G.Đ.P.T Huyền Quang Phật Pháp · Tam Tạng Kinh Điển Tăng Chi Bộ · AN 6.21
Sáu Thói Quen Làm Người Tu Tuột Dốc

Kinh Tại Sàmagàma

Sāmaka Sutta — AN 6.21 · Pāli · Việt · Anh

Tam TạngTạng KinhTrung BộKinh Tại Sàmagàma

Đêm gần mãn, một Thiên nhân đến bạch Thế Tôn ba pháp làm Tỷ-kheo thối đọa: ưa việc, ưa nói, ưa ngủ. Hôm sau Thế Tôn thuật lại cho chúng Tỷ-kheo — kèm một lời quở — rồi dạy thêm ba pháp nữa: ưa hội chúng, ác ngôn, ác bạn hữu.

  • Bộ — Tăng Chi Bộ, Chương Sáu Pháp, Phẩm Trên Tất Cả (Anuttariyavagga), kinh 21
  • Nơi chốn — giữa dân chúng Sakka, tại Sàmagàma, gần một hồ sen
  • Người nóimột Thiên nhân nói ba pháp đầu; chính Thế Tôn dạy ba pháp sau
  • Đọc kèmAN 6.22 (bài kế tiếp, cùng đề tài) và AN 7.21

AN 6.21 — Sāmakasutta, "Tại Sàmagàma" — là một bài kinh ngắn nhưng rất thiết thực cho người tu học và cho Huynh Trưởng Gia Đình Phật Tử. Bối cảnh: Thế Tôn trú giữa dân chúng Sakka, tại Sàmagàma, gần một hồ sen. Đêm gần mãn, một Thiên nhân với dung sắc thù thắng chói sáng cả vùng hồ sen đến đảnh lễ Ngài và bạch rằng có ba pháp đưa đến Tỷ-kheo thối đọa: ưa thích công việc, ưa thích nói chuyện, ưa thích ngủ nghỉ. Bậc Đạo Sư chấp nhận lời ấy; Thiên nhân biết mình được chấp nhận liền đảnh lễ, thân bên hữu hướng về Ngài rồi biến mất tại chỗ. Sáng hôm sau, Thế Tôn thuật lại nguyên lời Thiên nhân cho chúng Tỷ-kheo, kèm một lời quở đáng ghi nhớ: "thật không được gì cho các Thầy, thật không khéo được gì cho các Thầy, vì rằng các Thiên nhân ấy biết được các pháp dắt dẫn các Thầy thối đọa trong các thiện pháp." Nghĩa là sự sa sút của mình đã lộ ra đến mức chư thiên cũng thấy — đó là điều thiệt thòi, chẳng phải điều vinh dự. Kế đó, chính Thế Tôn dạy thêm ba pháp nữa đưa đến thối đọa: ưa hội chúng (thích tụ tập đông vui), ác ngôn (khó nói, khó dạy, không chịu nghe lời khuyên bảo) và ác bạn hữu (kết bạn xấu). Cộng lại thành sáu pháp. Kinh kết bằng lời khẳng định trải suốt ba đời: những ai trong quá khứ đã thối đọa, những ai trong tương lai sẽ thối đọa, và những ai trong hiện tại đang thối đọa trong các thiện pháp — tất cả đều vì sáu pháp này. Điểm đáng lưu ý: sáu pháp ấy không phải là tội lỗi nặng nề gì, mà toàn là những thói quen rất thường ngày — bận rộn, nhiều lời, ham ngủ, thích tụ tập, khó nghe lời, và chọn bạn không tốt. Chính vì chúng nhỏ và quen thuộc nên mới nguy hiểm, làm người tu lặng lẽ tuột dốc mà không hay. Ngược lại, sáu pháp này gợi ý sáu điều nên giữ: biết chừng mực trong công việc, ít nói, tỉnh thức, ưa tịnh, dễ nghe lời chỉ dạy, và thân cận thiện hữu tri thức.

