G.Đ.P.T Huyền Quang Phật Pháp · Tam Tạng Kinh Điển Tăng Chi Bộ · AN 6.29
Sáu Chỗ Để Tuỳ Niệm

Kinh Udāyi

Udāyī Sutta — AN 6.29 · Pāli · Việt · Anh

Tam TạngTạng KinhTrung BộKinh Udāyi

Thế Tôn hỏi Tôn giả Udāyi BA LẦN: “có bao nhiêu CHỖ ĐỂ TUỲ NIỆM?”ba lần Tôn giả IM LẶNG. Rồi Tôn giả Ānanda thưa NĂM chỗ, mỗi chỗ kèm một KẾT QUẢ riêng. Và Thế Tôn dạy thêm chỗ thứ SÁUchỗ gần nhất với đời sống hằng ngày.

  • Bộ — Tăng Chi Bộ, Chương Sáu Pháp, kinh 29
  • Phẩm — Trên Tất Cả (Anuttariyavagga)
  • Nơi chốn — kinh không ghi; mở đầu bằng “Rồi Thế Tôn gọi Tôn giả Udāyi”
  • Đọc kèmAN 6.10 (sáu pháp tuỳ niệm: Phật, Pháp, Tăng, Giới, Thí, Thiên)

Thế Tôn hỏi Tôn giả Udàyi: "Có bao nhiêu chỗ để tùy niệm?" (anussatiṭṭhāna). Hỏi đến ba lần mà Tôn giả Udàyi vẫn giữ im lặng. Tôn giả Ananda nhắc: "Thế Tôn gọi Hiền giả!" Bấy giờ Tôn giả Udàyi mới thưa một chỗ tùy niệm, đó là nhớ lại nhiều đời sống quá khứ (túc mạng minh). Thế Tôn liền bảo Tôn giả Ananda rằng Ngài đã biết "kẻ ngu Udàyi này không sống chuyên tâm vào tăng thượng tâm" (adhicitta), rồi quay sang hỏi chính Tôn giả Ananda. Tôn giả Ananda thưa có năm chỗ để tùy niệm, và điều đáng chú ý là mỗi chỗ đều được nêu rõ kết quả tu tập kèm theo: (1) tu Thiền, ly dục ly bất thiện pháp cho đến chứng và trú Thiền thứ ba — đưa đến hiện tại lạc trú; (2) tác ý tưởng ánh sáng, ngày như đêm, đêm như ngày, tâm rộng mở không hạn chế, tu tập tâm chiếu sáng — đưa đến chứng đắc tri kiến; (3) quán thân này từ bàn chân trở lên, từ đảnh tóc trở xuống, được da bọc và chứa đầy các vật bất tịnh (tóc, lông, móng, răng, da…) — đưa đến đoạn tận tham dục; (4) quán tử thi ngoài nghĩa địa qua các giai đoạn tan rã, rồi đem so với thân mình "Thân này tánh chất là như vậy… không vượt khỏi tánh chất ấy" — đưa đến nhổ tận gốc kiêu mạn "Tôi là"; (5) bỏ lạc bỏ khổ, chứng và trú Thiền thứ tư — đưa đến thể nhập các giới sai khác. Thế Tôn tán thán "Lành thay, lành thay, này Ananda!" và dạy thêm chỗ tùy niệm thứ sáu: Tỷ-kheo chánh niệm đi ra, chánh niệm đi vào, chánh niệm ngồi, chánh niệm nằm, chánh niệm trong khi làm việc — đưa đến chánh niệm tỉnh giác (satisampajañña). Đây là điểm rất thiết thực cho người học Phật hôm nay: tùy niệm không chỉ ở chỗ ngồi thiền mà ngay trong mọi cử chỉ hằng ngày.

