốnkhóm rừng Icchānaṅgala, giữa dân chúng Kosala
  • Đọc kèmAN 5.30 (cũng với Tôn giả Nāgita) và AN 6.54

Kinh Tôn Giả Nāgita ghi lại một lời dạy rất thẳng thắn của Đức Phật về danh vọng và về đời sống viễn ly. Khi Thế Tôn trú trong khóm rừng Icchānaṅgala, các Bà-la-môn gia chủ trong làng đem rất nhiều thức ăn đến cúng dường, đứng ngoài cổng ồn ào lớn tiếng. Thế Tôn hỏi thị giả Nāgita: tiếng ồn ấy là ai, "như những người đánh cá đang giết hại cá?" Khi biết đó là dân làng đến cúng dường, Thế Tôn nói câu then chốt của bài kinh: "Ta không có liên hệ gì với danh vọng và danh vọng không có liên hệ gì với Ta." Những ai không tự mình đạt được an ổn lạc, viễn ly lạc, an tịnh lạc, chánh giác lạc — bốn thứ lạc mà Thế Tôn tìm được không khó khăn, không mệt nhọc, không phí sức — thì hãy để họ thọ hưởng thứ lạc mà Ngài gọi thẳng là "lạc như phân", tức thụy miên lạc và lạc do lợi dưỡng, cung kính, danh văn. Tôn giả Nāgita thỉnh cầu Thế Tôn nhận lời, ví dân chúng khắp thị trấn và quốc độ sẽ hướng về Ngài như trời mưa nặng hột thì nước chảy xuôi theo chiều dốc, vì giới hạnh và trí tuệ của Thế Tôn. Thế Tôn lặp lại nguyên vẹn lời dạy trên, không đổi. Tiếp đó Thế Tôn nêu năm trường hợp Ngài quan sát các Tỷ-kheo, cho thấy tiêu chuẩn đánh giá không nằm ở chỗ ở mà ở tâm: vị ngồi thiền định ở cuối làng thì Ngài không hoan hỷ vì e bị người phá phách làm xuất khỏi thiền định; vị ở rừng dù đang ngồi ngủ gục Ngài vẫn hoan hỷ, vì vị ấy sẽ đoạn trừ ngủ nghỉ mà đạt nhất tâm; vị ở rừng ngồi chưa thiền định, hoặc đã thiền định, Ngài đều hoan hỷ; vị ở cuối làng được nhiều vật dụng rồi thích thú lợi dưỡng, bỏ phế thiền tịnh và trú xứ rừng núi xa vắng thì Ngài không hoan hỷ; còn vị ở rừng tuy có nhận vật dụng nhưng chận đứng lợi dưỡng cung kính danh văn, không bỏ phế thiền tịnh, thì Ngài hoan hỷ. Kinh kết bằng một câu rất người và rất sâu: khi đi trên đường mà trước mặt sau lưng không thấy ai, khi ấy Thế Tôn cảm thấy an ổn, cho đến vấn đề đi đại, tiểu tiện.