Bố cục bài kinhTheo đúng thứ tự trong kinh văn

  • Duyên khởi: Thiên nhân đến giữa đêm — Thế Tôn trú giữa dân chúng Sakka, tại Sàmagàma, gần hồ sen. Một Thiên nhân với dung sắc thù thắng chói sáng toàn vùng hồ sen đi đến đảnh lễ và đứng một bên.
  • Ba pháp Thiên nhân nêu ra — Thiên nhân bạch: ba pháp đưa đến Tỷ-kheo thối đọa là ưa thích công việc, ưa thích nói chuyện, ưa thích ngủ nghỉ. Bậc Ðạo Sư chấp nhận; Thiên nhân đảnh lễ, thân bên hữu hướng về Ngài rồi biến mất.
  • Thế Tôn thuật lại cho chư Tỷ-kheo — Sáng hôm sau Thế Tôn kể lại nguyên lời Thiên nhân cho các Tỷ-kheo, và quở: thật không được gì, thật không khéo được gì cho các Thầy, vì đến chư Thiên cũng biết các Thầy đang thối đọa trong các thiện pháp.
  • Ba pháp khác do chính Thế Tôn dạy — Ngài dạy thêm ba pháp đưa đến thối đọa: ưa hội chúng, ác ngôn (khó nói, khó dạy), ác bạn hữu.
  • Kết luận: sáu pháp thông cả ba đời — Những ai trong quá khứ, tương lai và hiện tại bị thối đọa trong các thiện pháp, tất cả đều vì sáu pháp này.

Mỗi đoạn ghi nguyên văn Pāli, rồi bản Việt, rồi bản tiếng Anh. Số bên trái là số đoạn trong kinh, để đối chiếu được.