Bố cục bài kinhTheo đúng thứ tự trong kinh văn

  • 1. Thế Tôn ba lần hỏi Tôn giả Udàyi, Tôn giả im lặng — Thế Tôn hỏi "có bao nhiêu chỗ để tùy niệm?" ba lần; ba lần Tôn giả Udàyi giữ im lặng. (đoạn 1)
  • 2. Tôn giả Ananda nhắc; Tôn giả Udàyi nêu túc mạng tùy niệm — Tôn giả Ananda nhắc "Thế Tôn gọi Hiền giả!"; Tôn giả Udàyi thưa chỗ tùy niệm là nhớ nhiều đời trước với nét đại cương và chi tiết. (đoạn 2)
  • 3. Thế Tôn quở và hỏi lại Tôn giả Ananda — "Kẻ ngu Udàyi này không sống chuyên tâm vào tăng thượng tâm"; rồi hỏi Tôn giả Ananda. (đoạn 3)
  • 4. Chỗ tùy niệm thứ nhất: Thiền — hiện tại lạc trú — Ly dục, ly bất thiện pháp… chứng đạt và an trú Thiền thứ ba. (đoạn 4)
  • 5. Chỗ tùy niệm thứ hai: tưởng ánh sáng — chứng đắc tri kiến — Tác ý tưởng ánh sáng, ngày như đêm, đêm như ngày, tu tập tâm chiếu sáng. (đoạn 5)
  • 6. Chỗ tùy niệm thứ ba: quán thân bất tịnh — đoạn tận tham dục — Quán thân từ bàn chân lên, từ đảnh tóc xuống, được da bọc, đầy vật bất tịnh; liệt kê 31 thể trược. (đoạn 6)
  • 7. Chỗ tùy niệm thứ tư: quán tử thi ngoài nghĩa địa — nhổ tận gốc mạn "Tôi là" — Các giai đoạn tử thi: trương phồng, bị các loài ăn, bộ xương, xương trắng, xương thành bột; đem so với thân này. (đoạn 7-9)
  • 8. Chỗ tùy niệm thứ năm: Thiền thứ tư — thể nhập các giới sai khác — Bỏ lạc, bỏ khổ… chứng đạt và an trú Thiền thứ tư. (đoạn 10)
  • 9. Thế Tôn dạy chỗ tùy niệm thứ sáu: chánh niệm trong bốn oai nghi và khi làm việc — "Lành thay, lành thay, này Ananda!" — chánh niệm đi ra, đi vào, ngồi, nằm, làm việc; đưa đến chánh niệm tỉnh giác. (đoạn 11)

Mỗi đoạn ghi nguyên văn Pāli, rồi bản Việt, rồi bản tiếng Anh. Số bên trái là số đoạn trong kinh, để đối chiếu được.