Bố cục bài kinhTheo đúng thứ tự trong kinh văn

  • 1. Duyên khởi tại Icchānaṅgala — Thế Tôn bộ hành giữa dân chúng Kosala, trú tại khóm rừng Icchānaṅgala. Các Bà-la-môn gia chủ nghe tiếng đồn tốt đẹp về Thế Tôn, sáng hôm sau đem nhiều đồ ăn loại cứng và loại mềm đến, đứng ngoài cổng cao tiếng lớn tiếng. (Pali 1.1–1.9)
  • 2. Thế Tôn hỏi Tôn giả Nāgita và tuyên bố về danh vọng — Tôn giả Nāgita là thị giả. Thế Tôn hỏi ai cao tiếng lớn tiếng như người đánh cá đang giết hại cá; Nāgita thưa đó là dân làng đến cúng dường. Thế Tôn dạy: Ta không có liên hệ gì với danh vọng, và nêu bốn lạc (an ổn, viễn ly, an tịnh, chánh giác) đối lập với lạc như phân, thụy miên lạc, lợi dưỡng cung kính danh văn lạc. (Pali 2.1–2.7)
  • 3. Tôn giả Nāgita thỉnh cầu — ví dụ mưa nặng hột — Nāgita xin Thế Tôn chấp nhận, nói rằng Thế Tôn đi đến đâu thì các Bà-la-môn gia chủ ở thị trấn và quốc độ cũng hướng về đó, như trời mưa nặng hột thì nước chảy tùy theo chiều dốc — vì giới hạnh và trí tuệ của Thế Tôn. Thế Tôn lặp lại nguyên vẹn lời dạy về danh vọng. (Pali 3.1–4.3)
  • 4. Năm trường hợp quan sát Tỷ-kheo — (a) Tỷ-kheo ngồi thiền định ở cuối làng — Thế Tôn không hoan hỷ (Pali 5); (b) Tỷ-kheo ở rừng ngồi ngủ gục — hoan hỷ (Pali 6); (c) Tỷ-kheo ở rừng ngồi không thiền định — hoan hỷ (Pali 7); (d) Tỷ-kheo ở rừng ngồi với tâm thiền định — hoan hỷ (Pali 8); (e) Tỷ-kheo ở cuối làng thích thú lợi dưỡng, bỏ phế thiền tịnh — không hoan hỷ (Pali 9); Tỷ-kheo ở rừng chận đứng lợi dưỡng, không bỏ phế thiền tịnh — hoan hỷ (Pali 10).
  • 5. Kết: sự an ổn khi không thấy ai trước mặt sau lưng — Khi đi trên đường, trước mặt không thấy ai, sau lưng không thấy ai, khi ấy Thế Tôn cảm thấy an ổn, cho đến vấn đề đi đại, tiểu tiện. (Pali 11.1)

Mỗi đoạn ghi nguyên văn Pāli, rồi bản Việt, rồi bản tiếng Anh. Số bên trái là số đoạn trong kinh, để đối chiếu được.