AN 6.21 §1 (an6.21:1.1)
Ekaṁ samayaṁ bhagavā sakkesu viharati sāmagāmake pokkharaṇiyāyaṁ.
Một thời, Thế Tôn trú ở giữa dân chúng Sakka, tại Sàmagàma, gần hồ sen.
At one time the Buddha was staying in the land of the Sakyans near the little village of Sāma, by a lotus pond.
AN 6.21 §1 (an6.21:1.2)
Atha kho aññatarā devatā abhikkantāya rattiyā abhikkantavaṇṇā kevalakappaṁ pokkharaṇiyaṁ obhāsetvā yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ aṭṭhāsi. Ekamantaṁ ṭhitā kho sā devatā bhagavantaṁ etadavoca:
Rồi một Thiên nhân, sau khi đêm đã gần mãn, với dung sắc thù thắng chói sáng toàn vùng hồ sen, đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi đứng một bên.
Then, late at night, a glorious deity, lighting up the entire lotus pond, went up to the Buddha, bowed, stood to one side, and said to him,
AN 6.21 §2 (an6.21:2.1–2.4)
“Tayome, bhante, dhammā bhikkhuno parihānāya saṁvattanti. Katame tayo? Kammārāmatā, bhassārāmatā, niddārāmatā—ime kho, bhante, tayo dhammā bhikkhuno parihānāya saṁvattantī”ti.
Có ba pháp này, bạch Thế Tôn, đưa đến Tỷ-kheo thối đọa. Thế nào là ba? Ưa thích công việc, ưa thích nói chuyện, ưa thích ngủ nghỉ. Ba pháp này, bạch Thế Tôn, đưa đến Tỷ-kheo thối đọa.
“Sir, three qualities lead to the decline of a mendicant. What three? Relishing work, talk, and sleep. These three qualities lead to the decline of a mendicant.”
AN 6.21 §2 (an6.21:2.5–2.7)
Idamavoca sā devatā. Samanuñño satthā ahosi. Atha kho sā devatā “samanuñño me satthā”ti bhagavantaṁ abhivādetvā padakkhiṇaṁ katvā tatthevantaradhāyi.
Vị Thiên nhân ấy nói như vậy. Bậc Ðạo Sư chấp nhận. Vị Thiên nhân ấy, với ý nghĩ: “Bậc Ðạo Sư đã chấp nhận ta”, đảnh lễ Thế Tôn, thân bên hữu hướng về Ngài rồi biến mất tại chỗ.
That is what that deity said, and the Teacher concurred. Then that deity, knowing that the Teacher concurred, bowed, and respectfully circled the Buddha, keeping him on his right, before vanishing right there.
AN 6.21 §3 (an6.21:3.9)
Tesaṁ vo, bhikkhave, alābhā tesaṁ dulladdhaṁ, ye vo devatāpi jānanti kusalehi dhammehi parihāyamāne.
Này các Tỷ-kheo, thật không được gì cho các Thầy, thật không khéo được gì cho các Thầy, vì rằng các Thiên nhân ấy biết được các pháp dắt dẫn các Thầy thối đọa trong các thiện pháp.
“It’s unfortunate for those of you who even the deities know are declining in skillful qualities.
AN 6.21 §4 (an6.21:4.1–4.2)
Aparepi, bhikkhave, tayo parihāniye dhamme desessāmi. Taṁ suṇātha, sādhukaṁ manasi karotha, bhāsissāmī”ti.
Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ giảng ba pháp khác đưa đến thối đọa, hãy lắng nghe và suy nghiệm kỹ, Ta sẽ nói.
I will teach you three more qualities that lead to decline. Listen and apply your mind well, I will speak.”
AN 6.21 §4 (an6.21:4.5–4.7)
“katame ca, bhikkhave, tayo parihāniyā dhammā? Saṅgaṇikārāmatā, dovacassatā, pāpamittatā—ime kho, bhikkhave, tayo parihāniyā dhammā.
Này các Tỷ-kheo, thế nào là ba pháp đưa đến thối đọa? Ưa hội chúng, ác ngôn, ác bạn hữu. Ba pháp này, này các Tỷ-kheo đưa đến thối đọa.
“And what, mendicants, are three qualities that lead to decline? Enjoyment of company, being hard to admonish, and having bad friends. These three qualities lead to decline.
AN 6.21 §5 (an6.21:5.1–5.3)
Ye hi keci, bhikkhave, atītamaddhānaṁ parihāyiṁsu kusalehi dhammehi, sabbete imeheva chahi dhammehi parihāyiṁsu kusalehi dhammehi. Yepi hi keci, bhikkhave, anāgatamaddhānaṁ parihāyissanti kusalehi dhammehi, sabbete imeheva chahi dhammehi parihāyissanti kusalehi dhammehi. Yepi hi keci, bhikkhave, etarahi parihāyanti kusalehi dhammehi, sabbete imeheva chahi dhammehi parihāyanti kusalehi dhammehī”ti.
Này các Tỷ-kheo, những ai trong quá khứ đã thối đọa trong các thiện pháp, tất cả đều vì sáu pháp này, sẽ bị thối đọa trong các thiện pháp. Này các Tỷ-kheo, những ai trong tương lai sẽ bị thối đọa trong các thiện pháp, tất cả đều vì sáu pháp này, sẽ bị thối đọa trong các thiện pháp. Này các Tỷ kheo, những ai trong hiện tại bị thối đọa trong các thiện pháp, tất cả đều vì sáu pháp này, bị thối đọa trong các thiện pháp.
Whether in the past, future, or present, all those who decline in skillful qualities do so because of these six qualities.”
Chữ PāliNghĩaGhi chú
parihāna / parihāniya dhammathối đọa; pháp đưa đến thối đọa (thối lui, sa sút trong đường tu)Bản Việt dịch là "thối đọa", bản Anh "decline".
kusalā dhammācác thiện phápĐiều bị thối đọa chính là các thiện pháp, chứ không phải hình thức bên ngoài.
kammārāmatāưa thích công việcHam làm việc lặt vặt đến quên tu tập.
bhassārāmatāưa thích nói chuyện
niddārāmatāưa thích ngủ nghỉ
saṅgaṇikārāmatāưa hội chúng (thích tụ tập đông người)
dovacassatāác ngôn — khó nói, khó dạy, không chịu nghe lời khuyên bảoBản Anh: "being hard to admonish".
pāpamittatāác bạn hữu — kết bạn xấuTrái với kalyāṇamittatā (thiện hữu tri thức).
devatāThiên nhân, chư thiên
padakkhiṇaṁ katvāthân bên hữu hướng về Ngài (đi nhiễu bên phải để tỏ lòng kính)