AN 6.29, đoạn 1
Atha kho bhagavā āyasmantaṁ udāyiṁ āmantesi: “kati nu kho, udāyi, anussatiṭṭhānānī”ti? Evaṁ vutte, āyasmā udāyī tuṇhī ahosi.
Rồi Thế Tôn gọi Tôn giả Udàyi:
—Này Udàyi, có bao nhiêu chỗ để tùy niệm?
Ðược nói vậy, Tôn giả Udàyi giữ im lặng.
Then the Buddha said to Udāyī, “Udāyī, how many topics for recollection are there?” When he said this, Udāyī kept silent.
AN 6.29, đoạn 3
“aññāsiṁ kho ahaṁ, ānanda: ‘nevāyaṁ udāyī moghapuriso adhicittaṁ anuyutto viharatī’ti. Kati nu kho, ānanda, anussatiṭṭhānānī”ti?
Ta đã biết, này Ananda, kẻ ngu Udàyi này không sống chuyên tâm vào tăng thượng tâm. Này Ananda, có bao nhiêu chỗ để tùy niệm?
“Ānanda, I know that this futile man Udāyī is not committed to the higher mind. Ānanda, how many topics for recollection are there?”
AN 6.29, đoạn 4
Idha, bhante, bhikkhu vivicceva kāmehi …pe… tatiyaṁ jhānaṁ upasampajja viharati. Idaṁ, bhante, anussatiṭṭhānaṁ evaṁ bhāvitaṁ evaṁ bahulīkataṁ diṭṭhadhammasukhavihārāya saṁvattati.
Ở đây, bạch Thế Tôn, Tỷ-kheo ly dục, ly pháp bất thiện… chứng đạt và an trú Thiền thứ ba. Bạch Thế Tôn, đây là chỗ để tùy niệm, như vậy tu tập, như vậy làm cho sung mãn, đưa đến hiện tại lạc trú.
Firstly, a mendicant, quite secluded from sensual pleasures, secluded from unskillful qualities, enters and remains in the first absorption … second absorption … third absorption. When this topic of recollection is developed and cultivated in this way it leads to blissful meditation in this very life.
AN 6.29, đoạn 5
Puna caparaṁ, bhante, bhikkhu ālokasaññaṁ manasi karoti, divā saññaṁ adhiṭṭhāti, yathā divā tathā rattiṁ, yathā rattiṁ tathā divā; iti vivaṭena cetasā apariyonaddhena sappabhāsaṁ cittaṁ bhāveti. Idaṁ, bhante, anussatiṭṭhānaṁ evaṁ bhāvitaṁ evaṁ bahulīkataṁ ñāṇadassanappaṭilābhāya saṁvattati.
Lại nữa, bạch Thế Tôn, Tỷ-kheo tác ý với tưởng ánh sáng, trú vào tưởng ban ngày. Ngày như thế nào thời đêm như vậy. Ðêm như thế nào thời ngày như vậy. Như vậy, với tâm rộng mở, không có hạn chế, vị ấy tu tập tâm với ánh sáng, chiếu sáng. Bạch Thế Tôn, đây là chỗ để tùy niệm, tu tập như vậy, làm cho sung mãn, đưa đến chứng đắc tri kiến.
Furthermore, a mendicant focuses on the perception of light, focusing on the perception of day regardless of whether it’s night or day. And so, with an open and unenveloped heart, they develop a mind that’s full of radiance. When this topic of recollection is developed and cultivated in this way it leads to knowledge and vision.
AN 6.29, đoạn 6
Puna caparaṁ, bhante, bhikkhu imameva kāyaṁ uddhaṁ pādatalā adho kesamatthakā tacapariyantaṁ pūraṁ nānappakārassa asucino paccavekkhati: ‘atthi imasmiṁ kāye kesā lomā nakhā dantā taco, maṁsaṁ nhāru aṭṭhi aṭṭhimiñjaṁ vakkaṁ, hadayaṁ yakanaṁ kilomakaṁ pihakaṁ papphāsaṁ, antaṁ antaguṇaṁ udariyaṁ karīsaṁ, pittaṁ semhaṁ pubbo lohitaṁ sedo medo, assu vasā kheḷo siṅghāṇikā lasikā muttan’ti. Idaṁ, bhante, anussatiṭṭhānaṁ evaṁ bhāvitaṁ evaṁ bahulīkataṁ kāmarāgappahānāya saṁvattati.
Lại nữa, bạch Thế Tôn, Tỷ-kheo quán sát thân này từ bàn chân trở lên trên, từ đảnh tóc trở xuống, được da bọc và chứa đầy những vật bất tịnh sai biệt. Trong thân này, đây là tóc, lông, móng, răng, da, thịt, gân, xương, tủy, thận, tim, gan, hoành cách mô, lá lách, phổi, ruột, màng ruột, bụng, phân, mật, đàm, mũ, máu, mồ hôi, mỡ, nước mắt, mỡ da, nước miếng, nước mủ, nước ở khớp xương, nước tiểu. Bạch Thế Tôn, đây là chỗ để tùy niệm, tu tập như vậy, làm sung mãn như vậy, đưa đến đoạn tận tham dục.