AN 6.42, đoạn 1 (Pali 1.1–1.3; TTC 1)
Evaṁ me sutaṁ—ekaṁ samayaṁ bhagavā kosalesu cārikaṁ caramāno mahatā bhikkhusaṅghena saddhiṁ yena icchānaṅgalaṁ nāma kosalānaṁ brāhmaṇagāmo tadavasari. Tatra sudaṁ bhagavā icchānaṅgale viharati icchānaṅgalavanasaṇḍe.
Như vậy tôi nghe: Một thời Thế Tôn đang bộ hành giữa các người Kosala, cùng với đại chúng Tỷ-kheo đi đến một làng Bà-la-môn tên là Icchànangala. Tại đấy, Thế Tôn trú ở Icchànangala, trong khóm rừng Icchànangala.
So I have heard. At one time the Buddha was wandering in the land of the Kosalans together with a large Saṅgha of mendicants when he arrived at a village of the Kosalan brahmins named Icchānaṅgala. He stayed in a forest near Icchānaṅgala.
AN 6.42, đoạn 2 (Pali 2.3; TTC 2)
“ke pana te, nāgita, uccāsaddā mahāsaddā kevaṭṭā maññe macchavilope”ti?
—Này Nàgita, những ai đã cao tiếng và lớn tiếng như những người đánh cá đang giết hại cá?
“Nāgita, who’s making that colossal racket? You’d think it was fishermen hauling in a catch!”
AN 6.42, đoạn 2 (Pali 2.5–2.7; TTC 2)
“Māhaṁ, nāgita, yasena samāgamaṁ, mā ca mayā yaso. Yo kho, nāgita, nayimassa nekkhammasukhassa pavivekasukhassa upasamasukhassa sambodhasukhassa nikāmalābhī assa akicchalābhī akasiralābhī, yassāhaṁ nekkhammasukhassa pavivekasukhassa upasamasukhassa sambodhasukhassa nikāmalābhī akicchalābhī akasiralābhī, so taṁ mīḷhasukhaṁ middhasukhaṁ lābhasakkārasilokasukhaṁ sādiyeyyā”ti.
—Này Nàgita, Ta không có liên hệ gì với danh vọng và danh vọng không có liên hệ gì với Ta, Này Nàgita, những ai tìm được có khó khăn, tìm được có mệt nhọc, tìm được có phí sức an ổn lạc, viễn ly lạc, an tịnh lạc, chánh giác lạc, mà Ta đã tìm được không khó khăn, tìm được không mệt nhọc, tìm được không phí sức, hãy để họ thọ hưởng lạc như phân ấy, thụy miên lạc, lợi dưỡng, cung kính, danh văn lạc.
“Nāgita, may I never become famous. May fame not come to me. There are those who can’t get the pleasure of renunciation, the pleasure of seclusion, the pleasure of peace, the pleasure of awakening when they want, without trouble or difficulty like I can. Let them enjoy the filthy, lazy pleasure of possessions, honor, and popularity.”
AN 6.42, đoạn 3 (Pali 3.4–3.7; TTC 2)
Seyyathāpi, bhante, thullaphusitake deve vassante yathāninnaṁ udakāni pavattanti; evamevaṁ kho, bhante, yena yeneva dāni bhagavā gamissati, tanninnāva bhavissanti brāhmaṇagahapatikā negamā ceva jānapadā ca. Taṁ kissa hetu? Tathā hi, bhante, bhagavato sīlapaññāṇan”ti.
Ví như trời mưa nặng hột, và nước được chảy tùy theo chiều dốc; cũng vậy, bạch Thế Tôn, nay Thế Tôn sẽ đi đến chỗ nào, tại chỗ ấy các Bà-la-môn gia chủ ở thị trấn và ở quốc độ cũng sẽ đi đến, với tâm hướng về cúng dường. Vì cớ sao? Bạch Thế Tôn do vì giới hạnh và trí tuệ của Thế Tôn!
It’s like when the heavens rain heavily and the water flows downhill. In the same way, wherever the Buddha now goes, the brahmins and householders, and people of town and country will incline the same way. Why is that? Because of the Buddha’s ethics and wisdom.”
AN 6.42, đoạn 5 (Pali 5.1–5.4; TTC 3)
Idhāhaṁ, nāgita, bhikkhuṁ passāmi gāmantavihāriṁ samāhitaṁ nisinnaṁ. Tassa mayhaṁ, nāgita, evaṁ hoti: ‘idānimaṁ āyasmantaṁ ārāmiko vā upaṭṭhahissati samaṇuddeso vā taṁ tamhā samādhimhā cāvessatī’ti. Tenāhaṁ, nāgita, tassa bhikkhuno na attamano homi gāmantavihārena.
Ở đây, này Nàgita, Ta thấy một Tỷ-kheo ngồi Thiền định tại trú xứ ở cuối làng. Này Nàgita, về vị ấy, Ta suy nghĩ như sau: “Nay có người coi khu vườn hay người Sa-di phá phách vị Tỷ-kheo này, làm cho vị này xuất khỏi thiền định”. Do vậy, này Nàgita, Ta không có hoan hỷ với trú xứ của vị ấy.
Take a mendicant living within a village who I see sitting immersed in samādhi. I think to myself: ‘Now a monastery worker, a novice, or a fellow practitioner will make this venerable fall from immersion.’ So I’m not pleased that that mendicant is living within a village.