Xin thưa bài kinh này ngắn, mà con nghĩ đáng dán lên vách phòng đoàn quán. Sáu điều trong kinh không điều nào là tội nặngtoàn là thói quen thường ngày.

Cảnh mở đầu: Thế Tôn trú giữa dân chúng Sakka, tại Sàmagàma, gần một hồ sen. Đêm gần mãn, một Thiên nhân với dung sắc thù thắng đi đến, chói sáng toàn vùng hồ sen, đảnh lễ rồi đứng một bên.

Vị ấy bạch: “Có ba pháp này, bạch Thế Tôn, đưa đến Tỷ-kheo thối đọa”ưa thích công việc, ưa thích nói chuyện, ưa thích ngủ nghỉ.

Xin để ý Thế Tôn KHÔNG giảng lại, KHÔNG sửa — kinh chỉ ghi “Bậc Ðạo Sư chấp nhận”. Thiên nhân biết mình được chấp nhận, liền đảnh lễ, thân bên hữu hướng về Ngài rồi biến mất tại chỗ.

Sáng hôm sau, Thế Tôn thuật lại nguyên lời ấy cho chúng Tỷ-kheo — và chỗ nặng nhất của bài kinh nằm ở lời Ngài nói thêm.

“Thật không được gì cho các Thầy, thật không khéo được gì cho các Thầy, vì rằng các Thiên nhân ấy BIẾT ĐƯỢC các pháp dắt dẫn các Thầy thối đọa trong các thiện pháp.”

Xin thưa con hiểu chỗ này thế này: sự sa sút của mình đã lộ ra tới mức người ngoài cũng thấyđó là điều thiệt thòi, chẳng phải điều vinh dự. Bị người ta nhận ra mình đang xuống thì đáng hổ, chứ không đáng khoe.

Rồi chính Thế Tôn dạy thêm BA pháp nữa: ưa hội chúng (thích tụ tập đông vui), ác ngôn (khó nói, khó dạy, không chịu nghe lời khuyên bảo), và ác bạn hữu (kết bạn xấu).

Cộng lại là SÁU. Và kinh kết bằng một câu trải suốt ba đời: những ai quá khứ đã thối đọa, tương lai sẽ thối đọa, hiện tại đang thối đọa trong các thiện pháp — tất cả đều vì sáu pháp này.

Xin để ý cái bị thối đọa là “CÁC THIỆN PHÁP” (kusalā dhammā) — không phải hình thức bên ngoài, không phải y áo, không phải tiếng tăm. Cái mất là cái tốt bên trong.

Con thấy chỗ đáng sợ của sáu pháp này là chúng NHỎ và QUEN. Bận rộn, nhiều lời, ham ngủ, thích tụ tập, khó nghe lời, chọn bạn không tốtkhông cái nào giống điều ác cả.

chính vì vậy mà người ta tuột dốc lặng lẽ, không hay biết. Không ai sa sút trong một ngàyngười ta sa sút bằng những buổi sáng giống nhau.

Xin thưa lật ngược lại thì có sáu điều nên giữ: biết chừng mực trong công việc, ít nói, tỉnh thức, ưa tịnh, dễ nghe lời chỉ dạy, và thân cận thiện hữu tri thức (kalyāṇamittatā).

Xin thưa lời cuối cho anh chị em Huynh Trưởng. Con nghĩ điều thứ nhất — “ưa thích công việc” — là điều dễ bị bỏ qua nhất trong đoàn.

làm việc thì trông rất giống tu: bận rộn, có ích, ai cũng khen. Nhưng kinh vẫn kể nó vào sáu pháp thối đọakhi việc lấn hết chỗ của sự tu tập.