Furthermore, a mendicant examines their own body up from the soles of the feet and down from the tips of the hairs, wrapped in skin and full of many kinds of filth. ‘In this body there is head hair, body hair, nails, teeth, skin, flesh, sinews, bones, bone marrow, kidneys, heart, liver, diaphragm, spleen, lungs, intestines, mesentery, undigested food, feces, bile, phlegm, pus, blood, sweat, fat, tears, grease, saliva, snot, synovial fluid, urine.’ When this topic of recollection is developed and cultivated in this way it leads to giving up sensual desire.
AN 6.29, đoạn 7
So imameva kāyaṁ evaṁ upasaṁharati: ‘ayampi kho kāyo evaṁdhammo evaṁbhāvī evaṁanatīto’ti.
Tỷ-kheo ấy đem so sánh với thân này như sau: “Thân này tánh chất là như vậy, bản tánh là như vậy, không vượt khỏi tánh chất ấy”.
They’d compare it with their own body: ‘This body is also of that same nature, that same kind, and cannot go beyond that.’
AN 6.29, đoạn 10
Puna caparaṁ, bhante, bhikkhu sukhassa ca pahānā …pe… catutthaṁ jhānaṁ upasampajja viharati. Idaṁ, bhante, anussatiṭṭhānaṁ evaṁ bhāvitaṁ evaṁ bahulīkataṁ anekadhātupaṭivedhāya saṁvattati.
Lại nữa, bạch Thế Tôn, Tỷ-kheo bỏ lạc, bỏ khổ… chứng đạt và an trú Thiền thứ tư. Ðây là chỗ để tùy niệm, bạch Thế Tôn, được tu tập như vậy, được làm cho sung mãn như vậy, đưa đến sự thể nhập hoàn toàn các giới sai khác nhau.
Furthermore, giving up pleasure and pain, and ending former happiness and sadness, a mendicant enters and remains in the fourth absorption, without pleasure or pain, with pure equanimity and mindfulness. When this topic of recollection is developed and cultivated in this way it leads to the penetration of many elements.
AN 6.29, đoạn 11
“Sādhu sādhu, ānanda. Tena hi tvaṁ, ānanda, idampi chaṭṭhaṁ anussatiṭṭhānaṁ dhārehi. Idhānanda, bhikkhu satova abhikkamati satova paṭikkamati satova tiṭṭhati satova nisīdati satova seyyaṁ kappeti satova kammaṁ adhiṭṭhāti. Idaṁ, ānanda, anussatiṭṭhānaṁ evaṁ bhāvitaṁ evaṁ bahulīkataṁ satisampajaññāya saṁvattatī”ti.
Lành thay, lành thay, này Ananda! Ðây là chỗ tùy niệm thứ sáu, hãy thọ trì ở đây, này Ananda, Tỷ-kheo chánh niệm đi ra, chánh niệm đi vào, chánh niệm ngồi, chánh niệm nằm, chánh niệm trong khi làm việc. Này Ananda, đây là chỗ để tùy niệm, như vậy tu tập, như vậy làm cho sung mãn, được đưa đến chánh niệm tỉnh giác.
“Good, good, Ānanda. Well then, Ānanda, you should also remember this sixth topic for recollection. In this case, a mendicant goes out mindfully, returns mindfully, stands mindfully, sits mindfully, lies down mindfully, and focuses on work mindfully. When this topic of recollection is developed and cultivated in this way it leads to mindfulness and situational awareness.”
Chữ PāliNghĩaGhi chú
anussatiṭṭhānachỗ để tùy niệmBản Anh: topic for recollection. Kinh nêu tất cả sáu chỗ.
adhicittatăng thượng tâmTâm cao thượng, tức phần định trong tam học.
moghapurisakẻ ngu (kẻ rỗng không, uổng phí)Bản Anh: futile man.
jhānaThiền (thiền chi, định)Kinh nêu Thiền thứ ba và Thiền thứ tư.
diṭṭhadhammasukhavihārahiện tại lạc trú
ālokasaññātưởng ánh sáng
ñāṇadassanatri kiến
asucibất tịnh
kāmarāgappahānađoạn tận tham dục
sivathikānghĩa địa (chỗ quăng bỏ thi thể)
asmimānakiêu mạn "Tôi là"samugghāta: nhổ tận gốc.
anekadhātupaṭivedhathể nhập các giới sai khác
satisampajaññachánh niệm tỉnh giác
pubbenivāsānussatitùy niệm các đời sống quá khứTrong kinh: "anekavihitaṁ pubbenivāsaṁ anussarati" — nhớ đến nhiều đời trước.