AN 6.42, đoạn 6 (Pali 6.1–6.4; TTC 4)
Idha panāhaṁ, nāgita, bhikkhuṁ passāmi āraññikaṁ araññe pacalāyamānaṁ nisinnaṁ. Tassa mayhaṁ, nāgita, evaṁ hoti: ‘idāni ayamāyasmā imaṁ niddākilamathaṁ paṭivinodetvā araññasaññaṁyeva manasi karissati ekattan’ti. Tenāhaṁ, nāgita, tassa bhikkhuno attamano homi araññavihārena.
Ở đây, này Nàgita, Ta thấy một Tỷ-kheo đang ngồi ngủ ngục ở trong rừng. Này Nàgita, Ta suy nghĩ về vị ấy như sau: “Nay vị Tỷ-kheo này, sau khi đoạn trừ ngủ nghỉ và mệt nhọc, sẽ tác ý tưởng về rừng đạt được nhất tâm”. Do vậy, nầy Nàgita, ta hoan hỷ với trú xứ tại rừng của Tỷ-kheo ấy.
Take a mendicant in the wilderness who I see sitting nodding in meditation. I think to myself: ‘Now this venerable, having dispelled that sleepiness and weariness, will focus just on the unified perception of wilderness.’ So I’m pleased that that mendicant is living in the wilderness.
AN 6.42, đoạn 10 (Pali 10.1–10.3; TTC 8)
Idha panāhaṁ, nāgita, bhikkhuṁ passāmi āraññikaṁ lābhiṁ cīvarapiṇḍapātasenāsanagilānappaccayabhesajjaparikkhārānaṁ. So taṁ lābhasakkārasilokaṁ paṭipaṇāmetvā na riñcati paṭisallānaṁ na riñcati araññavanapatthāni pantāni senāsanāni. Tenāhaṁ, nāgita, tassa bhikkhuno attamano homi araññavihārena.
Ở đây, này Nàgita, Ta thấy Tỷ-kheo sống ở rừng nhận được các vật dụng cần thiết như y áo, đồ ăn khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh, nhưng chận đứng các lợi dưỡng, cung kính, danh văn ấy, không bỏ phế Thiền tịnh, không bỏ phế các trú xứ rừng núi cao nguyên xa vắng. Do vậy, này Nàgita, Ta hoan hỷ về trú xứ tại rừng của Tỷ-kheo ấy.
Take a mendicant who I see in the wilderness receiving robes, almsfood, lodgings, and medicines and supplies for the sick. Fending off possessions, honor, and popularity they don’t neglect retreat, and they don’t neglect remote lodgings in the wilderness and the forest. So I’m pleased that that mendicant is living in the wilderness.
AN 6.42, đoạn 11 (Pali 11.1; cuối TTC 8)
Yasmāhaṁ, nāgita, samaye addhānamaggappaṭipanno na kañci passāmi purato vā pacchato vā, phāsu me, nāgita, tasmiṁ samaye hoti antamaso uccārapassāvakammāyā”ti.
Nhưng khi Ta đang bước đi trên con đường, trước mặt, Ta không thấy ai; sau lưng, Ta không thấy ai; trong khi ấy, Ta cảm thấy an ổn, này Nàgita, cho đến vấn đề đi đại, tiểu tiện.
Nāgita, when I’m walking along a road and I don’t see anyone ahead or behind I feel relaxed, even if I need to urinate or defecate.”
Chữ PāliNghĩaGhi chú
yasadanh vọng, tiếng tămBản HT. Minh Châu dịch là "danh vọng"; Sujato dịch "fame". Nguyên văn Pāli (an6.42:2.5) là lời NGUYỆN ở thể cầu khẩn: “Māhaṁ, nāgita, yasena samāgamaṁ, mā ca mayā yaso” — nghĩa đen “MONG SAO Ta đừng gặp danh vọng, và danh vọng đừng đến với Ta”; bản Anh của Bhikkhu Sujato dịch “may I never become famous”. Hoà thượng Minh Châu chuyển thành câu trần thuật “Ta không có liên hệ gì với danh vọng”. Ô trích của trang GIỮ NGUYÊN chữ của Hoà thượng; dòng này chỉ ghi thêm để người đọc thấy sắc thái nguyện ước trong bản Pāli.
nekkhammasukhaan ổn lạc (lạc do xuất ly)Sujato: "the pleasure of renunciation".
pavivekasukhaviễn ly lạcLạc do sống một mình, tách khỏi ồn ào.
upasamasukhaan tịnh lạc
sambodhasukhachánh giác lạc
mīḷhasukhalạc như phânSujato: "the filthy pleasure".
middhasukhathụy miên lạc (lạc do ngủ nghỉ)
lābhasakkārasilokalợi dưỡng, cung kính, danh văn
samāhita / asamāhita(tâm) đã thiền định / không thiền định
paṭisallānathiền tịnh, độc cư ẩn dật
āraññika / araññavihāravị sống ở rừng / trú xứ tại rừng
gāmantavihārīvị sống ở cuối làng, trú xứ gần làng
upaṭṭhākathị giả
ekattanhất tâm, tính đơn nhất
sīlapaññāṇagiới hạnh và trí tuệ