Còn “ác ngôn” (dovacassatā) xin hiểu cho đúng: không phải nói lời độc ác, mà là KHÓ NÓI, KHÓ DẠY — người ta góp ý thì không chịu nghe. Bản Anh dịch rất sát: “being hard to admonish”.

Xin thưa một ghi nhận về trang, không dám sửa thầm. Ô Pāli của đoạn 1.2 lúc dựng đầu cắt mất mệnh đề cuối“Ekamantaṁ ṭhitā kho sā devatā bhagavantaṁ etadavoca:” (dẫn vào lời Thiên nhân) — trong khi ô tiếng Anh vẫn giữ phần tương ứng, khiến ba cột lệch nhau. Đã chép lại cho đủ theo bản Pāli Mahāsaṅgīti.

Và một ghi nhận nữa:đoạn Thế Tôn thuật lại (an6.21:3.2–3.8), bản Anh của Bhikkhu Sujato để trống vì đã gộp thành một câu; bản Việt của HT. Minh Châu thì thuật đầy đủ. Vì vậy vài ô “anh” ngắn hơn ô “việt”chúng con để trống chứ KHÔNG tự dịch vào.

  • “Sáu pháp này là sáu tội.” Không điều nào là tội cả — toàn là thói quen thường ngày. Đó chính là chỗ nguy hiểm của chúng.
  • “Ác ngôn là nói lời độc ác.” DovacassatāKHÓ NÓI, KHÓ DẠYkhông chịu nghe lời khuyên bảo; bản Anh: “hard to admonish”.
  • “Kinh cấm làm việc.” Kinh nói ƯA THÍCH công việc (kammārāmatā) — tức ham làm đến quên tu tập, chứ không chê việc làm.
  • “Chư thiên biết được là điều hay.” Thế Tôn nói ngược lại: “thật không được gì cho các Thầy”sự sa sút lộ ra ngoài là điều thiệt thòi.
  • “Thối đọa là mất y áo, mất tiếng tăm.” Cái bị mất là CÁC THIỆN PHÁP (kusalā dhammā) — cái tốt bên trong.
  • “Thiên nhân dạy Phật.” Vị ấy trình bày, và Bậc Ðạo Sư CHẤP NHẬN; rồi chính Thế Tôn dạy thêm ba pháp nữa.
  • Ngành Oanh. Chỉ kể ba điều đầu cho dễ nhớ: ham việc, ham nói, ham ngủ — rồi hỏi “điều nào con hay mắc nhất?”
  • Ngành Thiếu. Học đủ sáu pháp, và lật ngược thành sáu điều nên giữ.
  • Ngành Thanh và Huynh Trưởng. Bàn riêng điều thứ nhất: “ưa thích công việc” — vì sao làm việc nhiều lại bị kể vào pháp thối đọa?
  • Ba pháp nào do Thiên nhân nêu ra?
  • Ba pháp nào do chính Thế Tôn dạy thêm?
  • Vì sao Thế Tôn nói “thật không được gì cho các Thầy”?
  • “Ác ngôn” trong kinh nghĩa là gì?
  • Cái bị thối đọa là cái gì?

Nguyên văn Pāli chép từ ấn bản Mahāsaṅgīti — tệp dữ liệu gốc bilara-data của suttacentral.net, từng đoạn có đánh số. Bản tiếng Việt của Hoà thượng Thích Minh Châu; bản tiếng Anh của Tỳ-kheo Sujato. Bài này đã qua một lượt soi lại độc lập. Lượt soi ấy chỉ ra 1 chỗ cần xem lại; chỗ nào là lỗi thật thì chúng tôi đã sửa và ghi rõ ở Phần IV. Muốn đọc trọn bài kinh, xin xem nguyên văn ba thứ tiếng. Thấy chỗ nào khác ấn bản in, xin báo cho chúng tôi.