Xin thưa bài kinh này mở đầu bằng một cảnh khó xử, và con nghĩ kinh chép lại rất thật.

Thế Tôn hỏi Tôn giả UDĀYI: “có bao nhiêu CHỖ ĐỂ TUỲ NIỆM?” (anussatiṭṭhāna).

Hỏi BA LẦN — và ba lần Tôn giả GIỮ IM LẶNG.

Tôn giả ĀNANDA phải nhắc: “Thế Tôn gọi Hiền giả!”

Bấy giờ Tôn giả Udāyi mới thưa MỘT chỗ: nhớ lại nhiều đời sống quá khứ (túc mạng).

Và Thế Tôn bảo Tôn giả Ānanda: “Ta đã biết, này Ānanda, kẻ ngu Udāyi này KHÔNG SỐNG CHUYÊN TÂM VÀO TĂNG THƯỢNG TÂM.”

Xin thưa lời quở ấy nghe nặng, nhưng xin để ý chỗ Thế Tôn quở là gì: KHÔNG phải vì Tôn giả nói SAItúc mạng minh CÓ THẬT là một chỗ tuỳ niệm.

Chỗ bị quở là “không sống chuyên tâm vào TĂNG THƯỢNG TÂM” (adhicitta) — nghĩa là không thực sự dụng công nơi TÂM, nên chỉ nghĩ ra được cái xa xôi nhất mà bỏ sót cái gần.

Rồi Thế Tôn hỏi chính Tôn giả Ānanda, và Ngài thưa NĂM chỗ. Xin bác để ý: mỗi chỗ đều được nêu RÕ KẾT QUẢ kèm theo — đây là điểm hay nhất của bài.

(1) TU THIỀN — ly dục ly bất thiện pháp cho đến chứng và trú Thiền thứ ba → đưa đến HIỆN TẠI LẠC TRÚ.

(2) TÁC Ý TƯỞNG ÁNH SÁNG“ngày như thế nào thời đêm như vậy, đêm như thế nào thời ngày như vậy”, tâm rộng mở không hạn chế, tu tập tâm CHIẾU SÁNG → đưa đến CHỨNG ĐẮC TRI KIẾN.

(3) QUÁN THÂN BẤT TỊNH“từ bàn chân trở lên trên, từ đảnh tóc trở xuống, được DA BỌC và chứa đầy những vật bất tịnh sai biệt”: tóc, lông, móng, răng, da… → đưa đến ĐOẠN TẬN THAM DỤC.

(4) QUÁN TỬ THI ngoài nghĩa địa qua các giai đoạn tan rã, rồi ĐEM SO VỚI THÂN MÌNH: “Thân này TÁNH CHẤT LÀ NHƯ VẬY, bản tánh là như vậy, KHÔNG VƯỢT KHỎI tánh chất ấy” → đưa đến NHỔ TẬN GỐC KIÊU MẠN “TÔI LÀ”.

(5) THIỀN THỨ TƯ — bỏ lạc bỏ khổ → đưa đến THỂ NHẬP CÁC GIỚI SAI KHÁC.

Thế Tôn tán thán “LÀNH THAY, LÀNH THAY, này Ānanda!” — rồi dạy thêm CHỖ TUỲ NIỆM THỨ SÁU.

Và chỗ thứ sáu này, con thưa thật, là chỗ gần nhất với chúng ta:

“Tỷ-kheo CHÁNH NIỆM ĐI RA, chánh niệm ĐI VÀO, chánh niệm NGỒI, chánh niệm NẰM, chánh niệm TRONG KHI LÀM VIỆC” → đưa đến CHÁNH NIỆM TỈNH GIÁC.