Xin thưa bài kinh này ghi lại một lời dạy rất thẳng — thẳng tới mức đọc lần đầu có thể thấy hơi choáng.

Thế Tôn trú trong khóm rừng Icchānaṅgala. Dân làng nghe tiếng, sáng hôm sau đem rất nhiều đồ ăn đến, đứng ngoài cổng, CAO TIẾNG LỚN TIẾNG.

Ngài hỏi thị giả Nāgita: “Này Nāgita, những ai đã cao tiếng và lớn tiếng NHƯ NHỮNG NGƯỜI ĐÁNH CÁ ĐANG GIẾT HẠI CÁ?”

Xin thưa ví dụ ấy nặng — và Ngài dùng nó cho những người ĐANG ĐẾN CÚNG DƯỜNG NGÀI.

Rồi câu then chốt: “Ta KHÔNG CÓ LIÊN HỆ GÌ với danh vọng và danh vọng không có liên hệ gì với Ta.”

Ngài nói tiếp: những ai không tự mình đạt được BỐN THỨ LẠCan ổn lạc, viễn ly lạc, an tịnh lạc, chánh giác lạc — thứ lạc mà Ngài tìm được “không khó khăn, không mệt nhọc, không phí sức” — thì hãy để họ thọ hưởng thứ lạc kia.

Và Ngài gọi thẳng tên thứ lạc kia: “LẠC NHƯ PHÂN” (Pāli mīḷhasukha) — tức THỤY MIÊN LẠC, và LỢI DƯỠNG, CUNG KÍNH, DANH VĂN LẠC.

Xin thưa đây là chỗ phải cẩn thận khi giảng cho các em: Ngài KHÔNG mắng người cúng dường. Ngài chê CÁI THỨ VUI ẤY, và chê nó cho NGƯỜI TU.

Tôn giả Nāgita thỉnh cầu Ngài nhận lời, ví rất khéo: “Ví như trời MƯA NẶNG HỘT, và nước được chảy TÙY THEO CHIỀU DỐC”Thế Tôn đi đâu, người ta cũng sẽ hướng về đó, vì GIỚI HẠNH và TRÍ TUỆ của Ngài.

Thế Tôn LẶP LẠI NGUYÊN VẸN lời dạy trên, KHÔNG ĐỔI MỘT CHỮ.

Xin để ý điều ấy: lời thỉnh cầu rất hay, rất kínhmà Ngài KHÔNG nhượng bộ.

Rồi Ngài nêu NĂM TRƯỜNG HỢP quan sát các Tỷ-kheo, và con nghĩ đây là phần hữu ích nhất cho anh chị em.

Vị NGỒI THIỀN ĐỊNH ở trú xứ cuối làngNgài KHÔNG hoan hỷ, vì e có người phá phách làm vị ấy xuất khỏi thiền định.

Vị ĐANG NGỒI NGỦ GỤC TRONG RỪNGNgài LẠI HOAN HỶ, vì “vị này, sau khi đoạn trừ ngủ nghỉ và mệt nhọc, sẽ tác ý tưởng về rừng, đạt được nhất tâm”.

Xin thưa hai trường hợp ấy đặt cạnh nhau là cả một bài học: người ĐANG NGỒI THIỀN thì Ngài lo, người ĐANG NGỦ GỤC thì Ngài mừng.

Ngài KHÔNG nhìn TƯ THẾ — Ngài nhìn CHỖ ẤY SẼ ĐƯA NGƯỜI TA TỚI ĐÂU.

Rồi hai trường hợp về LỢI DƯỠNG: vị ở cuối làng được nhiều vật dụng rồi THÍCH THÚ lợi dưỡng, BỎ PHẾ thiền tịnhNgài không hoan hỷ.

Còn vị ở RỪNG, tuy CÓ NHẬN vật dụng nhưng “CHẬN ĐỨNG các lợi dưỡng, cung kính, danh văn ấy, KHÔNG BỎ PHẾ Thiền tịnh”Ngài hoan hỷ.

Xin thưa chỗ này rất công bằng: vấn đề KHÔNG phải là CÓ NHẬN hay KHÔNG NHẬNmà là có BỎ PHẾ hay không.

Và kinh kết bằng một câu rất người: “Nhưng khi Ta đang bước đi trên con đường, trước mặt Ta KHÔNG THẤY AI; sau lưng Ta KHÔNG THẤY AI; trong khi ấy, TA CẢM THẤY AN ỔN — cho đến vấn đề đi đại, tiểu tiện.”