Xin thưa xin để ý cách xếp của cả bài: năm chỗ đầu đều cần MỘT TƯ THẾ, MỘT CHỖ NGỒI, hoặc MỘT NGHĨA ĐỊA.

Chỗ thứ sáu KHÔNG cần gì cảchỉ cần đang đi, đang ngồi, đang nằm, đang LÀM VIỆC.

Nghĩa là Thế Tôn thêm vào đúng cái mà người bận rộn dùng được: tuỳ niệm KHÔNG chỉ ở chỗ ngồi thiền, mà NGAY TRONG MỌI CỬ CHỈ hằng ngày.

Xin thưa lời cuối cho anh chị em, và con nghĩ bài này có hai điều đáng học.

Thứ nhất: chỗ thứ sáu là chỗ của mình. Đang soạn bài, đang dựng lều, đang nấu cơm trại — chánh niệm ngay trong việc ấy cũng là TUỲ NIỆM.

Thứ hai: xin nhớ chỗ Thế Tôn quở Tôn giả Udāyi. Ngài KHÔNG quở vì câu trả lời saiNgài quở vì KHÔNG DỤNG CÔNG NƠI TÂM.

Con nghĩ điều ấy đáng nhắc cho những ai học Phật pháp nhiều mà ít hành: biết được cái cao xa nhất mà bỏ quên cái ngay trước mắt.

  • “Tôn giả Udāyi trả lời SAI nên bị quở.” Túc mạng minh CÓ THẬT là một chỗ tuỳ niệm. Thế Tôn quở vì “không sống chuyên tâm vào TĂNG THƯỢNG TÂM”không dụng công nơi tâm.
  • “Tuỳ niệm phải ngồi thiền mới làm được.” Chỗ thứ SÁUchánh niệm khi ĐI, NGỒI, NẰM, và TRONG KHI LÀM VIỆCkhông cần tư thế nào.
  • “Sáu chỗ tuỳ niệm là sáu pháp niệm Phật, Pháp, Tăng…” Đó là AN 6.10, một bộ sáu KHÁC. Bài này là sáu chỗ tuỳ niệm gắn với THIỀN và QUÁN THÂN.
  • “Quán tử thi là để ghê sợ.” Kinh nêu rõ chỗ đến: đem SO VỚI THÂN MÌNH — “thân này tánh chất là như vậy” — để NHỔ TẬN GỐC KIÊU MẠN “Tôi là”.
  • Ngành Oanh. Chỉ chỗ thứ sáu, thật cụ thể: làm việc gì thì biết mình đang làm việc ấy.
  • Ngành Thiếu. Học chỗ thứ hai (tưởng ánh sáng) và chỗ thứ sáu. Chưa nên dạy chỗ thứ tư (quán tử thi).
  • Ngành Thanh và Huynh Trưởng. Học đủ sáu và sáu kết quả tương ứng. Bàn: vì sao Thế Tôn thêm chỗ thứ sáu vào sau cùng?
  • Thế Tôn hỏi Tôn giả Udāyi mấy lần?
  • Thế Tôn quở điều gì, chứ không quở điều gì?
  • Năm chỗ tuỳ niệm và năm kết quả là gì?
  • Chỗ tuỳ niệm thứ sáu là gì?
  • Vì sao chỗ thứ sáu gần với đời sống hằng ngày nhất?

Nguyên văn Pāli chép từ ấn bản Mahāsaṅgīti — tệp dữ liệu gốc bilara-data của suttacentral.net, từng đoạn có đánh số. Bản tiếng Việt của Hoà thượng Thích Minh Châu; bản tiếng Anh của Tỳ-kheo Sujato. Bài này đã qua một lượt soi lại độc lập. Muốn đọc trọn bài kinh, xin xem nguyên văn ba thứ tiếng. Thấy chỗ nào khác ấn bản in, xin báo cho chúng tôi.