Xin thưa con thấy câu ấy đẹp ở chỗ RẤT THƯỜNG: bậc Chánh Đẳng Giác nói về cái an của một CON ĐƯỜNG VẮNG NGƯỜI, và nói tới cả chuyện đi vệ sinh.

Xin thưa lời cuối cho anh chị em Huynh Trưởng. Bài kinh này đáng đọc cho người đang được KHEN NHIỀUmột Huynh Trưởng vừa được tán thán, một đoàn vừa được nêu gương.

Không phải để dập, mà để nhớ: lời khen là THẬT, việc cúng dường là THẬT LÒNGnhưng nếu vì nó mà BỎ PHẾ giờ lắng tâm, thì đã đổi bốn thứ lạc kia lấy “lạc như phân”.

Xin thưa một ghi nhận về cách đọc, không dám sửa thầm. Câu “Ta không có liên hệ gì với danh vọng…” trong bản Việt là câu TRẦN THUẬT. Nguyên văn Pāli lại là lời NGUYỆN ở thể cầu khẩn“Māhaṁ, nāgita, yasena samāgamaṁ, mā ca mayā yaso”, nghĩa đen “MONG SAO Ta đừng gặp danh vọng, và danh vọng đừng đến với Ta”; bản Anh dịch “may I never become famous”. Chúng con đã tải lại tệp nguồn và đọc tận nơi. Ô trích của trang GIỮ NGUYÊN chữ của Hoà thượng, KHÔNG sửa một chữ nào; chỗ này chỉ ghi thêm cho người đọc thấy sắc thái của bản Pāli.

  • “Thế Tôn mắng người cúng dường.” Ngài chê THỨ VUI ấy, và chê nó cho NGƯỜI TUkhông mắng lòng thành của người cư sĩ.
  • “Ở rừng thì hơn ở làng.” Kinh nhìn chỗ ấy sẽ đưa người ta tới đâu: vị ngồi thiền ở cuối làng thì Ngài lo, vị ngủ gục trong rừng thì Ngài mừng.
  • “Người tu không được nhận cúng dường.” Vị ở rừng CÓ NHẬN vật dụng mà “chận đứng” lợi dưỡng, không bỏ phế thiền tịnhNgài hoan hỷ.
  • “Lạc như phân là nói quá.” Mīḷhasukha là chữ của chính kinh văn, đặt đối lại bốn thứ lạc: an ổn, viễn ly, an tịnh, chánh giác.
  • “Ngài từ chối vì khiêm nhường.” Trước lời thỉnh cầu rất kính của Tôn giả Nāgita, Ngài LẶP LẠI NGUYÊN VẸN lời cũđó là một chỗ đứng, không phải lời khách sáo.
  • Ngành Oanh. Đừng dùng ví dụ “lạc như phân”. Chỉ kể: Phật thích con đường vắng, không ai trước mặt, không ai sau lưng.
  • Ngành Thiếu. Học hai trường hợp đặt cạnh nhau: vị ngồi thiền cuối làng và vị ngủ gục trong rừng. Hỏi: vì sao Phật mừng cho người đang ngủ?
  • Ngành Thanh và Huynh Trưởng. Đọc khi mình hoặc đoàn mình vừa được khen nhiều. Bàn: “chận đứng lợi dưỡng” mà vẫn nhận — làm thế nào?
  • Thế Tôn ví tiếng ồn ngoài cổng với gì?
  • Bốn thứ lạc Ngài nói tới là gì?
  • “Lạc như phân” gồm những gì?
  • Vì sao Ngài mừng cho vị Tỷ-kheo đang ngủ gục?
  • Câu kết của bài kinh nói gì?

Nguyên văn Pāli chép từ ấn bản Mahāsaṅgīti — tệp dữ liệu gốc bilara-data của suttacentral.net, từng đoạn có đánh số. Bản tiếng Việt của Hoà thượng Thích Minh Châu; bản tiếng Anh của Tỳ-kheo Sujato. Bài này đã qua một lượt soi lại độc lập. Lượt soi ấy chỉ ra 1 chỗ cần xem lại; chỗ nào là lỗi thật thì chúng tôi đã sửa và ghi rõ ở Phần IV. Muốn đọc trọn bài kinh, xin xem nguyên văn ba thứ tiếng. Thấy chỗ nào khác ấn bản in, xin báo cho chúng tôi.